Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở lý luận của đề tài 1. Một số khái niệm liên quan đến nghiên cứu Nhóm sở thích (CIGs)/Tổ hợp tác Tổ hợp tác được pháp luật thừa nhận theo luật dân sự năm 2005 của Việt Nam: Tổ hợp tác được hình thành trên cơ sở hợp đồng hợp tác có chứng thực của ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn của từ 3 cá nhân trở lên, cùng đóng góp tài sản, công sức để thực hiện những công việc nhất định, cùng hưởng lợi và cùng chịu trách nhiệm, là chủ thể trong các quan hệ dân sự. Nhóm cùng sở thích/tổ hợp tác là tổ chức hợp tác giản đơn của người sản xuất, kinh doanh,… được thành lập giúp cho các hộ cùng có mối quan tâm đến một đối tượng sản xuất, kinh doanh (cùng một loại vật nuôi; cây trồng hay một ngành nghề,…) có thể được trao đổi thông tin, chia sẻ kinh nghiệm, đề xuất nhu cầu, tiếp cận các dịch vụ khuyến nông trong lĩnh vực sản xuất của họ.
Hợp tác xã - Tổ chức Lao động quốc tế cho rằng: “ Hợp tác xã là sự liên kết của những người đang gặp phải những khó khăn kinh tế giống nhau, tự nguyện liên kết nhau lại trên cơ sở bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ, sử dụng tài sản mà họ đã chuyển giao vào hợp tác xã phù hợp với các nhu cầu chung và giải quyết những khó khăn đó chủ yếu bằng sự tự chủ chịu trách nhiệm và bằng cách sử dụng các chức năng kinh doanh trong tổ chức hợp tác phục vụ cho lợi ích vật chất và tinh thần chung”[2]. - Theo luật HTX năm 2012 có định nghĩa như sau: “ Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tập thể, đồng sở hữu, có tư cách pháp nhân, do ít nhất 07 thành viên tự nguyện thành lập và hợp tác tương trợ lẫn nhau trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm nhằm đáp ứng nhu cầu chung của thành viên, n 5 trên cơ sở tự chủ, tự chịu trách nhiệm, bình đẳng và dân chủ trong quản lý hợp tác xã” [8]. Chuỗi giá trị Theo nhóm tác giả của cuốn sách “Cẩm nang Value link”, một chuỗi giá trị là một hệ thống kinh tế có thể được mô tả như: - Một chuỗi các hoạt động kinh doanh có liên quan mật thiết đến nhau (các chức năng) từ khi mua các đầu vào cụ thể dành cho việc sản xuất sản phẩm nào đó, đến việc hoàn chỉnh và quảng cáo, cuối cùng là bán thành phẩm cho người tiêu dùng [14]. - Các doanh nghiệp (nhà vận hành) thực hiện những chức năng này, ví dụ như nhà sản xuất, người chế biến, thương gia, nhà phân phối một sản phẩm cụ thể.
Các doanh nghiệp này được liên kết với nhau bởi một loạt các hoạt động kinh doanh, trong đó sản phẩm được chuyển từ các nhà sản xuất ban đầu tới những người tiêu dùng cuối cùng [14]. - Một mô hình kinh doanh đối với một sản phẩm thương mại cụ thể. Mô hình kinh doanh này cho phép các khách hàng cụ thể được sử dụng một công nghệ cụ thể và là một cách điều phối đặc biệt giữa hoạt động sản xuất và marketing giữa nhiều doanh nghiệp [14]. - Chuỗi giá trị là một khái niệm dùng trong quản trị kinh doanh và được đưa ra đầu tiên bởi Michael Porter vào năm 1985 trong cuốn “Competitive Advantage: Creating and Sustaining Superior Performance”1.
