Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ ngữ văn với đề tài "Hồi ký trong văn học Việt Nam giai đoạn từ 1975 đến nay nhìn từ đặc trưng thể loại" do nghiên cứu sinh Trần Thị Hồng Hoa thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Trần Khánh Thành, thuộc chuyên ngành Lí luận văn học (mã số: 62 22 01 20), bảo vệ tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội vào năm 2017.

Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ ra rằng sau năm 1975, đặc biệt từ thời kỳ đổi mới, hồi ký tại Việt Nam có sự gia tăng mạnh mẽ về số lượng xuất bản cũng như sự tham gia của nhiều lực lượng sáng tác. Tuy nhiên, trước thời điểm luận án thực hiện, các công trình nghiên cứu về thể loại này chủ yếu tồn tại dưới dạng bài báo rải rác hoặc luận văn, luận án tiếp cận nghiêng về lịch sử văn học, chưa giải quyết một cách thấu đáo các yếu tố cốt lõi của thể loại như vai trò của ký ức, cơ chế diễn ngôn về sự thật và hiện tượng giao thoa, biến thể thể loại.

Theo số liệu thống kê từ Thư viện Quốc gia được luận án dẫn dụng, số lượng hồi ký xuất bản tại Việt Nam qua hai giai đoạn cụ thể như sau:

Giai đoạn Hồi ký tác giả Việt Nam Hồi ký tác giả nước ngoài Tổng số lượng
1986 – 1996 260 cuốn 36 cuốn 296 cuốn
1997 – 2007 559 cuốn 71 cuốn 630 cuốn

Năm 2005 ghi nhận đỉnh cao xuất bản với 77 cuốn hồi ký ra mắt bạn đọc.

Mục đích nghiên cứu của luận án là trên cơ sở nhận diện, phân tích các ảnh hưởng của thời đại đến việc hình thành đặc trưng cơ bản của hồi ký sau năm 1975, luận án chỉ ra các yếu tố cốt lõi tạo nên giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm hồi ký, đồng thời phác họa khuynh hướng vận động của thể loại trong tiến trình giao thoa và biến thể.

Để đạt được mục đích trên, luận án xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Thu thập, đối chiếu, hệ thống hóa các tài liệu nghiên cứu về ký nói chung và hồi ký nói riêng nhằm cung cấp bức tranh tổng quan về hồi ký trên tiến trình thể loại.
  2. Nhận diện và phân tích các yếu tố làm nên sự khác biệt của một tác phẩm hồi ký được viết sau năm 1975 so với hồi ký trước năm 1975 và một số kiểu loại gần gũi như tự truyện, bút ký hay nhật ký.
  3. Xác lập các đặc trưng cơ bản về nội dung và nghệ thuật của thể loại hồi ký sau năm 1975 nhằm tìm ra những điểm ưu trội của thể loại đó so với các thể loại khác.
  4. Phân tích một số dạng thức giao thoa thể loại và khuynh hướng biến thể của hồi ký sau năm 1975.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là đặc trưng thể loại của hồi ký trong văn học Việt Nam sau năm 1975 thể hiện qua những tác phẩm tiêu biểu. Phạm vi nghiên cứu bao gồm các tác phẩm hồi ký xuất hiện ở Việt Nam từ sau năm 1975 đến năm 2017, tập trung vào ba nhóm chính: hồi ký của các nhà văn; hồi ký của các tướng lĩnh, cựu chiến binh, chính trị gia; và hồi ký của các tầng lớp khác trong xã hội. Luận án chủ động loại trừ các tác phẩm có chi tiết xâm phạm đời tư gây phản cảm, bị hoài nghi về lập trường hoặc động cơ cá nhân (như trường hợp tác phẩm của Đào Xuân Quý, Nguyễn Đăng Mạnh, Thương Tín) và các hồi ký ghi chép dễ dãi, thiếu giá trị văn học trên mạng xã hội.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Lịch sử nghiên cứu hồi ký tại Việt Nam được tác giả luận án chia thành hai giai đoạn chính gắn với mốc lịch sử năm 1975:

Giai đoạn trước năm 1975: Nghiên cứu chủ yếu tập trung vào mảng hồi ký cách mạng nhằm phục vụ nhiệm vụ chính trị và kháng chiến. Các bài viết tiêu biểu trên Tạp chí Văn nghệ quân đội và Tạp chí Văn học gồm có:

Năm Tác giả Tên bài viết Đơn vị công bố
1960 Đông Hoài Mấy ý nghĩ về tập hồi ký Nhân dân ta rất anh dũng Tạp chí Văn nghệ quân đội (Số 06)
1960 Hồ Phương Tập hồi ký Lên đường thắng lợi Tạp chí Văn nghệ quân đội (Số 08)
1962 Trần Đĩnh Vài ý nghĩ về viết hồi ký Tạp chí Văn nghệ quân đội (Số 01)
1962 Doãn Trung Mấy vấn đề về viết hồi ký đấu tranh cách mạng Tạp chí Văn nghệ quân đội (Số 03)
1962 Trần Cư Vài suy nghĩ về hồi ký cách mạng Tạp chí Văn nghệ quân đội (Số 04)
1962 Nhị Ca Vài ý nghĩ nhân đọc mấy cuốn hồi ký Tạp chí Văn nghệ quân đội (Số 06)
1962 Kiều Kim Trùy Mấy kinh nghiệm tổ chức viết hồi ký ở đơn vị Đồng bằng Tạp chí Văn nghệ quân đội (Số 12)
1964 Hồ Phương Mấy ý kiến về viết hồi ký Tạp chí Văn nghệ quân đội (Số 07)
1964 Hồ Nhị Quang Phát triển hơn nữa phong trào viết hồi ký Tạp chí Văn nghệ quân đội (Số 08)
1964 Nam Mộc Lớn lên với Điện Biên, một tập hồi ký có những điểm xuất sắc Tạp chí Văn học (Số 11)
1965 Trần Văn Giàu Giới thiệu và phê bình bộ truyện Bất khuất Tạp chí Văn học (Số 3)
1965 Phan Nhân Đọc hồi ký cách mạng Người Hà Nội Tạp chí Văn học (Số 7)
1965 Phong Lê Đọc Sống như anh, nghĩ về nhân vật trong hồi ký Tạp chí Văn học (Số 10)
1965 Hà Minh Đức Về khả năng phản ánh hiện thực của hồi ký, nhân đọc Sống như anh Tạp chí Văn học (Số 10)
1967 Hà Huy Giáp Bất khuất, một bài học lớn về đấu tranh cách mạng Tạp chí Văn học (Số 10)
1968 Nguyễn Văn Huyên Bất khuất, một tác phẩm quý để giáo dục lý tưởng cách mạng Tạp chí Văn học (Số 4)
1975 Nguyễn Công Hoan Suy nghĩ về Những năm tháng không thể nào quên Tạp chí Văn học (Số 6)

Bên cạnh đó, tập sách "Viết hồi ký" (1961) do Nhà xuất bản Quân đội ấn hành với bài viết của Minh Xuân đã đưa ra các gợi ý nghiệp vụ về việc kết hợp giữa tính lịch sử và tính văn học, việc xác định chủ đề và nghệ thuật phục dựng nhân vật.

Giai đoạn sau năm 1975: Nghiên cứu phát triển theo hai hướng:

  • Hướng thứ nhất: Nhận diện các đặc điểm chung của thể loại. Bích Thu (trong công trình nghiên cứu về ký) nhận xét về sự trỗi dậy của cái tôi nhà văn; Nguyễn Phượng (2001) lý giải sự thắng thế của hồi ký do sự thay đổi quan niệm giá trị; Nguyễn Văn Dân (2008) với bài "Hồi ký – Tiềm năng và hạn chế" phân tích sự thật khách quan và sự thật chủ quan; Lý Hoài Thu (2008) với bài "Hồi ký và bút ký thời kỳ đổi mới" khảo sát sự phong phú về giọng điệu và kết cấu hồi ức; Đỗ Hải Ninh (2013) phân tích bước chuyển trong việc khám phá số phận con người; Ngô Thị Ngọc Diệp (2013) hoàn thành luận án tiến sĩ khảo cứu hồi ký từ 1945 đến nay theo tiến trình lịch sử văn học.
  • Hướng thứ hai: Khảo sát các tác gia, tác phẩm cụ thể. Các tác giả tập trung vào hồi ký của Nguyên Hồng (Thạch Lam, Nguyễn Đăng Điệp, Đoàn Cầm Thi), Vũ Bằng (Văn Giá, Vũ Xuân Triệu), Tô Hoài (Xuân Sách, Đặng Thị Hạnh, Lý Hoài Thu, Trần Mai Phương, Hoàng Mai Hương), Bùi Ngọc Tấn (Lê Minh Hà), Duy Khán (Vương Trí Nhàn), Ma Văn Kháng (Nguyễn Ngọc Thiện), Đặng Anh Đào (Lê Huy Bắc), Đặng Thị Hạnh (Lê Thị Kim Liên), Nguyễn Hiến Lê (Hồ Tấn Nguyên Minh).

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết: Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu, các công trình trước đó chưa làm rõ vai trò bản thể của ký ức như một cơ chế kiến tạo thể loại; chưa sử dụng lý thuyết diễn ngôn để giải mã sự tương tác giữa mã sự thật và mã nghệ thuật trong cấu trúc văn bản; đồng thời chưa khảo sát toàn diện sự xâm nhập của các thủ pháp tiểu thuyết, chất trữ tình và các biến thể thể loại của hồi ký trong giai đoạn sau năm 1975.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên hệ thống cơ sở lý thuyết đa ngành về loại hình ký, thi pháp học, lý thuyết diễn ngôn và tâm lý học sáng tạo văn học:

  • Quan niệm về thể loại ký và hồi ký: Ký được xác định là thể loại văn học thuộc loại hình tự sự trần thuật người thật việc thật, không sử dụng hư cấu để tạo dựng nhân vật mới hoàn toàn mà tái hiện đời sống trên cơ sở tôn trọng sự thật khách quan kết hợp với điểm nhìn chủ quan. Về từ nguyên, các khái niệm ký, lục, chí đều mang nghĩa ghi chép. Trong tiếng Anh, hồi ký là "memoir" (tiếng Pháp là "mémoire"), là tập hợp ký ức cá nhân về các sự kiện có thật trong quá khứ liên quan mật thiết đến hiện tại.
  • Tâm lý học sáng tạo: Luận án vận dụng quan điểm của M. Arnaudov trong "Tâm lý học sáng tạo văn học" để phân tích cơ chế vận hành của trí nhớ, vai trò của hồi ức trong việc hình thành các liên tưởng, biểu tượng và sự hỗ trợ của trí tưởng tượng trong sáng tạo nghệ thuật. Luận án cũng tiếp thu quan điểm ký hiệu học văn hóa của J. Lotman về văn bản như một chương trình nén giữ trí nhớ.
  • Lý thuyết diễn ngôn: Khung phân tích diễn ngôn được sử dụng để phân lập và lý giải mối quan hệ giữa "mã sự thật" (tính xác thực của sự kiện, nhân chứng, tư liệu lịch sử) và "mã nghệ thuật" (các biện pháp tổ chức văn bản, giọng điệu, ngôn ngữ nghệ thuật) dưới tác động của hệ tư tưởng xã hội.

