Chương 1 MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE HOP DONG DICH VU PHAT SONG QUANG CAO 1. Khái niệm, đặc điểm của hợp đồng dich vu 1. Khái niệm hợp đồng dịch vụ Trong cơ cấu của nền kinh tế quốc gia, dịch vụ thường được xem là hoạt động kinh tẾ - xã hội, có tạo ra giá trị mà không nằm trong lĩnh vực nông — lâm — ngư nghiệp, công nghiệp — xây dựng co bản. Với vai trò thúc đây các ngành sản xuất vật chất phát triển, tạo sự chuyên dịch trong cơ cau nền kinh tế, dịch vụ được hiểu là hoạt động của con người nhằm thực hiện công việc nhất định đáp ứng các nhu cầu của chủ thể trong xã hội.
Hoạt động dịch vụ là chuỗi các hành vi mang tính chuyên môn của con người, có thé được hỗ trợ bởi máy móc, khoa học kỹ thuật với mục tiêu tiên quyết là thực hiện một công việc theo nhu cầu của người sử dụng dịch vụ. Mác cho rằng : "Dịch vụ là con đẻ của nên kinh té sản xuất hàng hóa, khi mà kinh té hàng hóa phát triển mạnh, đòi hỏi một sự lưu thông thông suối, trôi chảy, liên tục dé thoả man nhu can ngày càng cao đó của con người thì dich vụ ngày càng phát triển"`. Như vậy, nguồn gốc ra đời của dich vụ là nền kinh tế sản xuất hàng hóa và giữa sự phát triển kinh tế hàng hóa với sự phát triển dịch vụ có quan hệ tương hỗ, mật thiết. Hợp đồng dịch vụ (HDDV) là thuật ngữ khái quát có nhiều ý nghĩa bao ham.
Dưới góc độ khoa học pháp lý, có thé xem xét HDDV dưới góc độ là quan hệ xã hội được pháp luật điều chỉnh và cũng có thê thuật ngữ dé chỉ các quy định pháp luật do Nhà nước ban hành nhằm điều chỉnh các vấn đề liên quan đến cung ứng, sử dụng dịch vụ. Dưới góc độ quan hệ xã hội được pháp luật điều chỉnh, HDDV mang đầy đủ các đặc điểm của một quan hệ pháp luật dân sự với các yếu t6 cầu thành là chủ thé, khách thé và nội dung, cụ thé: - Chủ thé của HPDV bao gôm: bên cung ứng dich vụ và bên sử dung dich vu. Bên cung ứng dịch vụ là các cá nhân, tổ chức đáp ứng các yêu cầu luật định, thực hiện các công việc theo từng mảng chuyên môn phù hợp với năng lực, kinh nghiệm, điêu kiện của mình. Bên sử dụng dịch vụ là cá nhân, tô chức có nhu câu 3 Cao Minh Nghia (201 1), “Tổng quan lý thuyết về ngành kinh tế dịch vụ - Phần 1”, https://tinyurl.com/hids- hochiminhcity-gov-vn, ngày truy cập 04/6/2018.
hưởng lợi ích từ quá trình thực hiện công việc hoặc dé người thứ ba sử dung các lợi ích này. Bên cung ứng dịch vụ bàn giao kết quả công việc đã thực hiện và bên sử dụng dịch vụ trả tiền dịch vụ cho bên cung ứng. Cơ sở hình thành quan hệ cung ứng — sử dụng dich vụ là sự thỏa thuận trên tinh thần thống nhất ý chí, sự bình đăng về địa vị pháp lý. - Khách thể của HĐDV là các lợi ích mà chủ thé hướng đến trong quá trình cung ung dịch vụ.
Lợi ích mà bên sử dụng dịch vụ hướng đến là lợi ích vật chất hoặc lợi ích tinh thần cho chính mình hoặc cho người thứ ba. Lợi ích mà bên cung ứng dịch vụ hướng đến chủ yếu là tiền dịch vụ. Ngoài ra, bên cung ứng dịch vụ còn hướng đến các lợi ích về thương hiệu, uy tín hoặc sự hài lòng của khách hàng v. - Nội dung của HĐDV là sự thỏa thuận quyền và nghĩa vụ của mỗi bên.