Theo cuốn sách này, chuỗi giá trị được định nghĩa là: “Tổng thể các hoạt động liên quan đến sản xuất và tiêu thụ một sản phẩm hoặc dịch vụ nào đó. Trong chuỗi giá trị diễn ra quá trình tương tác giữa các yếu tố cần và đủ để tạo ra một hoặc một nhóm sản phẩm và các hoạt động phân phối, tiêu thụ sản phẩm, nhóm sản phẩm đó theo một phương thức nhất định. Giá trị tạo ra của chuỗi bao gồm tổng các giá trị tạo ra tại mỗi công đoạn của chuỗi”. n 6 Tác nhân • Tác nhân là một tế bào sơ cấp với các hoạt động kinh tế, độc lập và tự quyết định hành vi của mình.
Có thể hiểu rằng, tác nhân là những hộ, những doanh nghiệp, những cá nhân tham gia trong ngành hàng thông qua hoạt động kinh tế của họ. Tác nhân được phân ra làm hai loại: - Tác nhân có thể là người thực (hộ nông dân, hộ kinh doanh,.) • Tác nhân là đơn vị kinh tế (các doanh nghiệp, công ty, nhà máy,.) • Theo nghĩa rộng người ta phân tác nhân thành từng nhóm để chỉ tập hợp các chủ thể có cùng một hoạt động. Ví dụ tác nhân “nông dân” để chỉ tập hợp tất cả các hộ nông dân; tác nhân “thương nhân” để chỉ tập hợp tất cả các hộ thương nhân; tác nhân “bên ngoài” chỉ tất cả các chủ thể ngoài phạm vi không gian phân tích. • Mỗi tác nhân trong ngành hàng có những hoạt động kinh tế riêng, đó chính là chức năng của nó trong chuỗi hàng.
Tên chức năng thường trùng với tên tác nhân. Ví dụ, hộ sản xuất có chức năng sản xuất, hộ chế biến có chức năng chế biến, hộ bán buôn có chức năng bán buôn. Một tác nhân có thể có một hay nhiều chức năng. Các chức năng kế tiếp nhau tạo nên sự chuyển dịch về mặt tính chất của luồng vật chất trong ngành hàng.
Kinh tế hộ Kinh tế hộ là loại hình kinh tế trong đó các hoạt động sản xuất chủ yếu dựa vào lao động gia đình (lao động không thuê) và mục đích của loại hình kinh tế này trước hết nhằm đáp ứng nhu cầu của hộ gia đình. Để có nhận thức đầy đủ về hộ và kinh tế hộ nông dân ở nước ta hiện nay, cần tìm hiểu những đặc điểm của kinh tế hộ nông dân ở các nước kinh tế đang phát triển. Chúng tôi đồng tình với quan điểm cho rằng, ngoại trừ một số nước phát triển, các hộ nông dân ở khu vực các nước đang phát triển "có mức thu nhập thấp nhất so với các nhóm hộ khác trong xã hội". Các hộ nông dân là các nhà sản xuất nhỏ, quy mô ruộng đất của nhiều hộ chỉ cho phép sản xuất ra n 7 một lượng sản phẩm đủ nuôi sống các thành viên, tỷ trọng nông phẩm là hàng hóa còn thấp.
Các hộ nông dân có số thu lợi nhuận thấp, phần lớn sản phẩm của họ làm ra khi bán ra chỉ vừa đủ để trang trải chi phí sản xuất. Vì vậy mức độ tích lũy để mở rộng sản xuất hầu như không đáng kể. Các hộ nông dân thường sản xuất độc canh trên diện tích sản xuất nhỏ, thời gian lao động của họ chưa được tận dụng tối đa, không có thu nhập thêm nếu không tạo ra được việc làm tại chỗ. Cơ cấu kinh tế hộ nông dân khá đa dạng theo nhiều nghề khác nhau.