Về phương pháp nghiên cứu thực tế, luận án sử dụng hướng tiếp cận định tính kết hợp bốn phương pháp chính:

  1. Phương pháp lịch sử – xã hội: Đặt hồi ký vào bối cảnh văn hóa, lịch sử xã hội Việt Nam sau năm 1975 và tiến trình đổi mới văn học từ năm 1986 để giải thích sự biến đổi của hệ ý thức và quan niệm nghệ thuật.
  2. Phương pháp tiếp cận liên ngành: Kết hợp tri thức văn học với lý thuyết diễn ngôn và tâm lý học sáng tạo nhằm giải mã cơ chế phục hiện ký ức và cấu trúc diễn ngôn sự thật.
  3. Phương pháp tiếp cận thi pháp học: Khảo sát hệ thống phương thức, phương tiện, thủ pháp nghệ thuật biểu hiện đời sống, tổ chức kết cấu, điểm nhìn trần thuật và xây dựng nhân vật.
  4. Phương pháp phê bình tiểu sử: Nghiên cứu mối liên hệ giữa tiểu sử, trải nghiệm sống, vị thế xã hội của tác giả với các chủ đề và quan điểm nghệ thuật thể hiện trong tác phẩm.

Ngoài ra, luận án kết hợp các thao tác bổ trợ gồm: phân tích tổng hợp, so sánh, đối chiếu và thống kê tư liệu thư mục. Nguồn tư liệu phục vụ nghiên cứu là các văn bản hồi ký tiêu biểu xuất bản tại Việt Nam từ năm 1975 đến năm 2017 của các nhóm tác giả đại diện cho giới nhà văn, nhà chính trị, tướng lĩnh quân đội và các tầng lớp xã hội khác.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận về thể loại ký và hồi ký, đồng thời điểm lược lịch sử nghiên cứu vấn đề tại Việt Nam.

Tác giả truy nguyên nguồn gốc thể ký từ phương Tây (với các tác giả như Mercier, Rousseau, Chateaubriand, Radishchev, Nekrasov) và phương Đông (các thể ký, chí, lục từ đời Hán, Đường, Tống ở Trung Quốc; bi ký, minh ký, tạp ký, thực lục thời trung đại Việt Nam như "Công dư tiệp ký" của Vũ Phương Đề, "Thượng kinh ký sự" của Lê Hữu Trác, "Vũ trung tùy bút" của Phạm Đình Hổ). Luận án điểm lại cuộc tranh luận văn học những năm 1960 tại Việt Nam về tính xác thực và giới hạn của hư cấu giữa hai nhóm quan điểm: nhóm kiên quyết bác bỏ hư cấu (Trần Cư, Nguyễn Kim Hoa, Tầm Dương) và nhóm thừa nhận hư cấu ở mức độ nhất định (Chế Lan Viên, Nguyễn Minh Nguyên, Châu Giang).

Về định nghĩa thể loại, luận án khẳng định hồi ký là thể loại trần thuật từ ngôi tác giả kể về những biến cố trong quá khứ mà tác giả là người tham dự hoặc chứng kiến, qua đó thể hiện góc nhìn chủ quan của người viết về các sự thật khách quan. Luận án phân tích sự khác biệt giữa hồi ký với nhật ký (viết theo chiều thời gian thuận, mang tính tức thời) và tự truyện (tập trung thuần túy vào bản thể cá nhân, trong khi hồi ký mở rộng sang bức tranh thời đại).

Về phân loại, luận án đề xuất tiêu chí phân loại dựa trên chủ thể sáng tác, chia hồi ký sau năm 1975 thành 3 nhóm cơ bản:

  • Hồi ký của các tướng lĩnh, chính trị gia và cựu binh cách mạng (tiêu biểu như hồi ký của Võ Nguyên Giáp, Văn Tiến Dũng, Chu Huy Mận, Phạm Văn Trà, Phùng Thế Tài, Đồng Sĩ Nguyên, Nguyễn Long Trảo, Vương Khả Sơn...).
  • Hồi ký của các nhà văn (tiêu biểu như sáng tác của Tô Hoài, Bùi Ngọc Tấn, Nguyễn Công Hoan, Vũ Bằng, Lưu Trọng Lư, Tố Hữu, Anh Thơ, Huy Cận, Nguyên Hồng, Vũ Hoàng Chương, Quách Tấn, Ma Văn Kháng, Duy Khán, Sao Mai, Đặng Thị Hạnh, Đặng Anh Đào...).
  • Hồi ký của các tầng lớp khác trong xã hội (nhà nghiên cứu âm nhạc Trần Văn Khê, nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý, đạo diễn Đặng Nhật Minh, các cá nhân bình thường như Phạm Thị Trinh, Tâm Phan, Tâm Si-đa...).

