phần mở đầu và kết luận, gồm 03 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về hoạt động TTGS của NHNN đối với các QTDND; Chƣơng 2: Thực trạng hoạt động TTGS của NHNN chi nhánh tỉnh Nam Định đối với các QTDND trên địa bàn; Chƣơng 3: Giải pháp tăng cƣờng hoạt động TTGS của NHNN chi nhánh tỉnh Nam Định đối với các QTDND trên địa bàn; 8 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG THANH TRA GIÁM SÁT CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI CÁC QTDND 1. TỔNG QUAN VỀ QUỸ TÍN DỤNG NHÂN DÂN Quỹ tín dụng nhân dân (QTDND) là một mô hình TCTD đã đƣợc Chính Phủ chỉ đạo xây dựng và thành lập thí điểm theo Quyết định số 390/QĐ-TTg ngày 27/07/1993. Năm 1996, Luật Hợp tác xã ra đời và có hiệu lực từ 01/01/1997, năm 1997, Luật các TCTD ra đời, QTDND chịu sự điều chỉnh đồng thời của Luật các TCTD và Luật Hợp tác xã. Khái niệm Theo Luật các TCTD năm 2010 Quỹ tín dụng nhân dân đƣợc khái niệm nhƣ sau: QTDND là tổ chức tín dụng do các pháp nhân, cá nhân và hộ gia đình tự nguyện thành lập dƣới hình thức hợp tác xã để thực hiện một số hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật các tổ chức tín dụng và Luật hợp tác xã nhằm mục tiêu chủ yếu là tƣơng trợ nhau phát triển sản xuất, kinh doanh và nâng cao giá trị đời sống.
Đặc trƣng cơ bản của Quỹ tín dụng nhân dân QTDND là một loại hình TCTD, nhƣng có rất nhiều đặc thù mà không một TCTD nào khác có đƣợc, cụ thể: Về tổ chức, mỗi QTDND là một TCTD độc lập, tự chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động nhƣng lại đƣợc liên kết với nhau thành một hệ thống chặt chẽ thông qua việc điều hòa vốn, hỗ trợ từng thành viên nâng cao hiệu quả hoạt động. Các QTDND cơ sở đƣợc quản lý một cách dân chủ, bình đẳng: QTDND đƣợc tổ chức và hoạt động theo mô hình hợp tác xã, các thành viên tham gia QTDND đều bình đẳng nhƣ nhau về quyền và nghĩa vụ không phụ thuộc số lƣợng vốn góp vào QTDND, thể hiện trong việc tham gia quản trị, giám sát và biểu quyết các vấn đề của QTDND. 9 Mục tiêu hoạt động của các QTDND là tƣơng trợ thành viên là chủ yếu: Hoạt động của QTDND luôn gắn với tôn chỉ mục đích là tƣơng trợ và giúp đỡ thành viên, cung cấp tín dụng một cách kịp thời, thuận tiện với giá cả hợp lý nhất cho thành viên. Đối tƣợng phục vụ chủ yếu là thành viên: Mọi sản phẩm, dịch vụ của QTDND đều nhằm đáp ứng nhu cầu và lợi ích của thành viên QTDND.
Thành viên của QTDND là cá nhân hộ gia đình, pháp nhân sinh sống hoặc có trụ sở chính đặt tại địa bàn hoạt động của QTDND. Địa bàn hoạt động: QTDND chỉ đƣợc hoạt động trong địa bàn đƣợc cấp phép, địa bàn hoạt động của QTDND là một xã, một phƣờng, một thị trấn (sau đây gọi chung là địa bàn xã) hoặc địa bàn liên xã thì các xã thuộc địa bàn hoạt động của một QTDND phải là xã liền kề với xã nơi QTDND đặt trụ sở chính và thuộc phạm vi cùng một quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh. Cơ cấu tổ chức của quỹ tín dụng nhân dân Cơ cấu tổ chức của QTDND gồm: Đại hội thành viên, Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Ban điều hành (Giám đốc). Đại hội thành viên: Là cơ quan có quyền quyết định cao nhất của QTDND.
