Đặt vấn đề Nghị định 41/2010/NĐ - CP của Chính phủ về chính sách tín dụng ngân hàng phục vụ nông nghiệp, nông thôn có nhiều đổi mới, đã thu hút các ngân hàng, tổ chức tín dụng tham gia, đầu tƣ cho khu vực nông nghiệp, nông thôn nhiều hơn. Các dịch vụ tín dụng ngày càng đa dạng phong phú và có chất lƣợng. Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới (WB), hiện nay hầu hết nông dân Việt Nam đã có điều kiện tiếp cận nguồn vốn dễ dàng hơn từ các tổ chức tín dụng vi mô. Tuy nhiên, so với yêu cầu phát triển của khu vực này, tín dụng nông thôn Việt Nam vẫn chƣa phát huy tối đa tiềm năng của các tổ chức tín dụng nông thôn, hiệu quả hoạt động còn thấp, đặc biệt chƣa có hệ thống cảnh báo rủi ro sớm đối với khách hàng ở khu vực nông thôn.
Sự kết hợp hoạt động giữa các tổ chức tín dụng nông thôn trong nƣớc với hệ thống các tổ chức tín dụng nông thôn quốc tế còn hạn chế. Việc phân bổ nguồn vốn của khu vực này chƣa thực sự trọng tâm, trọng điểm, chƣa cân đối với nhu cầu và khả năng tạo ra hàng hóa, đặc biệt là hàng hóa xuất khẩu của từng vùng, miền. Trong khi đó, sự cạnh tranh giữa các Tổ chức tín dụng vi mô ở nông thôn đang diễn ra ngày càng mạnh mẽ. Hiện nay, kinh tế trên địa bàn thị xã Chí Linh đang ngày càng phát triển, song song với quá trình công nghiệp hóa - đô thị hóa.
Chính vì thế, nhu cầu về vốn cho các hộ kinh doanh ngày càng cao, đặc biệt là các hộ nông dân. Nhiều ngân hàng thƣơng mại vẫn dễ dàng hơn khi cung cấp dịch vụ tài chính cho các doanh nghiệp lớn, các cá nhân giàu trong khu vực nông thôn. Trong khi đó, những hộ nghèo và khá lại khó khăn trong vay vốn, khiến ngƣời đi vay nản chí và nghĩ cách xoay sở bằng các nguồn khác, điều này làm mất cân đối hệ thống tín dụng nông thôn huyện. Nghiên cứu cơ sở lý luận về hệ thống tín dụng nông thôn, xác định đặc điểm, hoạt động và các nhân tố ảnh hƣởng cũng nhƣ xu thế phát triển của hệ thống tín dụng nông thôn và các chỉ tiêu đánh giá sự phát triển của hệ thống tín n 2 dụng nông thôn và các chỉ tiêu đánh giá sự phát triển của hệ thống là cần thiết nhằm đánh giá đúng hệ thống tín dụng cho nông thôn Việt Nam hiện nay.
Bên cạnh đó, nghiên cứu kinh nghiệm về việc phát triển hệ thống tín dụng cho nông thôn trong và ngoài nƣớc nhằm rút ra những bài học áp dụng vào thực tiễn phát triển hệ thống tín dụng cho nông thôn Việt Nam là rất cần thiết. Chí Linh nằm ở phía đông bắc tỉnh Hải Dƣơng, cách trung tâm tỉnh 40km. Phía đông giáp huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh. Phía nam giáp huyện Nam Sách.
Phía bắc giáp tỉnh Bắc Giang. Phía bắc và đông bắc của Chí Linh là vùng đồi núi thuộc cách cung Đông Triều, ba mặt còn lại đƣợc bao bọc bởi sông Kinh Thày, sông Thái Bình và sông Đông Mai. Chí Linh nằm trong vùng tam giác kinh tế Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh. Có đƣờng giao thông thuận lợi.