Chương 2: Quá trình phục hiện ký ức trong hồi ký sau 1975

Chương 2 tập trung phân tích bản chất tâm lý và các giai đoạn tái hiện ký ức của chủ thể sáng tạo trong hồi ký sau năm 1975.

Luận án khẳng định ký ức không chỉ là chất liệu mà còn là cơ chế sàng lọc thông tin. Trí nhớ cá nhân mang tính lựa chọn tự nhiên, bị chi phối bởi các ấn tượng cảm xúc mạnh mẽ trong quá khứ chứ không lưu giữ cơ học toàn bộ sự kiện. Minh chứng rõ rệt được tác giả phân tích qua sự khác biệt trong việc tái hiện cùng một không gian sống thời ấu thơ giữa hai chị em ruột Đặng Thị Hạnh trong "Cô bé nhìn mưa" (ký ức khởi đầu gắn liền với hình ảnh cô bé ngồi nhìn ra mưa rào và ấn tượng về người dì út qua lời ru não nuột) và Đặng Anh Đào trong "Tầm xuân" (ký ức khởi đầu gắn với chiếc vành cánh bạc bị mất, hương vị món ăn thời thơ ấu và hình ảnh người dì rạng rỡ với chiếc kiềng vàng).

Luận án chỉ ra các quy luật chi phối dòng chảy ký ức:

  • Sự thôi thúc từ hiện tại là khởi điểm: Sự hoài niệm thường bắt nguồn từ nhu cầu hồi cố, tổng kết cuộc đời của lớp người cao tuổi khi đã đi qua biến thiên lịch sử, hoặc từ khát vọng chia sẻ bản ngã, khẳng định bản thân của lớp tác giả trẻ trước các vấn đề xã hội đương đại.
  • Sự kết tinh thành các biểu tượng nghệ thuật: Ký ức qua thời gian không tồn tại dưới dạng chi tiết rời rạc mà lắng đọng thành các biểu tượng trung tâm (như biểu tượng quê hương, gia đình, chiến trận, làng quê cũ) có khả năng liên kết và tương hỗ lẫn nhau để cấu tạo mạch tự sự.
  • Vai trò của trí tưởng tượng: Luận án chứng minh rằng trong hồi ký, tưởng tượng không đồng nghĩa với bịa đặt sự kiện mà đóng vai trò lấp đầy các khoảng trống của trí nhớ, kết nối các mảnh vỡ ký ức rời rạc thành một chỉnh thể thẩm mỹ hoàn chỉnh và chân thực về mặt tâm lý.

Chương 3: Diễn ngôn về sự thật trong hồi ký sau 1975

Chương 3 vận dụng lý thuyết diễn ngôn để xem xét cấu trúc văn bản hồi ký qua sự tương tác giữa hai yếu tố: mã sự thật và mã nghệ thuật.

Dưới sự tác động của hệ tư tưởng xã hội thời kỳ đổi mới, quan niệm về sự thật trong văn học đã chuyển dịch từ tính đơn nhất, khẳng định tuyệt đối sang cái nhìn đa chiều, khách quan và tôn trọng tính phức hợp của con người. Luận án khảo sát sự biểu hiện của hai mã này trong ba nhóm tác phẩm:

  • Trong hồi ký của các nhà văn: Diễn ra sự hòa kết nhuần nhuyễn giữa mã sự thật và mã nghệ thuật. Chủ thể diễn ngôn không chỉ hướng ngoại mà thực hiện cái nhìn tự biện, phản tư nghiêm khắc về chính bản thân mình (như trong "Cát bụi chân ai", "Chiều chiều" của Tô Hoài; các hồi ký của Nguyễn Công Hoan, Vũ Bằng, Xuân Diệu). Đồng thời, hình tượng bạn bè nghệ sĩ được miêu tả ở cự ly gần, giải huyền thoại, thể hiện đầy đủ những nét đẹp tài hoa lẫn thói quen đời thường, thậm chí cả bi kịch cá nhân (như chân dung Nguyễn Tuân, Nguyên Hồng, Xuân Diệu qua ngòi bút Tô Hoài; chân dung đồng nghiệp trong hồi ký Bùi Ngọc Tấn).
  • Trong hồi ký của các tướng lĩnh, chính trị gia và cựu binh: Mã sự thật chiếm vị trí ưu trội tuyệt đối. Giá trị của tác phẩm gắn liền với tính chính xác của tư liệu lịch sử, các quyết sách chiến dịch, diễn biến chiến trận. Điểm mới sau năm 1975 là bên cạnh tượng đài người anh hùng sử thi, tác phẩm bắt đầu khắc họa người chỉ huy và người lính trong sinh hoạt đời thường, ghi lại những tổn thất, gian khổ và nỗi đau mất mát của chiến tranh một cách chân thực.
  • Trong hồi ký của các tầng lớp khác: Mã nghệ thuật đóng vai trò hỗ trợ, tổ chức cho mã sự thật. Các tác phẩm của giới làm nghệ thuật (Trần Văn Khê, Đặng Nhật Minh) hay người dân bình thường sử dụng lối kể giản dị, cảm xúc chân thành để làm nổi bật sự thật về số phận cá nhân và bài học nhân sinh.

Chương 4: Sự giao thoa thể loại của hồi ký sau 1975

Chương 4 phân tích xu hướng vận động của hồi ký sau năm 1975 theo hướng phá vỡ đường biên thể loại truyền thống để dung nạp các yếu tố của trữ tình và tiểu thuyết.

Chất trữ tình trong hồi ký: Thể hiện qua sự trỗi dậy mạnh mẽ của cái tôi nội cảm. Dòng tự sự sự kiện thường xuyên bị gián đoạn bởi các đoạn văn biểu cảm, chiêm nghiệm triết lý và sự xuất hiện của các bức tranh thiên nhiên giàu rung cảm thẩm mỹ, biến văn bản hồi ký thành những trang văn đậm chất thơ (tiêu biểu trong hồi ký của Đặng Thị Hạnh, Đặng Anh Đào, Anh Thơ, Huy Cận).

Chất tiểu thuyết trong hồi ký: Thể hiện qua ba phương diện kỹ thuật:

  • Kết cấu hiện đại: Tác phẩm phá vỡ trật tự biên niên thời gian tuyến tính để tổ chức theo dòng ý thức, lắp ghép các mảnh hồi ức, sử dụng kết cấu đồng hiện và đảo trật tự thời gian.
  • Nghệ thuật xây dựng nhân vật có độ dư: Nhân vật không còn được khắc họa một chiều, bất biến mà xuất hiện với chiều sâu tâm lý phức tạp, đầy mâu thuẫn nội tâm và hành vi chưa được định hình sẵn.
  • Kỹ thuật tự sự tạo tính đa thanh: Người trần thuật xưng "tôi" không còn độc quyền chân lý mà để cho tiếng nói, điểm nhìn của các nhân vật khác cùng cất lên, tạo ra sự đối thoại và tranh biện ngầm trong văn bản.

Các biến thể thể loại: Luận án phân tích hai dạng thức biến thể nổi bật gồm "hồi ký – tự truyện" (nơi ranh giới giữa lịch sử thời đại và tiểu sử đời tư bị xóa mờ) và "hồi ký ẩn danh tiểu thuyết" (tác phẩm sử dụng chất liệu hồi ức cá nhân có thật nhưng khoác lớp vỏ kết cấu và nhân vật hư cấu của tiểu thuyết).

