CHƯƠNG I: TỔNG QUAN CÁC ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN – HIỆN TRẠNG MẠNG LƯỚI GIAO THÔNG TỈNH GIA LAI 1. Giới thiệu chung về các điều kiện tự nhiên tỉnh Gia Lai 1. Địa hình: Gia Lai là một tỉnh miền núi, biên giới nằm ở phía Bắc Tây Nguyên với diện tích tự nhiên 15.536,9 km2, có toạ độ địa lý từ 120 58'20'' đến 140 36'30'' độ vĩ bắc, từ 1070 27'23'' đến 1080 54'40'' độ kinh đông, phía Bắc giáp tỉnh Kon Tum, phía Nam giáp tỉnh Đăk Lăk, phía Tây giáp Campuchia, với 90km đường biên giới quốc gia, phía Đông giáp các tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định và Phú Yên. Tỉnh có trục quốc lộ 14 nối với tỉnh Quảng Nam và các tỉnh Tây Nguyên, Đông Nam Bộ; trục quốc lộ 19 phía Đông nối với các tỉnh các tỉnh duyên hải miền Trung, phía Tây qua cửa khẩu quốc tế Lệ Thanh nối sang Campuchia, từ Quy Nhơn đi Pleiku và sang các tỉnh Đông Bắc Campuchia; quốc lộ 25 nối Gia Lai với Phú Yên.
Gia Lai có độ cao trung bình 700m so với mực nước biển, có dãy Trường Sơn hùng vĩ chia Gia Lai thành 2 vùng Đông Trường Sơn (các huyện Krông pa, thị xã Ayun Pa, huyện Phú Thiện, huyện Iapa, Kông Chro, Đăk Pơ, thị xã An Khê, Kbang) và Tây Trường Sơn (các huyện Đăk Đoa, Mang Yang, Chư Păh, Ia Grai, Đức Cơ, Chư Sê, Chư Prông, TP.Pleiku) với khí hậu, thổ nhưỡng khác nhau tạo nên sự đa dạng, độc đáo của một tỉnh cao nguyên. Địa hình thấp dần từ Bắc xuống Nam và nghiêng từ Đông sang Tây, chia thành 3 dạng chính: địa hình vùng đồi núi, địa hình vùng cao nguyên, địa hình vùng trung du và đồng bằng. Vùng núi chiếm 2/5 diện tích tự nhiên toàn tỉnh, mang kiểu phân cắt mạch như dãy An Khê, Ngọc Linh, Chư Dù, có diện tích là 6.909 km2, có đỉnh cao nhất cao trên 2. Vùng cao nguyên có diện tích 5.800 km2: cao nguyên Kon Hà Nừng có diện tích 1.250 km2, kiểu đất Bazan cổ với nền đất chính là Feranít nâu đỏ.
cao nguyên Pleiku có diện tích 4.550 km2 nền đất đồng nhất là đá đỏ Bazan dạng vòm bất đối xứng. Vùng trung du và đồng bằng chiếm 3/5 diện tích tự nhiên toàn tỉnh. Vùng trũng gồm vùng An Khê và vùng Cheo Reo, Phú Túc có diện tích 2.786 km2, đất trong vùng gồm 2 nhóm vàng xám trên đá mắc ma axít và phù sa có độ cao trung bình 200 đến 300 m. Điểm cao nhất 2.023 m; điểm thấp nhất 200 m; độ cao trung bình là 500 m so với mặt nước biển.
Khu vực có địa chất đất đỏ Bazan tương đối ổn định gồm các vùng thuộc Tây Trường Sơn như thành phố Pleiku và các huyện Mang Yang, Đăk Đoa, Chư Păh, Ia Grai, Chư Prông, Chư Sê, Đức Cơ. Khu vực có địa chất là cát pha, sét pha, điều kiện thuỷ văn phức tạp gồm các vùng thuộc Đông Trường Sơn như thị xã An Khê, thị xã Ayun Pa, huyện Đăk Pơ, KBang, Kông Chro, Ia Pa, Phú Thiện, Krông Pa. Học viên: Cao Nguyễn Tường Sơn - Lớp Cao học Xây dựng đường ô tô và đường thành phố K16 Trang 5 LUẬN VĂN THẠC SỸ KỸ THUẬT KHOA SAU ĐẠI HỌC CHUYÊN NGÀNH: XÂY DỰNG ĐƯỜNG Ô TÔ VÀ ĐƯỜNG THÀNH PHỐ BỘ MÔN ĐƯỜNG BỘ Qua những đặc điểm về địa hình chủ yếu là đồi dốc và núi cao nên rất khó khăn trong việc mở mang hệ thống giao thông xây dựng cơ sở hạ tầng nhưng bù lại nền địa chất chủ yếu là kiểu đất Bazan cổ với nền đất chính là Feranít nâu đỏ nên rất thuận lợi cho việc xây dựng công trình và ổn định nền đường.Đặc điểm về khí hậu: Gia Lai thuộc tiểu vùng khí hậu Bắc Tây Nguyên, có khí hậu nhiệt đới gió mùa của phía Nam Việt Nam lại mang tính chất của khí hậu Tây Nguyên với những đặc trưng chính sau: 1.1 Nhiệt độ: Nhiệt độ biến thiên rõ rệt theo độ cao địa hình; nhiệt độ trung bình trong các thung lũng và vùng trũng dưới 300m vào khoảng 24,5-25,0oC; ở độ cao 500-600m là 23-24oC; ở độ cao 500-1000m là 20-23oC; ở độ cao 1500m là 18-19oC. Tháng lạnh nhất phần nhiều là tháng 12, nhiệt độ trung bình vào khoảng 21-22oC vùng thấp dưới 500m, 18-19oC ở 800-1000m, 16oC ở 1500m.