Nội dung của HDDV là sự thống nhất ý chí các bên về những yếu tố pháp lý cơ bản tạo nền tang cho quá trình thực hiện hợp đồng như đối tượng hợp đồng, thời gian, địa điểm thực hiện hợp đồng, quyền và nghĩa vụ của bên cung ứng dịch vụ, quyền và nghĩa vụ của bên sử dụng dịch vụ, tiêu chuẩn của kết quả công việc, các trường hợp chấm dứt hợp đồng v. Trên cơ sở các phân tích trên, có thé định nghĩa HPDV là sự thỏa thuận giữa bên cung ứng dịch vụ và bên sử dụng dịch vụ, trong đó bên cung ứng dịch vụ thực hiện một công việc nhất định theo yêu cẩu của bên sử đụng dịch vụ để đem lại lợi ich cho bên sử dụng dịch vụ và bên sứ dung dich vụ có nghĩa vu tra tiền theo khuôn khổ các quy định chi tiết tại hợp dong hoặc theo quy định của pháp luật. Dưới góc độ pháp luật điều chỉnh, HDDV là tổng hợp các quy phạm pháp luật bao gồm các quy định chung dành cho mọi hợp đồng dân sự, quy định riêng dành cho HDDV và các quy định chuyên ngành điều chỉnh từng dịch vụ cụ thé trong quá trình cung ứng, sử dụng dịch vụ. Đặc điểm của hợp đồng dịch vụ Bên cạnh các đặc điểm chung như một hợp đồng dân sự thông dụng, HDDV còn mang các đặc điểm riêng biệt nhất định do chính các đặc tính của dịch vụ, cụ thé như sau: - HPDV là hợp đông ưng thuận: Dựa trên góc độ tiêu chí thời điểm phát sinh hiệu lực của hợp đồng thì có thé xác định HDDV là hợp đồng ưng thuận.
Quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ cung ứng, sử dụng dịch vụ phát sinh ngay sau khi các bên thỏa thuận xong về nội dung chủ yếu của hợp đồng, hay nói cách khác, HĐDV là hợp đồng mà thời điểm có hiệu lực của nó được xác định tại thời điểm giao kết. - HĐDV có tính chất dén bù: Dựa trên tiêu chí có đi có lại về lợi ích vật chat, hợp đồng dân sự thường được phân loại thành hợp đồng có đền bù và hợp đồng không có đền bù. Với tính chất của dich vụ là một dang hàng hóa đặc biệt trao đôi trên thị trường nên HDDV phản ánh rõ nét tính chất đền bù, theo đó, bên sử dụng dịch vụ phải trả tiền dịch vụ cho bên cung ứng dịch vụ để chủ thể này thực hiện công việc theo thỏa thuận. Do đó, vi phạm nghĩa vụ trả tiền là căn cứ phát sinh trách nhiệm pháp lý của bên sử dụng dịch vụ hoặc là căn cứ dé bên cung ứng dịch vụ chấm dứt hợp đồng.
- HDDV là hợp dong song vụ: Dưới góc độ quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ hợp đồng thì hợp đồng dân sự được chia thành hợp đồng đơn vụ và hợp đồng song vụ. Hợp đồng song vu là “hop đồng mà các bên chủ thể đều có nghĩa vụ. Hay nói cách khác, mỗi bên chủ thé của hop đông song vụ là người vừa z A ` z ~ A 904 có quyên vừa có nghĩa vụ dan sự. Theo cách phân loại này, HDDV mang đặc điểm của hợp đồng song vu, trong đó, bên cung ứng dich vụ có các nghĩa vụ chính như thực hiện công việc cụ thé do các bên thỏa thuận va ghi nhận tại hợp đồng, chuyên giao kết quả thực hiện công việc cho bên sử dụng dịch vụ hoặc cho người thứ ba; bên sử dụng dịch vụ có các nghĩa vụ nhất định tương ứng, như nghĩa vụ cung cấp thông tin, tài liệu, phương tiện cần thiết theo yêu cầu và thống nhất giữa các bên; nghĩa vụ tiếp nhận kết quả bàn giao và nghĩa vụ trả tiền dịch vụ v.