Đƣờng bộ có Quốc lộ 18 chạy dọc theo hƣớng đông - tây qua trung tâm huyện nối liền Hà Nội - Quảng Ninh, Quốc lộ 183 nối Quốc lộ 5 và đƣờng 18, đƣờng 37 là đƣờng vành đai chiến lƣợc quốc gia từ trung tâm huyện đi tỉnh Bắc Giang. Đƣờng thủy có chiều dài 40km đƣờng sông bao bọc phía đông, tây, nam của huyện thông thƣơng với Hải Phòng, Bắc Giang, Đáp Cầu (Bắc Ninh). Năm 2010 thị xã Chí Linh đƣợc thành lập lên thị xã. Hiện nay Chí Linh là một thị xã đang trên đà phát triển trở thành trung tâm trung chuyển, trung tâm mua bán nông sản và du lịch sinh thái.
Tuy nhiên nguồn thu nhập chính của ngƣời dân trong địa bàn huyện vẫn là từ sản xuất nông nghiệp, bên cạnh đó các hoạt động phi sản xuất nông nghiệp cũng có một nhu cầu lớn về vốn và sự đóng góp của các hoạt động tín dụng trên địa bàn. Mặc dù hiện tại trên địa bàn huyện có mặt nhiều tổ chức tín dụng nhƣ NHNN & PTNT, NH CS - XH, các tổ chức tín dụng nhỏ khác… nhƣng vẫn chƣa đáp ứng đủ nhu cầu vốn của ngƣời dân, các hoạt động tín dụng dang gặp nhiều bất cập cả từ các tổ chức và từ phía ngƣời dân. Triển khai Nghị định số 41/2010/NĐ - CP của chính phủ: Về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn, huyện đang gặp nhiều khó n 3 khăn, trình độ, năng lực của đội ngũ cán bộ còn hạn chế, đời sống của nhân dân còn khó khăn nên khả năng tiếp cận nguồn tín dụng thấp. Do vậy, để hiểu rõ hơn về tín dụng trong nông thôn, tôi chọn đề tài “Nghiên cứu hoạt động hệ thống tín dụng chính thống trên địa bàn nông thôn thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương”.
Mục tiêu nghiên cứu - Đánh giá thực trạng và xác định các nhân tố ảnh hƣởng đến hoạt động hệ thống tín dụng nông thôn. - Đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cƣờng hoạt động tín dụng có hiệu quả trên địa bàn trong những năm tới. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 3. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học - Góp phần hệ thống hóa lý luận cơ bản về tín dụng nông thôn.
- Học viên có cái nhìn tổng thể hơn về sự phát triển tín dụng và có những định hƣớng thúc đẩy sự phát triển đó trên địa bàn. - Nâng cao năng lực, rèn luyện kỹ năng và phƣơng pháp nghiên cứu khoa học cho mỗi học viên trƣớc khi ra trƣờng. Ý nghĩa đối với thực tiễn - Chỉ ra sự phát triển của hệ thống tín dụng trên địa bàn thị xã Chí Linh. Đồng thời, đánh giá các nhân tố ảnh hƣởng tới sự phát triển cũng nhƣ hiệu quả sử dụng vốn tín dụng ở thị xã Chí Linh.
- Đề xuất định hƣớng và đƣa ra giải pháp nhằm phát triển hệ thống tín dụng trên địa bàn trong những năm tới, giúp cải thiện đời sống ngƣời dân, phát triển kinh tế xã hội của địa phƣơng. n 4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài 1. Khái niệm, đặc điểm và phân loại tín dụng nông thôn 1.
Khái niệm và đặc điểm của tín dụng nông thôn * Các khái niệm: Tín dụng là một phạm trù kinh tế và nó cũng là sản phẩm của nền kinh tế hàng hóa, phản ánh quan hệ vay mƣợn giữa các chủ thể trong nền kinh tế theo nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi đúng thời hạn, có mục đích và bảo đảm tiền vay. Theo nghĩa nguyên thủy, tín dụng là sự tin tƣởng, tín nhiệm mà cho vay mƣợn các loại vật tƣ, hàng hóa, tiền tệ. Nhƣ vậy, tín dụng không chỉ là sự vay mƣợn thông thƣờng mà là sự vay mƣợn với một mức tín nhiệm nhất định. Tức là khi thực hiện quyền cho vay, ngƣời cho vay tin vào khả năng trả nợ của ngƣời đi vay.
