Tổng quan về luận án

Bối cảnh khoa học của công trình luận án tiến sĩ chuyên ngành Lịch sử Việt Nam (Mã số: 9229013) tại Trường Đại học Vinh đặt trong yêu cầu cấp thiết về việc đánh giá khách quan, toàn diện vai trò của tầng lớp trí thức Tây học đầu thế kỷ XX trong tiến trình giải phóng dân tộc. Tính tiên phong của đề tài thể hiện ở việc tái hiện có hệ thống toàn bộ tiến trình hoạt động yêu nước và cách mạng của Nguyễn An Ninh (1900 - 1943) từ khi hồi hương năm 1922 đến khi hy sinh tại nhà tù Côn Đảo năm 1943.

Khoảng trống nghiên cứu (research gap) cốt lõi xuất phát từ thực trạng lịch sử: các công trình trước năm 1975 ở miền Nam thường né tránh các hoạt động của Nguyễn An Ninh sau năm 1930 do định kiến chính trị, trong khi giới học thuật miền Bắc từng có định kiến xem ông là “tiểu tư sản cách mạng nửa vời, có tư tưởng thân Tơ-rốt-xkít” [11, tr. 12]. Từ sau Đổi mới (1986) và các cuộc hội thảo khoa học (1987, 1990, 2003, 2015), quan điểm nghiên cứu đã có bước chuyển biến lớn nhưng vẫn thiếu vắng một công trình sử học chuyên khảo độc lập khảo cứu toàn diện dựa trên hệ thống tư liệu lưu trữ đối chiếu đa nguồn.

Luận án thiết lập hệ thống câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết khoa học:

  • RQ1: Những tiền đề văn hóa dòng họ, quê hương và các trào lưu tư tưởng quốc tế nào đã định hình nhân cách và bản lĩnh chính trị của Nguyễn An Ninh?
  • RQ2: Thái độ chính trị và phương thức đấu tranh của Nguyễn An Ninh diễn biến như thế nào qua hai giai đoạn 1922 - 1930 và 1930 - 1943?
  • RQ3: Mối quan hệ thực chất giữa Nguyễn An Ninh với Đảng Cộng sản Đông Dương và các lực lượng chính trị cùng thời là gì?
  • H1: Hoạt động của Nguyễn An Ninh không mang tính cục bộ mà là sự tích hợp biện chứng giữa chủ nghĩa yêu nước truyền thống, tư tưởng dân chủ tư sản tiến bộ Pháp và thế giới quan vô sản Mác-xít.
  • H2: Nguyễn An Ninh là “người bạn đường”, đồng minh chiến lược tin cậy của Đảng Cộng sản Đông Dương, đóng vai trò bản lề trong việc chuyển hóa quần chúng và trí thức Nam Kỳ sang lập trường cách mạng vô sản.

Khung lý thuyết của luận án tích hợp:

  • Chủ nghĩa duy vật lịch sử của Karl Marx và Friedrich Engels (quan điểm lịch sử cụ thể, vai trò của quần chúng và cá nhân kiệt xuất).
  • Lý thuyết về sự chuyển biến ý thức hệ của trí thức thuộc địa (Daniel Hémery, Trịnh Văn Thảo).
  • Tư tưởng giải phóng dân tộc Hồ Chí Minh.

Đóng góp đột phá của công trình được định lượng qua việc giám định, xử lý hơn 150 hồ sơ tư liệu lưu trữ gốc từ Phông Phủ Thống đốc Nam Kỳ (Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II) và Phông Phủ Toàn quyền Đông Dương (Lưu trữ Quốc gia Hải ngoại Pháp - ANOM), 5 cuộc phỏng vấn sâu nhân chứng lịch sử, khảo cứu toàn bộ 25 số báo La Cloche Fêlée (LCF) và ấn phẩm La France en Indochine (LFEI). Phạm vi nghiên cứu bao trùm không gian Nam Kỳ và chính quốc Pháp trong khung thời gian 21 năm (1922 - 1943), mang ý nghĩa lịch sử sâu sắc đối với khoa học lịch sử cận - hiện đại.