Đại hội thành viên thảo luận và Quyết định những vấn đề: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh trong năm, báo cáo công khai tài chính, kế toán, dự kiến phân phối lợi nhuận và xử lý các khoản lỗ nếu có; báo cáo hoạt động của hội đồng quản trị và ban kiểm soát; phƣơng hƣớng hoạt động kinh doanh năm tới; tăng, giảm vốn điều lệ, mức vốn góp của thành viên; bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm chủ tịch và các thành viên khác của Hội đồng quản trị, trƣởng Ban kiểm soát và các thành viên khác của Ban kiểm soát; thông qua danh sách kết nạp thành viên mới và cho thành viên ra khỏi QTDND theo đề nghị của Hội đồng quản trị; quyết định khai trừ thành viên; chia tách, hợp nhất, sáp nhập, giải thể đối với QTDND; sửa đổi, bổ sung điều lệ; những vấn đề khác do Hội đồng quản trị, ban kiểm soát hoặc có ít nhất một phần ba tổng 10 số thành viên đề nghị. Hội đồng quản trị: Là cơ quan quản trị QTDND bao gồm Chủ tịch và các thành viên khác của Hội đồng quản trị; số lƣợng thành viên Hội đồng quản trị do đại hội thành viên quyết định nhƣng không ít hơn 03 thành viên; nhiệm kỳ của Hội đồng quản trị do đại hội thành viên Quyết định và đƣợc ghi trong điều lệ, ít nhất là 02 năm và không quá 05 năm. Hội đồng quản trị có nhiệm vụ: Bổ nhiệm, miễn nhiệm, bãi nhiệm, thuê hoặc chấm dứt hợp đồng thuê Giám đốc theo nghị quyết, quyết định của Đại hội thành viên; bổ nhiệm, miễn nhiệm các Phó giám đốc theo đề nghị của Giám đốc; tổ chức thực hiện nghị quyết, quyết định của Đại hội thành viên; chuẩn bị báo cáo đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh; phê duyệt báo cáo tài chính, báo cáo về kế hoạch hoạt động kinh doanh, báo cáo hoạt động của Hội đồng quản trị để trình Đại hội thành viên; chuẩn bị chƣơng trình Đại hội thành viên và triệu tập Đại hội thành viên; tổ chức thực hiện các quyền, nghĩa vụ của QTDND theo quy định của pháp luật; xét kết nạp thành viên mới và giải quyết việc thành viên xin ra, trừ trƣờng hợp khai trừ thành viên và báo cáo để Đại hội thành viên thông qua; chịu trách nhiệm về các quyết định của mình trƣớc Đại hội thành viên; các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định tại Điều lệ của QTDND. Ban kiểm soát: Ban kiểm soát do đại hội thành viên bầu và có không ít hơn 03 thành viên trong đó ít nhất phải có 01 kiểm soát viên chuyên trách.
Ban kiểm soát có nhiệm vụ: Kiểm tra, giám sát hoạt động của QTDND theo quy định của pháp luật; kiểm tra việc thực hiện Điều lệ, nghị quyết, quyết định của Đại hội thành viên, nghị quyết, quyết định của Hội đồng quản trị; giám sát hoạt động của Hội đồng quản trị, Giám đốc và thành viên QTDND; kiểm tra hoạt động tài chính, giám sát việc chấp hành chế độ kế toán, phân phối thu nhập, xử lý các khoản lỗ, sử dụng các quỹ, tài sản và các khoản hỗ trợ của Nhà nƣớc; giám sát an toàn trong hoạt động của QTDND; thực hiện kiểm toán nội bộ trong từng thời kỳ, từng lĩnh vực nhằm đánh giá chính xác 11 hoạt động kinh doanh và thực trạng tài chính của QTDND; tiếp nhận, giải quyết theo thẩm quyền khiếu nại, tố cáo có liên quan đến hoạt động của QTDND theo quy định của pháp luật và Điều lệ QTDND; triệu tập Đại hội thành viên bất thƣờng trong một số trƣờng hợp theo quy định; thông báo Hội đồng quản trị, báo cáo Đại hội thành viên và Ngân hàng Nhà nƣớc về kết quả kiểm soát; kiến nghị với Hội đồng quản trị, Giám đốc khắc phục những yếu kém, vi phạm trong hoạt động của QTDND. Ban điều hành (Giám đốc): Do Hội đồng quản trị bổ nhiệm một thành viên hội đồng quản trị hoặc thuê ngƣời khác làm Giám đốc QTDND. Giám đốc là ngƣời điều hành cao nhất có nhiệm vụ điều hành các công việc hằng ngày của QTDND. Vai trò của Quỹ tín dụng nhân dân QTDND góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế nông nghiệp, nông thôn: Hoạt động của QTDND tạo thêm việc làm cho ngƣời nông dân, đặc biệt là trong lúc nông nhàn, góp phần thúc đẩy việc mở rộng, khôi phục ngành nghề và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn.