Hiểu theo nghĩa rộng, tín dụng là một loại quan hệ xã hội biểu hiện mối liên hệ kinh tế, trƣớc hết là dựa trên cơ sở niềm tin, (Mai Siêu, 2012) [12] Tín dụng nông thôn là bất cứ loại chƣơng trình tiết kiệm và cho vay, nhằm mục đích tác động đến một số cƣ dân nông thôn. Tùy theo tính chất của tín dụng nông thôn, kế hoạch tín dụng có thể tập trung vào việc cung ứng tín dụng, đảm bảo mua sắm trang thiết bị mới, nâng cao năng suất cây trồng, vật nuôi, đổi mới hoặc cải thiện cuộc sống của ngƣời dân nông thôn… (World Bank, 2015) [24] Hệ thống tín dụng nông thôn (HTTDNT) là khối liên kết các tổ chức cung cấp các dịch vụ tín dụng cho các cá nhân và tổ chức (dân chúng, doanh nghiệp, các tổ chức khác) trong khu vực nông thôn, hiện hữu trên địa bàn nông thôn, với mục tiêu trực tiếp phục vụ cho nhu cầu địa bàn nông thôn. Các khách hàng của HTTDNT thƣờng ít tiếp cận đƣợc hoặc không tiếp cận đƣợc dịch vụ tín dụng của các ngân hàng thƣơng mại. HTTDNT thƣờng cung cấp các dịch vụ nhƣ nhận tiền gửi, cho vay, chuyển tiền, bảo hiểm.
* Đặc điểm chung của hệ thống tín dụng nông thôn n 5 Thứ nhất, chi phí giao dịch trong khu vực nông thôn thƣờng cao hơn khu vực đô thị (đối với cả các tổ chức và khách hàng) vì ở nông thôn có mật độ dân số phân tán, cơ sở hạ tầng chất lƣợng thấp, khả năng tiếp cận thông tin, dịch vụ, kinh doanh còn hạn chế. Thứ hai, các tổ chức tín dụng phải đối mặt với các rủi ro cao hơn do sự chia cắt thị trƣờng và dòng tiền thấp. Thứ ba, hoạt động tín dụng muốn thành công phải vận dụng linh hoạt cả cơ sở pháp lý chính thức và phi chính thức. Thứ tư, khách hàng của tổ chức tín dụng thƣờng có khả năng chịu đựng rủi ro thấp và tính dễ bị tổn thƣơng cao.
Thứ năm, các tổ chức tín dụng phải đối mặt với vấn đề cầu về các dịch vụ tín dụng nông thôn thƣờng có tính thời vụ cao. Những đặc điểm trên xuất phát từ đặc thù cơ bản của khu vực kinh tế xã hội nông thôn. Nhìn chung, những đặc điểm này làm cho hệ thống tín dụng nông thôn trên địa bàn phát triển sẽ gặp khó khăn hơn, cần sự nỗ lực nhiều hơn so với thành thị. Tuy nhiên các vùng nông thôn cũng có những đặc điểm kinh tế xã hội rất khác nhau vì vậy dẫn tới sự khác biệt về đặc điểm của hệ thống tín dụng.
Phân loại tín dụng Cho đến nay có nhiều tài liệu nghiên cứu về các hình thức tín dụng trong nền kinh tế thị trƣờng. Những nghiên cứu đó đã phân tích tín dụng theo các tiêu thức nhất định nhƣ thời gian cho vay, đối tƣợng cho vay, mục đích và hình thức biểu hiện của vốn và chủ thể các quan hệ tín dụng (Lê Văn Tú, 2014) [16], (Đỗ Tất Ngọc, 2013) [8]. * Phân loại theo thời gian: + Tín dụng ngắn hạn: Là tín dụng sử dụng để tài trợ cho tài sản lƣu động hoặc nhu cầu sử dụng vốn ngắn hạn của Nhà nƣớc, doanh nghiệp, hộ sản xuất.