Do đó, việc một bên vi phạm nghĩa vụ cũng là cơ sở dé bên kia có quyền hoãn thực hiện nghĩa vụ hoặc chấm dứt hợp đồng. Khái niệm, đặc điểm của hợp đồng dịch vụ phat sóng quảng cáo 1. Khái niệm hợp đồng dịch vụ phát sóng quảng cáo Trong thời đại bùng nồ thông tin truyền thông, quảng cáo là một trong những phương thức ấn tượng và hiệu quả để truyền tải thông tin sản phẩm, dịch vụ của các doanh nghiệp, phục vụ mục đích quảng bá kinh doanh thông qua việc tạo ấn tượng, gây tò mò và các phương thức so sánh khác để thuyết phục khách hàng. Có nhiều phương thức, phương tiện truyền thông khác nhau dé thực hiện quảng cáo, từ các * Trường Dai học Luật Hà Nội (2018), Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam — tập II, Nxb.
Công An Nhân Dân, Hà Nội, tr. 10 phương thức truyền thống như quảng cáo trên báo giấy, tờ rơi, biển hiệu; đến các phương thức tân tiến hơn như quảng cáo trên hệ phát thanh, truyền hình truyền thống, website, các ứng dụng trên điện thoại v. Các hoạt động quảng cáo này nhìn chung được thực hiện trên cơ sở các HDDV quảng cáo, riêng chỉ có các hoạt động quảng cáo được phát trên các sóng tần số truyền hình thì mới được điều chỉnh bởi các HDDV phát sóng quảng cáo. Khái niệm HDDV phat sóng quảng cáo là thuật ngữ được sử dụng trong nhiều bối cảnh khác nhau, cần được xem xét ở nhiều phương diện khác nhau.
Theo phương diện khách quan, có thé tiếp cận HDDV phát sóng quảng cáo dưới góc độ là các quy phạm pháp luật của Nhà nước ban hành liên quan đến lĩnh vực cung ứng, sử dụng dịch vụ nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình dịch chuyền các lợi ích vật chất giữa các chủ thể với nhau. Theo phương diện chủ quan, có thé xem HĐDV phat sóng quảng cáo là một quan hệ xã hội về giao dich dân sự thông dụng mà trong đó các bên tự trao đổi ý chí với nhau về dịch vụ phát sóng quảng cáo cụ thê nham đi đến thỏa thuận dé cùng nhau làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ nhất định. Dưới góc độ là một quan hệ xã hội được pháp luật điều chỉnh, HĐDV phát sóng quảng cáo cũng được nghiên cứu trên cơ sở ba yêu tố cơ bản cấu thành quan hệ pháp luật là chủ thể, khách thé và nội dung. Các yếu tố này được thê hiện như sau: (i) Chủ thé của HDDV phát sóng quảng cáo gôm có bên cung ứng dịch vu phái sóng quảng cáo và bên sử dụng dịch vụ phát sóng quảng cáo.
Bên cung ứng là các cơ quan, tô chức được thành lập theo quy định của pháp luật và theo quyết định của cơ quan Nhà nước có thâm quyền, có lĩnh vực hoạt động đáp ứng điều kiện, yêu cầu để thực hiện việc phát sóng quảng cáo trên hạ tầng truyền hình. Còn bên sử dụng dich vụ là các cá nhân, tổ chức có nhu cầu quảng bá hình ảnh, thông tin sản phẩm hàng hóa, dịch vụ của mình nhăm thúc đây hoạt động kinh doanh một cách có hiệu quả thông qua việc phát sóng quảng cáo của bên cung ứng dịch vụ.