phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm có 3 chương: Chƣơng 1: Những vấn đề cơ bản về huy động vốn của ngân hàng thương mại. Chƣơng 2: Thực trạng huy động vốn của Agribank Chi nhánh tỉnh Nghệ An. Chƣơng 3: Phương hướng và giải pháp đẩy mạnh huy động vốn của Agribank Chi nhánh tỉnh Nghệ An 5 CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.Một số vấn đề về vốn của NHTM Ngân hàng Thương mại là một tổ chức kinh doanh tiền tệ và cung ứng các dịch vụ tài chính cho nền kinh tế, là một trong số những định chế tài chính của nền kinh tế có vai trò quan trọng, thực hiện chức năng là kênh dẫn vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu. NHTM thực hiện đồng thời ba nghiệp vụ chính đó là : Nghiệp vụ tài sản Nợ (nghiệp vụ huy động vốn), nghiệp vụ tài sản Có (nghiệp vụ sử dụng vốn) và nghiệp vụ trung gian.
Quan niệm về vốn của NHTM: Theo quan niệm về vốn của các nhà kinh tế học cổ điển và của Mác có thể hiểu vốn theo hai nghĩa: Vốn được hiểu theo nghĩa hẹp là tiềm lực tài chính của mỗi cá nhân, mỗi doanh nghiệp và mỗi quốc gia. Vốn được hiểu theo nghĩa rộng là toàn bộ những tài sản tồn tại dưới tất cả các hình thái mà một xã hội, một quốc gia có được ở một thời điểm hay một thời kỳ nhất định có thể chi phối và sử dụng cho công việc xây dựng, phát triển đất nước, hoạt động của doanh nghiệp và nhu cầu của hộ gia đình. Trong nền kinh tế thị trường Vốn được hiểu một cách đầy đủ, được nhận thức một cách hoàn chỉnh hơn. Nó được thể hiện ở chỗ cho rằng: Vốn là một phạm trù rộng lớn bao gồm tiền tệ, vật tư, tài sản, nguồn lực, tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý và nhiều vốn hữu hình hay vốn vô hình khác như: Phát minh, sáng chế bản quyền kinh doanh, trình độ công nhân… Như vậy vốn là nhân tố đầu vào, đồng thời là kết quả đầu ra trong quá trình hoạt động của quá trình hoạt động kinh tế.
Vốn kinh doanh của NHTM có hai điểm khác với vốn của các loại hình kinh doanh khác đó là: 6 Một là, vốn là những giá trị tiền tệ do NHTM tạo lập thông qua huy động, đi vay để cho vay, đầu tư hoặc thực hiện các dịch vụ kinh doanh khác. Hai là, thực chất vốn của NHTM là một bộ phận thu nhập quốc dân tạm thời nhàn rỗi trong quá trình sản xuất, kinh doanh, phân phối, tiêu dùng, mà người chủ sở hữu gửi chúng vào ngân hàng với những mục đích khác nhau, họ có quyền sở hữu, còn quyền sử dụng vốn tiền tệ họ chuyển nhượng cho ngân hàng. Ngân hàng nhận quyền sử dụng vốn và phải trả cho người sở hữu vốn một khoản phí. Như vậy, NHTM đã thể hiện vai trò tổ chức, thực hiện tập trung và phân phối nguồn vốn theo hình thức lưu chuyển tiền tệ, làm tăng nhanh quá trình luân chuyển vốn, hỗ trợ kích thích mọi hoạt động kinh tế phát triển.
Đồng thời, chính các hoạt động đó lại là nhân tố quyết định đến việc tồn tại, phát triển hoạt động kinh doanh của NHTM. Phân loại vốn của NHTM 1. Vốn chủ sở hữu Vốn chủ sở hữu gồm: Vốn tự có và vốn coi như tự có -Vốn tự có: gồm vốn điều lệ và quỹ dự trữ (quỹ dự trữ để bổ sung vốn điều lệ và Quỹ dự phòng rủi ro). Vốn điều lệ: Là khoản vốn thuộc sở hữu của ngân hàng, ghi trong bản điều lệ của ngân hàng, được hình thành ngay từ khi NHTM được thành lập.