Kết quả và những đóng góp mới

Về mặt lý luận, luận án đã:

  • Khẳng định hồi ký là một thể loại độc lập trong hệ thống thể ký tự sự, xác lập hệ thống đặc trưng thể loại dựa trên cơ chế ký ức và cấu trúc diễn ngôn sự thật, phân định ranh giới rõ ràng giữa hồi ký với nhật ký, tự truyện, tiểu sử và tiểu thuyết.
  • Vận dụng thành công lý thuyết diễn ngôn và tâm lý học sáng tạo vào nghiên cứu thể loại, chỉ ra cơ chế tương tác biện chứng giữa mã sự thật và mã nghệ thuật trong quá trình hình thành văn bản hồi ký.
  • Làm rõ quy luật vận động nội tại của hồi ký thời kỳ sau năm 1975 thông qua xu hướng giao thoa với chất trữ tình và chất tiểu thuyết, cũng như sự xuất hiện của các biến thể thể loại.

Về mặt thực tiễn, luận án đã:

  • Cung cấp một khảo sát toàn diện, có hệ thống về diện mạo hồi ký Việt Nam giai đoạn từ sau năm 1975 đến năm 2017, bao quát cả ba nhóm tác giả: nhà văn; tướng lĩnh, chính trị gia; và các tầng lớp xã hội khác.
  • Đưa ra những nhận định khoa học, khách quan về giá trị tư liệu lịch sử và giá trị nghệ thuật của hàng loạt tác phẩm hồi ký xuất bản trong thời kỳ đổi mới.

Về mặt ứng dụng:

  • Kết quả nghiên cứu bổ sung nguồn tư liệu và khung lý thuyết phục vụ cho việc giảng dạy, học tập các học phần Lí luận văn học (chuyên đề Thể loại văn học) và Văn học Việt Nam hiện đại tại các trường đại học, cao đẳng.
  • Cung cấp tiêu chí thể loại học giúp các nhà phê bình và biên tập viên xuất bản đánh giá, phân loại chính xác các tác phẩm ghi chép quá khứ trên thị trường sách hiện nay.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của luận án:

  • Phạm vi tư liệu chủ yếu tập trung vào các văn bản hồi ký đã được xuất bản chính thức thành sách in và được giới nghiên cứu thừa nhận. Luận án chưa thể khảo sát hết mảng hồi ký tự phát trên không gian mạng xã hội, nhật ký điện tử (blog) của thế hệ tác giả trẻ, nơi có những hình thức biểu đạt mới mẻ của thời kỳ công nghệ số.
  • Luận án chủ động loại trừ các tác phẩm có yếu tố tranh cãi gay gắt về đời tư hoặc bị nghi ngờ về mặt đạo đức sáng tác, do đó chưa phân tích sâu khía cạnh tiếp nhận xã hội học và các phản ứng pháp lý, đạo đức nảy sinh từ sự va chạm giữa quyền tự do trần thuật của tác giả và quyền bảo vệ đời tư của các nhân vật liên quan.

Hướng nghiên cứu tiếp:

  • Mở rộng khảo sát hồi ký số, hồi ký phi truyền thống được công bố trên nền tảng Internet và các mạng xã hội của thế hệ tác giả đương đại.
  • Nghiên cứu sâu hơn về tâm lý tiếp nhận và xã hội học văn học đối với thể loại hồi ký, đặc biệt là các vấn đề liên quan đến giới hạn đạo đức và pháp lý trong việc công bố sự thật đời tư.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo thiết thực cho các nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên ngành Văn học, Báo chí, Xuất bản: Có thể tham khảo phương pháp tiếp cận thể loại kết hợp lý thuyết diễn ngôn và tâm lý học sáng tạo; sử dụng khung lý thuyết của luận án để phân tích các tác phẩm tự sự phi hư cấu.
  • Giảng viên đại học và cao đẳng: Sử dụng Chương 1 và Chương 4 làm tài liệu bài giảng cho chuyên đề thể loại văn học, tiến trình văn học Việt Nam sau năm 1975, hoặc chuyên đề văn xuôi thời kỳ đổi mới.
  • Các nhà phê bình văn học và biên tập viên nhà xuất bản: Tham khảo tiêu chí phân định mã sự thật và mã nghệ thuật trong Chương 3 để thẩm định, biên tập và đánh giá các bản thảo hồi ký, tự truyện trước khi xuất bản.