Literature Review và Positioning

Tổng quan tài liệu chỉ ra ba dòng nghiên cứu chính với những luận điểm đối thoại học thuật sâu sắc:

Trường phái sử học Nam Bộ trước 1975 với Lê Văn Thử (1961) trong Hội kín Nguyễn An Ninh xem tổ chức Thanh niên Cao vọng là một hội kín mang màu sắc tôn giáo truyền thống [76, tr. 15]. Ngược lại, Trần Văn Giàu (1975) trong Sự phát triển của tư tưởng Việt Nam từ thế kỷ XIX đến Cách mạng Tháng Tám đã phân tích Nguyễn An Ninh dưới góc độ ý thức hệ dân chủ tư sản nhưng chưa làm rõ đầy đủ sự chuyển biến sang lập trường vô sản [25, tr. 473]. Hà Huy Giáp (1988) khẳng định luận điểm về “sự tiến hóa liên tục” của tư tưởng Nguyễn An Ninh đến gần với đường lối của Đảng Cộng sản [17, tr. 8].

Cuộc tranh luận học thuật quốc tế diễn ra sôi nổi:

  • David G. Marr (1971, 1984) trong Vietnamese Anticolonialism 1885 - 1925Vietnamese Tradition on Trial 1920 - 1945 đánh giá Nguyễn An Ninh là biểu tượng của thế hệ trí thức mới chối bỏ Nho giáo cổ hủ để sử dụng chính vũ khí học vấn phương Tây tấn công thực dân Pháp [92, tr. 250; 93, tr. 55].
  • Hồ Tài Huệ Tâm (1983) trong Radicalism and the Origins of the Vietnamese Revolution xếp Nguyễn An Ninh vào khuynh hướng cấp tiến chịu ảnh hưởng của Friedrich Nietzsche và chủ nghĩa vô chính phủ [95, tr. 75].
  • Philippe M. Peycam (2012) trong The Birth of Vietnamese Political Journalism khẳng định: “khi tung tờ báo La Cloche Fêlée, Ninh đã phát động một cuộc cách mạng trong làng báo chính trị” và “không đối thoại với chế độ thực dân vì anh không công nhận tính chính danh của nó về mặt lịch sử” [65, tr. 142].
  • Daniel Hémery (1973, 2006) trong Du patriotisme au Marxisme và bài phỏng vấn Nguyễn An Ninh - Người đánh thức lương tri xem ông là “người bạn đường của những người cộng sản”, lãnh tụ tinh thần vượt trên các phe phái [9, tr. 45; 10, tr. 18].

Luận án định vị chính xác khoảng trống: bác bỏ quan điểm quy chụp Thanh niên Cao vọng là “hội kín thần bí”, đính chính các sai sót về niên đại (như ngày sinh chính xác là 15/9/1900 thay vì 06/9/1900 và số lần tù đày thực tế là 5 lần chứ không phải 4 lần như Hồ Tài Huệ Tâm nhận định) [95, tr. 160; 16], đồng thời làm rõ cơ chế chuyển biến từ chủ nghĩa dân tộc sang chủ nghĩa quốc tế vô sản.

Đóng góp lý thuyết và khung phân tích

Đóng góp cho lý thuyết

Luận án mở rộng lý thuyết xã hội học trí thức thuộc địa của Karl Mannheim và Trịnh Văn Thảo bằng việc chứng minh trí thức bản xứ không thụ động tiếp nhận văn hóa mẫu quốc mà chủ động tái cấu trúc các lý thuyết phương Tây phục vụ giải phóng dân tộc. Cụ thể:

  1. Mở rộng lý thuyết Khế ước Xã hội (Jean-Jacques Rousseau): Nguyễn An Ninh đã bản địa hóa khái niệm chủ quyền nhân dân vào hoàn cảnh thuộc địa, phủ nhận tính hợp pháp của chế độ bảo hộ thông qua tác phẩm dịch thuật và bình luận Khế ước Xã hội (1923).
  2. Mô hình hóa quá trình chuyển dịch nhãn quan chính trị: Thiết lập mô hình tiến hóa gồm 3 giai đoạn: (1) Khai sáng - Bất bạo động (1922 - 1925), (2) Trực diện đối đầu - Vận động quần chúng (1925 - 1930), (3) Đồng hành chiến lược cùng phong trào Vô sản và Mặt trận Dân chủ (1930 - 1943).
  3. Định đề về Người bạn đường cách mạng (Fellow traveler): Đưa ra luận chứng khoa học giải thích việc một trí thức độc lập, đứng ngoài tổ chức Đảng Cộng sản nhưng vẫn giữ vai trò hạt nhân xây dựng cơ sở quần chúng, kết nối các lực lượng xã hội và trung kiên với mục tiêu độc lập dân tộc.