Gọi là vốn điều lệ vì vốn này được ghi rõ trong điều lệ hoạt động của ngân hàng. Vốn điều lệ có thể được điều chỉnh tăng lên trong quá trình hoạt động của ngân hàng Vốn điều lệ có thể do nhà nước cấp nếu đó là NHTM nhà nước, có thể là vốn đóng góp của cổ đông nếu là NHTM cổ phần Quỹ dự trữ: Được hình thành từ 2 quỹ là quỹ dự trữ để bổ sung vốn điều lệ và quỹ dự trữ đặc biệt để bù đắp rủi ro. Các quỹ này được trích từ lợi nhuận ròng hàng năm của ngân hàng. Việc hình thành quỹ này nhằm tăng vốn tự có của ngân hàng, đồng thời đảm bảo an toàn trong kinh doanh -Vốn coi như tự có gồm: Các khoản vốn tạm thời nhàn rỗi của ngân hàng.
Đây là những khoản vốn đã được phân bổ cho những mục đích chỉ tiêu nhất định nhưng 7 tạm thời chưa được sử dụng. Ví dụ: Lợi nhuận chờ phân bổ, tiền lương chưa đến hạn thanh toán, các quỹ (quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi, quỹ khấu hao tài sản cố định… 1. Vốn huy động Vốn huy động là nguồn vốn quan trọng nhất, mang tính chủ lực trong số vốn thu hút từ bên ngoài của các NHTM. Vốn huy động của NHTM chủ yếu là: tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm.
Tiền gửi không kỳ hạn: Là loại tiền mà đối tượng gửi tiền có thể gửi thêm tiền vào hoặc rút tiền ra khỏi tài khoản bất cứ lúc nào. Do tính chất có thể rút ra bất cứ lúc nào nên loại tiền gửi này thường chỉ được hưởng lãi suất rất thấp nhưng người gửi được sử dụng các dịch vụ thanh toán qua ngân hàng. Với loại tiền này, đối tượng tham gia gửi không nhằm mục đích hưởng lãi mà chủ yếu nhằm đảm bảo an toàn cho khoản tiền và thực hiện các hoạt động thanh toán qua ngân hàng. Do vậy, loại tiền này còn được gọi là tiền gửi thanh toán.
Tiền gửi có kỳ hạn: Là loại tiền gửi mà đối tượng tham gia gửi chỉ được rút tiền ra sau khi lựa chọn một thời hạn nhất định theo quy định từng kỳ hạn của ngân hàng. Thời hạn đó có thể là tuần, tháng hay năm…Mục định chính của những người gửi tiền loại này để được sinh lời thêm tiền lãi từ nguồn tiền gửi vào ngân hàng. Tiền gửi có kỳ hạn chủ yếu có 02 dạng: Tiền gửi có kỳ hạn đối với tài khoản và tiền gửi có kỳ hạn với hình thức phát hành kỳ phiếu ngân hàng. Kỳ phiếu ngân hàng có 02 phương thức được phát hành: - Phát hành theo hình thức mệnh giá (Người mua được hưởng lãi khi đến hạn) - Phát hành dưới hình thức chiết khấu (người mua được hưởng lãi trước) Tiền gửi tiết kiệm: Là khoản tiền để dành của cá nhân được gửi vào ngân hàng nhằm mục đích hưởng lãi theo định kỳ.
Hình thức cổ điển nhất và phổ biến nhất là loại tiền gửi tiết kiệm có sổ. Khi gửi tiền, ngân hàng cấp cho người gửi một thẻ gửi tiền dạng như cuốn sổ, dùng để cập nhật các thông tin về các khoản tiền gửi vào và rút ra. Tiền gửi tiết kiệm có những hình thức khác như chứng chỉ tiết kiệm, trái phiếu tiết kiệm. Tiền gửi tiết kiệm gồm ba loại sau: Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn, Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm có mục đích.
