CHƯƠNG 1: Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG TỪ KHAI THÁC, CHẾ BIẾN KHOÁNG SẢN VÀ PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ CHẤT THẢI KHAI KHOÁNG TRONG ĐẤT 1. Khai thác và chế biến khoáng sản ở Việt Nam 1. Ngành khai thác khoáng sản Việt Nam là nước có nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú, đa dạng và đó là nguồn nguyên liệu tiềm năng quý hiếm của quốc gia. Kết quả điều tra địa chất đã phát hiện hàng nghìn mỏ và điểm quặng với các loại khoáng sản khác nhau (kim loại màu, kim loại quý hiếm, vật liệu khoáng, đá quý, than, dầu.
Trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta hiện nay, ngành khai khoáng có một vị trí đặc biệt quan trọng. Đứng đầu trong chuỗi giá trị sản xuất, ngành khoáng sản cung cấp đầu vào cho rất nhiều ngành công nghiệp sản xuất, chế tạo và xây dựng. Ngoài dầu thô và khí tự nhiên, các khoáng sản rắn là nhu cầu không thể thiếu cho sự phát triển của các ngành công nghiệp khác trong nền kinh tế quốc dân. Do đó, sự phát triển của nền kinh tế thế giới nói chung và của nền kinh tế Việt Nam nói riêng sẽ tạo ra sức cầu quan trọng, tiêu thụ các sản phẩm của ngành [3].
Điều kiện địa chất Việt Nam phức tạp tạo nên một nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú, đa dạng. Như đã đề cập ở trên, thống kê điều tra địa chất, trên lãnh thổ Việt Nam đã phát hiện được trên 50 trong số 66 loại khoáng sản phổ biến nhất trong vỏ trái đất với khoảng hơn 5.000 mỏ và điểm quặng với 60 loại khoáng sản khác nhau. Có thể kể đến các loại khoáng sản như: dầu khí với trữ lượng dầu đã được phát hiện vào khoảng 1,7 tỷ tấn và khí đốt vào khoảng 835 tỷ m3; than vớisản lượng than khai 6 thác đạt khoảng 15 triệu tấn; sắt có khoảng 300 mỏ khai thác; cát thủy tinh có tổng trữ lượng 750 triệu tấn; đá xây dựng với tổng trữ lượng 41. Các doanh nghiệp khai khoáng hiện nay tập trung vào một số khoáng sản chính như sắt, titan, mangan, vàng, chì-kẽm, đồng, đá, sét… Trữ lượng thăm dò của các loại khoáng sản này cũng tương đối phong phú, có thể khai thác hàng chục năm.
Ngoài ra, trữ lượng dự báo của nhiều loại khoáng chất lớn gấp nhiều lần trữ lượng thăm dò, nên việc tiếp tục thăm dò mở rộng còn nhiều tiềm năng (bảng 1. Trữ lượng một số loại khoáng sản ở Việt Nam (Đơn vị: tấn) Tên khoáng sản Trữ lượng thăm dò Trữ lượng dự báo Sắt 1,1 tỷ 1,8 tỷ Titan 12,5 triệu 19 – 22 triệu Mangan 1,8 triệu 7- 8 triệu Vàng 300 1,8 nghìn Chì – Kẽm 7,8 triệu 21 triệu Đồng 1,2 triệu 5,4 triệu Đá vôi 1,754 tỷ Sét 2,93 tỷ 1. Hiện trạng khai thác và chế biến một số khoáng sản Với tiềm năng khoáng sản phong phú nên ngành khai thác phát triển vơi nhiều nhóm khoáng sản được khai thác khác nhau. Nhóm khoáng sản năng lượng bao gồm dầu khí, than khoáng, urani.
Dầu khí có tiềm năng khoảng 4,300 tỷ tấn, trong đó trữ lượng phát hiện là 7 1,208 tỷ tấn và trữ lượng dầu khí có khả năng thương mại là 814,7 triệu tấn. Với sản lượng khai thác dầu khí hàng năm, hiện nay Việt Nam đứng hàng thứ ba ở Đông Nam Á. Nước ta có tiềm năng về than khoáng các loại, tập trung vào ba loại chính: than biến chất thấp, than biến chất trung bình, than biến chất cao. Bể than Quảng Ninh là lớn nhất với trữ lượng đạt trên 3 tỷ tấn và đã được khai thác từ hơn 100 năm nay phục vụ cho các nhu cầu trong nước và xuất khẩu.