Do vậy với 1000m trở lên ở Tây Nguyên mới gọi là có mùa đông lạnh, còn ở 500-600m mùa đông vẫn chỉ là mát. Các đặc trưng Số liệu Nhiệt độ trung bình năm 23,7 Nhiệt độ trung bình tháng cao nhất 25,5 (IV) Nhiệt độ tối cao trung bình tháng cao nhất 33,3 (IV) Nhiệt độ trung bình tháng thấp nhất 20,7 (XII) Nhiệt độ tối thấp trung bình tháng cao nhất 13,6 (I) Nhiệt độ tối cao tuyệt đối 39,8 Nhiệt độ tối thấp tuyệt đối 3,8 Biên độ năm trung bình 4,8 Biên độ ngày trung bình 11,1 1.2 Mưa: Khu vực Bắc Tây Nguyên, lượng mưa năm vượt quá 2400mm trên khối núi Gia Lai Thượng, và vào cỡ 2000-2400mm trên đại bộ phận Gia Lai. Tuy nhiên ở những khu vực tương đối trũng (thung lũng các suối), lượng mưa có thể giảm sút tới mức 1600-1800mm/năm. Số ngày mưa hằng năm ở đây vào khoảng 130-150 ngày Các đặc trưng Số liệu Nhiệt độ trung bình năm (mm) 1852 Số ngày mưa trung bình năm 132 Lượng mưa trung bình tháng lớn nhất (mm) 353 Số ngày mưa trung bình tháng lớn nhất (VIII) Lương mưa trung bình tháng nhỏ nhất (mm) 24 (VIII) Học viên: Cao Nguyễn Tường Sơn - Lớp Cao học Xây dựng đường ô tô và đường thành phố K16 Trang 6 LUẬN VĂN THẠC SỸ KỸ THUẬT KHOA SAU ĐẠI HỌC CHUYÊN NGÀNH: XÂY DỰNG ĐƯỜNG Ô TÔ VÀ ĐƯỜNG THÀNH PHỐ BỘ MÔN ĐƯỜNG BỘ Lượng mưa trung bình tháng nhỏ nhất (mm) 3 (I) Số ngày mưa trung bình tháng nhỏ nhất 1(I) Số ngày mưa trên 50mm 3 Số ngày mưa trên 100mm 0,4 Lượng mưa ngày cực đại 170 Lượng mưa tháng cực đại 635 Lượng mưa năm cực đại 2693 Lượng mưa năm cực tiểu 1514 - Mùa mưa bắt đầu từ tháng 4, kết thúc vào tháng 11.
Trong mùa mưa, lượng mưa phân phối khá đều qua các tháng. Số ngày mưa khoảng 20-25 ngày/tháng. Thời kỳ mưa kéo dài tháng 12 đến tháng 3 (có nơi tháng 4), tháng ít mưa nhất là tháng 1 hay tháng 2, lượng mưa trung bình cũng vào khoảng 10-20mm ở những nơi ít mưa, 40-50mm ở những nơi nhiều mưa. Các tháng khác, lượng mưa trung bình vào khoảng 20-30mm đến 50-70mm.3 Độ ẩm: Độ ẩm thay đổi khá nhiều trên địa hình núi phức tạp.