Hệ thống QTDND góp phần đa dạng hóa các loại hình TCTD, tạo nên một hệ thống TCTD đƣợc cấu trúc theo kiểu mô hình khác nhau về chế độ sở hữu, quy mô và phạm vi hoạt động, góp phần tạo ra một thị trƣờng tài chính sống động, phong phú ở khu vực nông nghiệp, nông thôn. QTDND có vai trò tích cực trong việc huy động nguồn vốn tại chỗ, hạn chế tình trạng cho vay nặng lãi, góp phần quan trọng vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế và thực hiện mục tiêu xóa đói, giảm nghèo: QTDND là loại hình TCTD phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội khu vực nông nghiệp và nông thôn. QTDND có nhiều thuận lợi và lợi thế trong việc huy động nguồn vốn nhàn rỗi tại chỗ trong dân cƣ. Việc tiếp cận đối với nguồn vốn vay từ các QTDND có nhiều thuận lợi đối với các cá nhân, 12 tổ chức kinh tế nhỏ lẻ tại vùng nông thôn.
Các QTDND là nhân tố không thể thiếu giúp cho nông dân và những ngƣời sản xuất, kinh doanh nhỏ nâng cao hiệu quả hoạt động, cải thiện đời sống nhân dân, góp phần giảm tình trạng đói nghèo và phân hóa giàu nghèo, đẩy lùi nạn cho vay nặng lãi, tạo ra môi trƣờng lành mạnh về tiền tệ tín dụng tại nông nghiệp, nông thôn. Với cơ chế tổ chức quản lý dân chủ, quy mô nhỏ, các QTDND là loại hình kinh doanh năng động, dễ thích ứng với sự thay đổi môi trƣờng hoạt động, cùng với sự liên kết chặt chẽ thành một hệ thống, mô hình QTDND nói riêng và TCTD hợp tác nói chung ngày càng trở thành một bộ phận kinh tế quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Các hoạt động cơ bản của Quỹ tín dụng nhân dân QTDND là một TCTD do đó, các hoạt động của QTDND cũng bao gồm một số các hoạt động của một TCTD. Hoạt động cơ bản của QTDND bao gồm: Nhận vốn góp của các thành viên; Huy động vốn bằng vay các TCTD và nhận tiền gửi của thành viên và cá nhân, tổ chức khác; Cấp tín dụng dƣới hình thức cho vay; cung cấp dịch vụ chuyển tiền, thực hiện thu hộ, chi hộ cho thành viên và các hoạt động khác.
Hoạt động nhận vốn góp: QTDND nhận vốn góp từ thành viên để tăng vốn điều lệ đảm bảo đủ vốn pháp định, tăng khả năng tài chính của QTDND. Vốn góp của thành viên bao gồm vốn góp xác lập tƣ cách thành viên và vốn góp bổ sung. Hoạt động huy động vốn: Các QTDND đƣợc vay vốn từ các TCTD khác (trừ QTDND khác), nhận tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn bằng đồng Việt Nam của thành viên và ngoài thành viên. Trong đó, hoạt động nhận tiền gửi là hoạt động huy động vốn chủ yếu của QTDND.