Khung phân tích độc đáo

Khung phân tích của luận án tích hợp 3 trụ cột lý thuyết:

[Chủ nghĩa Duy vật Lịch sử: Động lực đấu tranh giai cấp & Dân tộc]
[Lý thuyết Trí thức Cấp tiến: Vai trò Thức tỉnh & Truyền bá Tư tưởng]
[Phương pháp Sử học Phê phán: Giám định Đa nguồn Lưu trữ ANOM & TTLTQG II]

Cách tiếp cận phân tích văn bản diễn ngôn chính trị (Discourse Analysis) áp dụng cho các bài diễn thuyết kinh điển như Chung đúc nền học thức cho dân An Nam (21/3/1923), Cao vọng của thanh niên An Nam (15/10/1923) và 2 tác phẩm lý luận Tôn giáo (1932), Phê bình Phật giáo (1937) làm rõ bước phát triển tư duy duy vật biện chứng của ông. Điều kiện biên (boundary conditions) được xác định rõ: nghiên cứu tập trung vào không gian thuộc địa Nam Kỳ với thể chế chính trị trực trị và tính chất đa dạng tôn giáo - xã hội đặc thù.

Phương pháp nghiên cứu tiên tiến

Thiết kế nghiên cứu

  • Triết lý nghiên cứu: Chủ nghĩa hiện thực phê phán (Critical Realism) kết hợp chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử.
  • Thiết kế liên ngành: Sử học kết hợp Nhân học văn hóa và Xã hội học chính trị.
  • Cấp độ phân tích: Đa cấp độ (Multi-level design) gồm Cấp độ vĩ mô (Bối cảnh thế giới, chính sách thuộc địa Pháp), Cấp độ trung mô (Mạng lưới trí thức Sài Gòn, các tổ chức Thanh niên Cao vọng, nhóm La Lutte, Đông Dương Đại hội), và Cấp độ vi mô (Nhân cách, tư tưởng và hành vi chính trị cá nhân Nguyễn An Ninh).

Quy trình nghiên cứu rigorous

  1. Chiến lược thu thập dữ liệu: Khai thác triệt để các nguồn sử liệu cấp 1 (Primary sources):
    • Phông lưu trữ mật thám Pháp: Súp-tê (Sûreté), Nha An ninh Nội chính Đông Dương tại ANOM (Aix-en-Provence) và Phủ Thống đốc Nam Kỳ (TTLTQG II).
    • Báo chí đương thời: Báo tiếng Pháp (La Cloche Fêlée, L'Annam, La Lutte, Le Paria, L'Humanité) và báo tiếng Việt (Đông Pháp thời báo, Trung lập, Đuốc Nhà Nam, Dân chúng).
    • Nguồn điền dã và phỏng vấn sâu: Thực hiện 5 phiên phỏng vấn chuyên sâu có ghi âm với bà Nguyễn Thị Minh (con gái thứ 5 của Nguyễn An Ninh) tại số 24A Cư xá 357A Nguyễn Trọng Tuyển, Phú Nhuận, TP.HCM, đối chiếu gia phả chi phái Đoàn - Lê - Nguyễn [49, tr. 18].
  2. Tam giác giác đạc dữ liệu (Data Triangulation): Đối chiếu chéo 3 chiều: Hồ sơ cảnh sát thực dân Pháp $\leftrightarrow$ Các bài viết công khai của Nguyễn An Ninh $\leftrightarrow$ Hồi ức của các chiến sĩ cách mạng cùng thời (Phan Văn Hùm, Huỳnh Văn Một, Trần Văn Giàu, Phạm Văn Đồng).
  3. Độ tin cậy và giá trị khoa học: Áp dụng phương pháp ngoại phê phán (giám định niên đại, tính nguyên bản của văn bản lưu trữ) và nội phê phán (phân tích động cơ, ngữ cảnh chính trị của các bản báo cáo mật thám).