8 Tiền gửi có kỳ hạn và tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn luôn luôn được đánh giá là nguồn vốn quan trọng, có vai trò mang tính chủ lực và chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng số nguồn vốn, là nguồn vốn chủ yếu trong hoạt động kinh doanh, lĩnh vực đầu tư sử dụng vốn của NHTM. Nguồn vốn huy động này sẽ tạo tính ổn định tương đối cho ngân hàng bởi vì nắm được kỳ hạn luân chuyển của vốn. Vì vậy, ngân hàng có thể dừng nguồn vốn này cho vay ngắn hạn, trung hạn hoặc dài hạn. Vốn đi vay Để duy trì, phát triển hoạt động kinh doanh, ngân hàng có thể vay vốn từ NHTW, vay từ các TCTD khác, vay từ các công ty, vay từ thị trường tài chính trong nước, ngoài nước.
Thứ nhất là vay từ NHTW: Bất kỳ NHTM nào khi được NHTW cho phép thành lập hoạt động đều hưởng quyền vay tiền tại NHTW trong trường hợp thiếu hụt dự trữ hay thiếu tiền mặt. NHTW cấp tín dụng cho các NHTM chủ yếu dưới hai hình thức đó là: Chiết khấu hay tái chiết khấu các chứng từ có giá và cho vay thế chấp hay ứng trước. Thứ hai là vay từ các TCTD khác: Mục đích chính của loại vay này nhằm đảm bảo dự trữ bắt buộc theo quy định của NHTW. Thời hạn của loại cho vay này rất ngắn thường không quá một tuần.
Thứ ba là vay từ các công ty: Các NHTM có thể vay trực tiếp từ các công ty bằng các hình thức như vay ngắn hạn bằng các hợp đồng mua lại hoặc vay từ công ty mẹ Thứ tư là vay từ thị trường tài chính trong nước: Các NHTM có thể vay từ thị trường tài chính trong nước thong qua phát hành các chứng từ có giá như: Chứng chỉ tiền gửi có khả năng chuyển nhượng và trái phiếu ngân hàng Thứ năm là vay nước ngoài: Các NHTM cũng có thể tìm kiếm nguồn vốn hoạt động từ việc phát hành phiếu nợ để vay tiền ở nước ngoài 1. Các nguồn vốn khác Các nguồn vốn khác gồm: Vốn tài trợ, vốn đầu tư phát triển, vốn UTĐT, vốn hình thành trong quá trình hoạt động của ngân hàng (ví dụ: tiền gửi của các ngân hàng khác nhờ thanh toán hộ, tiền kỹ quỹ của khách…). Huy động vốn của NHTM 1.Quan niệm và sự cần thiết huy động vốn của NHTM 1.Quan niệm về huy động vốn của NHTM Huy động vốn của NHTM là quá trình NHTM thông qua các công cụ, cách thức, phương pháp và chương trình cụ thể nhằm thu hút sự chú ý của các cá nhân, các tổ chức và từ đó gửi tiền vào ngân hàng theo nguyên tắc cả hai bên đều có lợi. Vốn huy động là một bộ phận tài sản nợ của NHTM được hình thành từ những nguồn vốn nhàn rỗi của các chủ thể trong nền kinh tế, nó bao gồm nguồn vốn tiền gửi và nguồn vốn phi tiền gửi (nguồn vốn đi vay).
Nguồn vốn huy động ngân hàng thương mại: Vốn huy động là một bộ phận tài sản nợ của NHTM được hình thành từ những nguồn vốn thặng dư của các chủ thể trong nền kinh tế, nó bao gồm nguồn vốn tiền gửi và nguồn vốn phi tiền gửi (nguồn vốn đi vay). Tài sản nợ của NHTM bao gồm vốn tự có và vốn huy động, trong đó vốn huy động chiếm tỷ lệ lớn (khoảng 90% trong tổng nguồn vốn) và là nguồn vốn giữ vai trò quan trọng của NHTM trong hoạt động kinh doanh.