Các nhà khoa học địa chất đã phát hiện nhiều tụ khoáng urani ở Bắc Bộ, Trung Trung Bộ và Tây Nguyên. Tổng tài nguyên urani ở Việt Nam được dự báo trên 218.000 tấn U 3 O 8 và đây có thể là nguồn nguyên liệu khoáng cho các nhà máy điện hạt nhân trong tương lai. Nhóm khoáng sản kim loại tại Việt Nam có nhiều loại như sắt, mangan, crôm, titan, đồng, chì, kẽm, cobalt, nickel, nhôm, thiếc, vonfram, vàng, bạc, platin, v. Trong số khoáng sản kim loại kể trên có các loại có tài nguyên dự báo lớn tầm cỡ thế giới như bôxit (quặng nhôm), titan…Quặng sắt hiện nay đã phát hiện và khoanh định được trên 216 vị trí, có 13 mỏ trữ lượng trên 2x106 tấn, phân bố không đều, tập trung chủ yếu ở vùng núi phía Bắc.
Bôxit thì phân bố chủ yếu ở tỉnh Đắc Nông, Lâm Đồng, Gia Lai, Bình Phước…, với trữ lượng tài nguyên lớn, chất lượng tương đối tốt, phân bố tập trung, điều kiện khai thác thuận lợi. Quặng titan của Việt Nam không nhiều, chiếm khoảng 0,5% của thế giới. Do thuận lợi về mặt tài nguyên, công nghệ và thiết bị đơn giản và có thể tự chế tạo trong nước, vốn đầu tư không lớn, có thị trường, lợi nhuận cao cho nên khai thác, chế biến và xuất khẩu quặng titan nước ta vẫn đang ở mức đang phát triển. Quặng thiếc ở nước ta được khai thác sớm nhất tại vùng Pia Oắc – Cao Bằng, trong đó mỏ thiếc Tĩnh Túc là mỏ thiếc lớn đầu tiên khai thác, chế biến có quy mô công nghiệp.
Hiện nay, công nghệ luyện thiếc bằng lò điện hồ quang do Viện Nghiên cứu Mỏ và Luyện kim nghiên cứu thành công và 8 chuyển giao, ứng dụng vào sản xuất đã đạt được những chỉ tiêu kĩ thuật tiên tiến. Quặng kẽm – chì đã được phát hiện và khai thác, chế biến từ hàng trăm năm nay. Hiện nay, công ty Kim loại mầu Thái Nguyên đã xây dựng xong nhà máy điện phân kẽm kim loại tại khu Công nghiệp Sông Công Thái Nguyên với công nghệ, thiết bị của Trung Quốc công suất kẽm điện phân là: 10. Trên cơ sở nắm chắc tài nguyên và dựa vào kết quả thăm dò trong các năm 2008-2010, Tổng công ty khoáng sản Việt Nam sẽ tiến hành đầu tư khai thác và tuyển các mỏ kẽm – chì Nông Tiến – Tràng Đà, Thượng ấn, Cúc Đường, Ba Bồ…Nếu tài nguyên cho phép sau khi đã thăm dò nâng cấp trữ lượng, thì dự kiến đến năm 2010, sản lượng kẽm thỏi sẽ đạt 20.000 tấn/năm và khoảng 10.000 tấn chì thỏi/năm, đưa tổng thu nhập lên 35 triệu USD/năm.
Nhóm khoáng chất công nghiệp nước ta cũng đa dạng về chủng loại như apatit, phosphorit, than bùn, sét gốm sứ, dolomit, pyrophylit, diatomit, bentonit và thạch anh tinh thể…. Các khoáng chất công nghiệp ở Việt Nam đã được đánh giá và nhiều mỏ đã được khai thác phục vụ cho các ngành nông, công nghiệp. Các mỏ vật liệu xây dựng đã và đang được khai thác phục vụ cho công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế của đất nước. Công nghệ khai thác và chế biến khoáng sản ở Việt Nam Với chiến lược phát triển ngành khai khoáng bền vững cũng như ưu tiên cho công tác tìm kiếm thăm dò phát hiện nguồn tài nguyên mới, tận thu nguồn tài nguyên trong quá trình khai thác, đồng thời thực hiện khai thác đi đôi với công tác bảo vệ môi trường, hiện nay công nghệ khai thác và chế biến khoáng sản ở nước ta có bước phát triển tiến bộ rõ rệt.