Data và phân tích

Hệ thống sử liệu được mã hóa và phân tích định tính qua phần mềm phân tích văn bản lịch sử, xử lý:

  • 150+ công văn, điện tín và hồ sơ theo dõi chính trị giai đoạn 1922 - 1943.
  • Toàn bộ 25 số báo La Cloche Fêlée (từ 10/12/1923 đến khi đình bản).
  • 5 lần bị bắt giam và kết án của Nguyễn An Ninh (1926, 1928, 1936, 1937, 1939).
Lần kết án Thời điểm bắt Cáo trạng thực dân Địa điểm giam giữ
Lần 1 24/3/1926 Phá rối trị an, diễn thuyết chống chính quyền Khám Lớn Sài Gòn
Lần 2 28/9/1928 Thành lập tổ chức bí mật (Thanh niên Cao vọng) Khám Lớn Sài Gòn
Lần 3 27/11/1936 Tổ chức phong trào Đông Dương Đại hội Khám Lớn Sài Gòn
Lần 4 20/7/1937 Kích động biểu tình, tán phát tài liệu phản động Khám Lớn Sài Gòn
Lần 5 05/10/1939 Hoạt động lật đổ, phần tử cộng sản nguy hiểm Đày Côn Đảo (hy sinh 1943)

Phát hiện đột phá và implications

Những phát hiện then chốt

Luận án đạt được 5 phát hiện mang tính bước ngoặt sử học:

  1. Bản chất tổ chức Thanh niên Cao vọng (1925 - 1928): Bác bỏ hoàn toàn luận điểm coi đây là “Hội kín mang tính chất tôn giáo nửa phong kiến”. Bằng chứng lưu trữ cho thấy đây là một tổ chức yêu nước bán công khai rộng lớn của thanh niên, nông dân và trí thức Nam Kỳ, với quy mô hàng chục vạn hội viên trải khắp Gia Định, Chợ Lớn, Tân An, Mỹ Tho, Bến Tre. Tổ chức này đóng vai trò vườn ươm, dọn đường và bàn giao toàn bộ cơ sở quần chúng cho các tổ chức cộng sản năm 1930 [76, tr. 14].
  2. Minh định sự kiện bức thư gửi Thống đốc Le Fol (1926): Luận án chứng minh lá thư viết từ Khám Lớn không phải là sự thỏa hiệp hay “xin tha tội” mang tính cá nhân, mà là đòn tấn công pháp lý trực diện vào tính phi lý của hệ thống tư pháp thuộc địa, bảo vệ quyền tự do tư tưởng chính đáng của người dân [76, tr. 20].
  3. Thái độ chính trị kiên định - Đứng ngoài Đảng nhưng thuộc về Đảng: Phân tích sâu sắc lý do Nguyễn An Ninh không gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương: ông muốn giữ vị thế trí thức tự do, độc lập để tập hợp rộng rãi mọi tầng lớp nhân dân, dung hòa mâu thuẫn giữa các nhóm tả ngạn, trở thành cầu nối giữa phong trào dân tộc và phong trào công nhân quốc tế. Như cố Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh từng nhận định:

"Nguyễn An Ninh là một nhà yêu nước vĩ đại, một trí thức tầm cỡ, nếu chịu khuất phục bọn đế quốc, chắc chắn ông sẽ giàu có và sống vương giả. Nhưng vì yêu nước thương dân ông đã đi vào quần chúng lao khổ vận động họ chống lại đế quốc và tay sai" [59, tr. 14].

  1. Đóng góp lý luận triết học qua hai tác phẩm "Tôn giáo" và "Phê bình Phật giáo": Chứng minh Nguyễn An Ninh là một trong những học giả mác-xít đầu tiên tại Nam Kỳ giải phẫu tôn giáo dưới góc độ duy vật lịch sử, vạch trần việc giai cấp thống trị lợi dụng thần quyền để ru ngủ quần chúng, kêu gọi nhân dân tìm kiếm hạnh phúc trong cuộc đấu tranh hiện thực [29, tr. 45].
  2. Tinh thần phản kháng văn hóa thuộc địa quyết liệt: Lên án mạnh mẽ hệ thống giáo dục nô dịch, thể hiện qua phát biểu đanh thép của Nguyễn An Ninh:

"Cái Đại học không giống ai ở Hà Nội này sản xuất ra được những gì? Nếu không phải là những người giúp việc, những loại bồi bàn dễ bảo và được trả lương thấp" [42, tr. 15].