Câu hỏi thường gặp

  1. Luận án phân định sự khác nhau giữa hồi ký và tự truyện dựa trên những tiêu chí nào? Theo văn bản luận án, sự khác biệt giữa hồi ký và tự truyện nằm ở tiêu điểm trần thuật và phạm vi phản ánh: tự truyện xoáy sâu vào câu chuyện của bản thân người viết (kể câu chuyện về cuộc đời), trong khi hồi ký thường kể câu chuyện rút ra từ đời sống, mở rộng biên độ phản ánh sang bức tranh thời đại và số phận của những người xung quanh mà tác giả từng chứng kiến hoặc tương tác.

  2. Tiêu chuẩn nào được tác giả sử dụng để chọn lọc hoặc loại trừ tác phẩm khảo sát? Luận án lựa chọn các tác phẩm hồi ký tiêu biểu xuất bản sau năm 1975 đã được giới nghiên cứu và độc giả ghi nhận, thuộc ba nhóm: nhà văn; tướng lĩnh, chính trị gia, cựu binh; và các tầng lớp khác. Tác giả chủ động loại trừ các hồi ký có chi tiết phản cảm, xâm phạm đời tư gây hoài nghi về lập trường đạo đức (như của Đào Xuân Quý, Nguyễn Đăng Mạnh, Thương Tín) và các sáng tác dễ dãi, thiếu giá trị văn chương trên mạng xã hội.

  3. "Mã sự thật" và "mã nghệ thuật" tương tác như thế nào trong hồi ký của các nhà văn sau năm 1975? Trong hồi ký của các nhà văn, mã sự thật và mã nghệ thuật hòa kết chặt chẽ với nhau. Mã sự thật cung cấp hệ thống tư liệu đời tư, sinh hoạt văn giới và bối cảnh lịch sử xác thực; trong khi mã nghệ thuật tổ chức điểm nhìn tự biện, sử dụng các thủ pháp xây dựng chân dung tâm lý và nghệ thuật ngôn từ, giúp tác phẩm vừa đảm bảo tính chân thực lịch sử vừa có giá trị thẩm mỹ tương đương các tác phẩm truyện ngắn hay tiểu thuyết.

  4. Vai trò của trí tưởng tượng trong hồi ký được luận án lý giải ra sao? Luận án khẳng định tưởng tượng trong hồi ký không phải là sự bịa đặt sự kiện phi thực tế, mà là sự hỗ trợ tất yếu của tâm lý sáng tạo nhằm tái hiện các chi tiết cảm xúc, làm sống dậy các không gian quá khứ và kết nối các mắt xích ký ức rời rạc thành một chỉnh thể hoàn chỉnh, chân thực về mặt tâm lý và logic nghệ thuật.

Kết luận

Luận án tiến sĩ của Trần Thị Hồng Hoa là công trình nghiên cứu hệ thống về thể loại hồi ký trong văn học Việt Nam giai đoạn từ sau năm 1975 đến năm 2017 dưới góc độ lý luận thể loại. Bằng việc kết hợp thi pháp học, lý thuyết diễn ngôn và tâm lý học sáng tạo, tác giả đã làm sáng tỏ cơ chế phục hiện ký ức, sự tương tác giữa mã sự thật và mã nghệ thuật, cũng như quy luật giao thoa thể loại với chất trữ tình và chất tiểu thuyết. Công trình góp phần bổ sung lý luận về thể ký tự sự và cung cấp nguồn tư liệu học thuật giá trị cho công tác nghiên cứu, giảng dạy văn học Việt Nam hiện đại.