Trung bình năm, độ ẩm vào khoảng 80-85% tùy nơi. Thời kỳ ẩm trùng với mùa mưa, kéo dài từ tháng 5- 10 có độ ẩm trung bình vượt quá 85% trên đại bộ phận vùng. Thời kỳ khô trùng với mùa ít mưa, từ tháng 11-6, trong đó có 4 tháng khô hơn, là từ tháng 1-4, có độ ẩm dưới 80% ở những nơi ẩm, dưới 75% ở những nơi khô. Các đặc trưng Số liệu Độ ẩm trung bình năm (%) 77 Độ ẩm trung bình tháng cao nhất 85 (9) Độ ẩm trung bình tháng thấp nhất 67 (3) Độ ẩm thấp tuyệt đối 11 Lượng mây trung bình năm 4,7 Lượng mây trung bình tháng lớn nhất 6,8 (8) Lượng mây trung bình tháng nhỏ nhất 2,4 (1) 1.Đặc điểm thủy văn: Theo điều kiện địa hình, khí hậu, thời tiết thì hệ thống sông suối của khu vực có đặc điểm về mùa mưa, nước chảy nhanh và cuốn theo nhiều cỏ rác (do bề mặt lưu vực người dân canh tác hoa màu nhiều); về mùa khô mực nước các sông suối đều xuống thấp.
Mùa mưa lũ trong khu vực thường bắt đầu vào tháng 4 và kết thúc vào tháng 11. Tổng lượng nước trong mùa lũ chiếm 70-75% cả năm. Mùa khô từ tháng 11- 4 Học viên: Cao Nguyễn Tường Sơn - Lớp Cao học Xây dựng đường ô tô và đường thành phố K16 Trang 7 LUẬN VĂN THẠC SỸ KỸ THUẬT KHOA SAU ĐẠI HỌC CHUYÊN NGÀNH: XÂY DỰNG ĐƯỜNG Ô TÔ VÀ ĐƯỜNG THÀNH PHỐ BỘ MÔN ĐƯỜNG BỘ năm sau, nước chỉ chảy trong các khe nhỏ. Tổng lượng nước mùa cạn chỉ chiếm khoảng 25-30% cả năm.
Một số đoạn tuyến đi trên đường phân thủy, không cắt qua khe suối nào nên công trình thoát nước ít, chủ yếu là cống cấu tạo. Một số đoạn tuyến nằm trong vùng ngập của các lòng hồ thủy điện cũng phải được thiết kế với cao trình vượt mực nước dâng bình thường.Đặc điểm về địa chất: Chia làm hai khu vực điển hình : * Khu vực có địa chất đất đỏ Bazan tương đối ổn định gồm các vùng thuộc Tây Trường Sơn như thành phố Pleiku và các huyện Mang Yang, Đăk Đoa, Chư Păh, Ia Grai, Chư Prông, Chư Sê, Đức Cơ.Với địa tầng đất đỏ bazan ở độ cao khoảng 500 m đến 700 m so với mặt biển … đây là những vùng đặc trưng của tầng phủ đất đỏ banzan được hình thành trong quá trình phong hóa mãnh liệt của sản phẩm phun trào núi lửa. Do quá trình chênh lệch nhiệt độ giữa ngày và đêm, lượng mưa trung bình trong năm lớn. Dựa vào một số hồ sơ nghiên cứu cột địa tầng có kết cấu như sau : - Đất sét màu nâu đỏ ( Đất đỏ bazan ) tầng dày thay đổi 5-40m - Đất sét lẫn sạn sỏi laterít kết vón tầng dày thay đổi 2-5m - Đất sét màu xám vàng lẫn đá bazan phong hóa bóc võ tầng dày thay đổi 5- 10m - Đá bazan lỗ hỏng đến đặc sít màu xám đen tầng dày thay đổi 10-40m * Khu vực có địa chất là cát pha, sét pha, điều kiện thuỷ văn phức tạp gồm các vùng thuộc Đông Trường Sơn như thị xã An Khê, thị xã Ayun Pa, huyện Đăk Pơ, KBang, Kông Chro, Ia Pa, Phú Thiện, Krông Pa.
Dựa vào một số hồ sơ nghiên cứu cột địa tầng có kết cấu như sau : - Cuội kết, sạn kết chuyển lên cát kết xen cuội kết hạt nhỏ màu xám trắng. Chiều dày thay đổi từ 2 đến 28 m. - Sét kết màu nâu giàu Diatomeae, sét diatomit-trepel, bột kết màu xám xanh, xanh đen hoặc nâu đen xen các vỉa than nâu dày 0,4-2,6m - Cát sạn kết màu xám tro, xám xanh xen các lớp cát bột kết, sét bột kết, chứa Bào tử phấn hoa. Chiều dày thay đổi từ 9 đến 18 m.Vật liệu xây dựng: Gia Lai với đặc điểm địa hình đồi núi chiếm đến hơn 70% diện tích, địa chất phức tạp, đa dạng.
Hiện nay, do điều kiện kinh tế- xã hội còn kém phát triển, lưu lượng xe nhỏ, ít nên các tuyến đường được xây dựng với kết cấu chủ yếu là cấp phối tự nhiên và đường đất.