Implications đa chiều

  • Về lý luận: Bổ sung luận cứ khoa học vào kho tàng lý luận lịch sử tư tưởng Việt Nam, làm sáng tỏ cơ chế chuyển giao thế hệ từ Nho sĩ Cần Vương, Duy Tân sang trí thức Tây học Mác-xít.
  • Về phương pháp luận: Xác lập hình mẫu nghiên cứu nhân vật lịch sử gắn liền với mạng lưới xã hội và sự vận động của bối cảnh cấu trúc thuộc địa.
  • Về thực tiễn: Cung cấp cơ sở sử liệu chuẩn xác phục vụ biên soạn các bộ chính sử, giáo trình đại học, bảo tồn di tích lịch sử (Nhà tưởng niệm Nguyễn An Ninh tại Phú Nhuận và Hóc Môn, Nghĩa trang Hàng Dương - Côn Đảo).

Limitations và Future Research

Luận án thẳng thắn nhìn nhận 3 giới hạn:

  1. Hạn chế về nguồn tư liệu đày ải Côn Đảo: Các tài liệu lưu trữ của Pháp về giai đoạn 1939 - 1943 tại Côn Đảo bị hủy hoại một phần hoặc bảo mật nghiêm ngặt, gây khó khăn trong việc phục dựng chi tiết từng ngày cuối đời của ông.
  2. Ranh giới tư tưởng phức tạp trong nhóm La Lutte: Việc xử lý mâu thuẫn nội bộ giữa xu hướng Đệ tam (Stalinist) và Đệ tứ (Trotskyist) trong nhóm La Lutte (1933 - 1937) cần thêm các nguồn lưu trữ quốc tế từ Quốc tế Cộng sản tại Nga.
  3. Định lượng mức độ phủ sóng của báo chí: Chưa thể thống kê chính xác số lượng phát hành chi tiết đến từng làng xã của tờ La Cloche Fêlée do việc phân phối thời kỳ này chủ yếu qua đường chuyền tay bí mật.

Chương trình nghiên cứu tương lai (Future Agenda):

  • Khai thác nguồn tài liệu từ Văn khố Quốc tế Cộng sản (Comintern Archives) tại Moskva về mối liên hệ giữa nhóm Trí thức Nam Kỳ và Quốc tế Ba.
  • Ứng dụng phương pháp Xã hội học mạng lưới (Social Network Analysis - SNA) để lập bản đồ tương tác giữa 222 nhân vật trí thức Tây học theo phân loại của Trịnh Văn Thảo [80, tr. 112].
  • Nghiên cứu so sánh (Comparative Study) giữa Nguyễn An Ninh với các nhà cải cách trí thức cùng thời ở Đông Nam Á (như Soekarno của Indonesia, Jose Rizal của Philippines).

Tác động và ảnh hưởng

  • Tác động học thuật: Định hình lại nhận thức sử học về vai trò của trí thức độc lập trong phong trào cách mạng Việt Nam. Dự kiến tạo nguồn trích dẫn quan trọng cho các công trình nghiên cứu lịch sử Nam Bộ và lịch sử tư tưởng chính trị cận đại.
  • Tác động xã hội và giáo dục: Tái khẳng định thông điệp sống có lý tưởng cho thế hệ trẻ. Lời kêu gọi thanh niên dấn thân, trau dồi tri thức và trách nhiệm công dân của Nguyễn An Ninh là bài học quý giá cho phong trào khởi nghiệp sáng tạo và phụng sự đất nước trong kỷ nguyên số.
  • Tầm vóc quốc tế: Nâng cao vị thế của phong trào giải phóng dân tộc Việt Nam trên bản đồ nghiên cứu học thuật quốc tế, khẳng định sự kết nối chặt chẽ giữa phong trào phản đế Đông Dương với lực lượng cánh tả và phong trào công nhân Pháp (Đảng Xã hội, Đảng Cộng sản Pháp).

Đối tượng hưởng lợi

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học chuyên ngành Lịch sử, Triết học, Văn hóa học: Tiếp cận nguồn tư liệu lưu trữ chuẩn xác và khung phân tích liên ngành mẫu mực.
  • Các nhà nghiên cứu lịch sử Đảng và Lịch sử dân tộc: Có thêm cơ sở khoa học để đánh giá công bằng, khách quan về các nhân vật lịch sử nằm ngoài tổ chức Đảng.
  • Các nhà hoạch định chính sách văn hóa - giáo dục: Ứng dụng bài học lịch sử về trọng dụng, tập hợp và phát huy sức mạnh của đội ngũ trí thức trong sự nghiệp xây dựng đất nước.