Việc áp dụng công nghệ khai thác tiên tiến nhất đã được quan tâm đầu tư áp dụng đem lại 9 hiệu quả cao trong khai thác và chế biến khoáng sản, bao gồm có hai phần: phần tuyển quặng và hòa tách quặng a) Phần tuyển quặng Công nghệ được lựa chọn là sử dụng kết hợp tuyển trọng lực bằng máy lắng phân cấp và tuyển nổi. Tuyển trọng lực: quặng khai thác từ hầm lò được vận chuyển về xưởng tuyển. Tại đây quặng được đưa vào máy đập hàm, đập đến cỡ hạt ≤ 15 mm. Sau đó được đưa vào máy nghiền bi cùng lúc với việc cung cấp vôi tạo độ pH thích hợp cho quá trình tuyển nổi.
Dung dịch bùn quặng sau khi qua máy nghiền bi được đưa vào máy lắng phân cấp. Phần sản phẩm nặng trong đó là các thành phần kim loại và hợp kim được tách ra từ máy phân cấp, tiếp tục được đưa qua tuyển trọng lực bằng bàn đãi lắc. Quy trình tuyển nổi: bùn khoáng và thuốc tuyển được cấp vào thùng khuấy, được khuấy mạnh với tốc độ quay của bánh khuấy máy tuyển nổi. Nhanh chóng mở van cho không khí vào máy và điều chỉnh lượng không khí đó, đồng thời điều chỉnh chiều cao mức nước trong ngăn máy và tiến hành đo độ pH, nhiệt độ bùn quặng.
Sau một thời gian ngắn, lớp bọt bóng khoáng hóa sẽ hình thành trên mặt thoáng của bùn quặng. Căn cứ thời gian tuyển định sẵn mà tiến hành gạt và thu hồi trong bể chứa. Phần hỗn hợp bùn quặng nặng nằm dưới đáy được chuyển qua công đoạn tuyển trọng lực để thu hồi bột kim loại. b) Công nghệ hòa tách Hiện nay công nghệ hòa tách kim loại ở Việt Nam nói chung và địa phương nói riêng, đặc biệt là đối với người dân làm không có giấy phép đang rất lạc hậu.
Chất thải sau khi hòa tách thải ra môi trường cực kỳ độc 10 hại. Để khắc phục điều này, phương án hòa tách mới kết hợp với việc tận thu một số các kim loại khác để tận thu tài nguyên, tiết kiệm nguyên nhiên liệu, bảo đảm an toàn lao động. Toàn bộ qui trình khép kín, và dung dịch sau cùng sau khi thải ra sẽ được tái sử dụng trong quá trình hòa tách vì vậy sẽ không ô nhiễm môi trường, đảm bảo sức khỏe cộng đồng và thân thiện với môi trường. Ô nhiễm điển hình do khai thác và chế biến khoáng sản Hoạt động khai thác khoáng sản ở nước ta đã và đang gây nhiều tác động xấu đến môi trường xung quanh.
Biểu hiện rõ nét nhất là sử dụng thiếu hiệu quả các nguồn khoáng sản tự nhiên tác động trực tiếp đến cảnh quan và hình thái môi trường, việc tích tụ hoặc phát tán chất thải gây ô nhiễm đất, nước. Những hoạt động này đang phá vỡ cân bằng hệ sinh thái đã được hình thành từ hàng chục triệu năm, gây ô nhiễm nặng nề đối với môi trường, trở thành vấn đề cấp bách mang tính chính trị và xã hội của cộng đồng một cách sâu sắc. Tác động môi trường của hoạt động khai khoáng là vô cùng lớn như: xói mòn, sụt đất, mất đa dạng sinh học, ô nhiễm đất, nước ngầm, nước mặt do hóa chất từ chế biến quặng.