Tổ chức phân công lao động trong hộ có khả năng linh hoạt, vừa chuyên môn lại vừa có khả năng theo hướng kinh doanh tổng hợp. Kinh tế hộ nông dân có tính ổn định tương đối cao và có khả năng điều chỉnh linh hoạt phương hướng sản xuất theo mùa vụ, ngành nghề cho phù hợp với thời tiết và nhu cầu của xã hội. Mặt khác, tính khép kín chu trình sản xuất (từ sản xuất, chế biến đến tiêu thụ) lại cho phép hộ nông dân có tính ổn định tương đối trước những diễn biến bất thường của mùa vụ hay thị trường. Tính độc lập của kinh tế hộ nông dân tương đối cao, quy mô sản xuất kinh doanh nhỏ bé, vốn liếng hạn hẹp, trình độ sản xuất còn thấp cũng là những nhân tố khiến cho hộ nông dân gặp nhiều khó khăn trong ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, công nghệ nên không có khả năng chuyển hướng sản xuất trước những tác động của thiên tai hay biến động của thị trường.
Đây cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự phân hóa giàu nghèo của đối tượng hộ nông dân mà ở các nhóm xã hội khác không có. Gắn với nông nghiệp và nông thôn, kinh tế hộ nông dân còn mang trong nó nhiều đặc điểm kinh tế - xã hội, văn hóa của cộng đồng nông thôn được hình thành trong lịch sử. Với nhiều quốc gia, trong đó có nước ta, những đặc điểm này vừa mang lại những thuận lợi (chẳng hạn, làng nghề truyền thống, văn hóa truyền thống, những tục lệ tốt đẹp trong kinh doanh,.), và cũng gây ra không ít những n 8 trở ngại trên con đường phát triển kinh tế hộ (chẳng hạn, tính chất cô lập của phường hội, những hủ tục, quan niệm lạc hậu trong sản xuất,. Thị trường - Thị trường là nơi người mua và người bán tiếp xúc trực tiếp hoặc gián tiếp với nhau để trao đổi, mua bán hàng hóa và dịch vụ.
- Thị trường cũng có thể được xác định bởi nhu cầu về sản phẩm hoặc dịch vụ. Theo định nghĩa này, thị trường là một nhóm người có nhu cầu và họ sẵn sàng trả tiền để thoả mãn nhu cầu đó. - Thị trường là nơi diễn ra các hoạt động mua và bán một thứ hàng hóa nhất định nào đó. Với nghĩa này, có thị trường gạo, thị trường cà phê, thị trường chứng khoán, thị trường vốn,.
Cũng có một nghĩa hẹp khác của thị trường là một nơi nhất định nào đó, tại đó diễn ra các hoạt động mua bán hàng hóa và dịch vụ. Với nghĩa này, có thị trường Hà Nội, thị trường miền Trung. - Còn trong kinh tế học, thị trường được hiểu rộng hơn, là nơi có các quan hệ mua bán hàng hóa, dịch vụ giữa vô số những người bán và người mua có quan hệ cạnh tranh với nhau, bất kể là ở địa điểm nào, thời gian nào. Thị trường trong kinh tế học được chia thành ba loại: thị trường hàng hóa - dịch vụ (còn gọi là thị trường sản lượng), thị trường lao động, và thị trường tiền tệ.
Nội dung chính và ý nghĩa trong phân tích chuỗi giá trị • Theo định nghĩa về Chuỗi giá trị là một hệ thống kinh tế được tổ chức xoay quanh một hàng hoá thương mại cụ thể. Sự phối hợp các hoạt động kinh doanh trong chuỗi giá trị là rất cần thiết để cung cấp đúng chất lượng và số lượng của sản phẩm cho các khách hàng cuối cùng. Các doanh nghiệp phải phối hợp với nhau để đi đến thành công. Do đó, chuỗi giá trị: • Kết nối các hoạt động kinh doanh (sản xuất, chế biến, marketing,…) cần thiết để phục vụ khách hàng.
n 9 • Liên kết và điều phối các doanh nghiệp (nhà sản xuất sơ cấp, công nghiệp chế biến, các thương gia,…) thực hiện các hoạt động kinh doanh này.