Câu hỏi chuyên sâu

1. Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là gì?

Luận án đã mở rộng Lý thuyết về sự tiếp biến ý thức hệ ở các xã hội thuộc địa khi chứng minh Nguyễn An Ninh không đơn thuần là một trí thức dân chủ tư sản chịu ảnh hưởng của Khai sáng Pháp, mà là một nhà thực hành cách mạng đã thực hiện thành công cuộc dung hợp giữa chủ nghĩa dân tộc truyền thống với phép biện chứng duy vật và chủ nghĩa quốc tế vô sản, hình thành nên một biến thể “trí thức hành động vì đại nghĩa dân tộc”.

2. Tính đổi mới trong phương pháp luận so với các nghiên cứu trước đây?

So với nghiên cứu của David G. Marr (1971) chỉ dừng ở năm 1925 và Hồ Tài Huệ Tâm (1983) thiên về phân tích tâm lý chính trị chịu ảnh hưởng của thuyết Nietzsche, luận án sử dụng phương pháp liên ngành Sử học - Nhân học kết hợp tam giác đạc sử liệu (Triangulation) từ 3 nguồn: hồ sơ mật thám Pháp (ANOM), báo chí tiến bộ đương thời và phỏng vấn sâu nhân chứng gia tộc họ Nguyễn.

3. Phát hiện bất ngờ nhất có dữ liệu minh chứng?

Phát hiện bất ngờ là thái độ tôn trọng đặc biệt của chính quyền thực dân đối với vị thế trí thức của Nguyễn An Ninh song hành cùng sự sợ hãi tột độ của họ trước năng lực cổ động quần chúng của ông. Báo cáo của Sở Mật thám Nam Kỳ đã xếp ông vào diện “nhân vật nguy hiểm bậc nhất đối với nền an ninh thuộc địa” [152], chứng minh sức mạnh của phương thức đấu tranh diễn thuyết và báo chí chính trị hợp pháp.

4. Luận án có cung cấp quy trình nhân rộng/kiểm chứng (Replication Protocol)?

Có. Toàn bộ mã số tài liệu lưu trữ tại ANOM (Aix-en-Provence, Pháp) và Trung tâm Lưu trữ Quốc gia II (TP.HCM), cùng danh mục 25 số báo La Cloche Fêlée, danh mục phỏng vấn sâu nhân chứng đều được định danh chi tiết trong phần phụ lục, cho phép các nhà nghiên cứu độc lập tra cứu và kiểm chứng nguyên bản.

5. Khung chương trình nghiên cứu 10 năm được phác thảo như thế nào?

Xây dựng Đề án Số hóa và Xuất bản toàn tập các trước tác, bài báo, bài diễn thuyết của Nguyễn An Ninh; tổ chức nghiên cứu so sánh khu vực Đông Nam Á về phong trào báo chí chính trị thuộc địa thập niên 1920 - 1930.

Kết luận

  1. Khôi phục toàn diện, chân thực và khoa học bức tranh 21 năm hoạt động yêu nước và cách mạng của Nguyễn An Ninh (1922 - 1943) trong tiến trình lịch sử Nam Bộ và cả nước.
  2. Đính chính các nhận định phiến diện, khẳng định Nguyễn An Ninh là lãnh tụ tinh thần kiệt xuất, ngọn cờ tập hợp thanh niên trí thức và quần chúng lao khổ Nam Kỳ.
  3. Làm rõ bản chất cách mạng của tổ chức Thanh niên Cao vọng, xóa bỏ cách gọi sai lệch “Hội kín mang màu sắc tôn giáo”.
  4. Xác lập vị thế của Nguyễn An Ninh là “người bạn đường tin cậy”, đồng minh chiến lược vĩ đại của những người cộng sản trong các phong trào Mặt trận Dân chủ và Đông Dương Đại hội.
  5. Cung cấp hệ thống tư liệu lưu trữ hải ngoại giá trị cao, làm phong phú thêm nguồn sử liệu học Việt Nam thời cận - hiện đại.
  6. Tôn vinh di sản tinh thần bất diệt của Nguyễn An Ninh - tấm gương ngời sáng về lòng yêu nước, khí phách kiên trung và đức hy sinh vô bờ bến vì độc lập, tự do của Tổ quốc.