ĐẶT VẤN ĐỀ Xã hội đang ngày một phát triển, mức sống của người dân ngày càng được nâng cao, vì thế một vẻ đẹp hoàn thiện đang trở thành mối quan tâm hàng đầu của con người trong đ thẩm mỹ khuôn mặt là một thành tố quan trọng góp phần tạo nên vẻ đẹp hoàn thiện đ đồng thời cũng tạo nên những đặc điểm, tính cách riêng cho m i cá nhân, từ đ hình thành nên những nét đặc trưng riêng cho các chủng tộc khác nhau [1],[2]. Để phân tích sự giống và khác nhau về đặc điểm hình thái khuôn mặt giữa các chủng tộc, có ba phương pháp chính thường được s dụng đ là: đo trực tiếp trên, phân tích gián tiếp qua ảnh, phân tích gián tiếp qua phim X-quang chụp theo kỹ thuật từ xa. Trong đ , phương pháp đánh giá qua đo trực tiếp trên khu n mặt cho ta biết chính xác kích thước thật, các ch số trung thực hơn. Tuy nhiên phương pháp này mất nhiều thời gian và cần c nhiều kinh nghiệm để xác định các điểm chuẩn chính xác trên m mềm nên hiện nay ít được các tác giả s dụng trong nghiên cứu [3],[4] mà chủ yếu s dụng phân tích qua phim X-quang chụp theo kỹ thuật từ xa và ảnh chụp chuẩn hóa kỹ thuật số (KTS) do tính khách quan cao, có thể phân tích được cả mô cứng và mô mềm [5],[6],[7], và dễ dàng lưu trữ th ng tin.
Đặc biệt, cùng với sự phát triển không ngừng của nền công nghệ số với các phần mềm đo đạc chuyên dụng c độ chính xác cao, bác sĩ điều trị có thể dựa vào các ch số sọ - mặt trên phần mềm để lập kế hoạch điều trị và tiên lượng cho bệnh nhân [8],[9]. Trên thế giới, cũng đ có nhiều tác giả khác nhau nghiên cứu về vấn đề này như: Steiner, Downs, Ricketts, Tweed. [10],[11],[12],[13], và đưa ra các ch số được các bác sĩ ch nh nha và phẫu thuật tạo hình s dụng để điều trị. Tuy nhiên, các nghiên cứu trước đây thường tập trung trên người Caucasian và do vậy các kết quả đưa ra thường là để áp dụng cho người Caucasian [14].
2 Trong lĩnh vực y học n i chung và răng hàm mặt, ngoại khoa, phẫu thuật tạo hình hàm mặt n i riêng. Các ch số vùng đầu - mặt… là những th ng tin rất quan trọng giúp ích trong việc chẩn đoán và lập kế hoạch điều trị để phục hồi lại các chức năng cơ bản về mặt thẩm mỹ do các bệnh lý hoặc do tai nạn giao th ng, tai nạn lao động gây ra, ngoài ra c n được s dụng trong ngành khác như bảo hộ lao động, nhận dạng hình sự, hội họa và điều khắc… Tuy nhiên ở Việt Nam hiện nay, chúng ta vẫn chưa c các ch số, số đo, kích thước vùng đầu - mặt đặc trưng cho người Việt Nam. Thời gian qua, tại Việt Nam, cũng đ c một số tác giả nghiên cứu như Hoàng T Hùng [1] (1999), Lê Gia Vinh [15] (2000), Đ Thị Thu Loan [16] (2008), Võ Trương Như Ngọc [17] (2010), Lê Nguyên Lâm (2014) [18]… Tuy nhiên, các tác giả thường nghiên cứu trên cả cộng đồng và chưa đại diện cho một nh m đối tượng c nét đẹp hài h a ở khu n mặt, để c thể xác định được các ch số đầu - mặt và làm tiêu chuẩn cho người Việt Nam ở lứa tuổi trưởng thành. Để giải quyết vấn đề này, chúng ta cần phải có các nghiên cứu rộng hơn về ch số sọ mặt và tiến hành trên một nh m đối tượng phù hợp với quan điểm thẩm mỹ khuôn mặt của người trưởng thành Việt Nam.
Và cũng chính vì lý do đ , chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu một số đặc điểm hình thái, chỉ số đầu-mặt ở một nhóm ngƣời Việt độ tuổi từ 18 - 25 có khớp cắn bình thƣờng và khuôn mặt hài hòa” với 2 mục tiêu sau: 1. Mô tả một số đặc điểm hình thái đầu - mặt của một nhóm người Việt độ tuổi t 1 - 25 có khớp cắn bình thường và khuôn mặt hài hòa trên phim sọ thẳng t xa và ảnh chu n hóa thẳng. ác định một số chỉ số đầu-mặt của một nhóm người Việt độ tuổi t 18 - 25 có khớp cắn bình thường và khuôn mặt hài hòa trên phim sọ nghiêng t xa và ảnh chu n hóa nghiêng. 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN 1.
Khái niệm về khớp cắn Khớp cắn là danh từ thường được dùng để ch sự tiếp xúc giữa bề mặt các răng của hàm trên và các răng của hàm dưới khi thực hiện các chức năng sinh lý như ngậm, cắn hay kh ng sinh lý như nghiến răng… [19],[20]. Khớp cắn hiểu theo nghĩa rộng c n dùng để ch toàn bộ các yếu tố thuộc về cấu trúc và chức năng của hệ thống nhai. Khớp cắn lý tưởng Khớp cắn lý tưởng là khớp cắn c tương quan răng-răng đúng theo m tả lý thuyết, có quan hệ giải phẫu và chức năng hài h a với những cấu trúc khác của hệ thống nhai trong tình trạng lý tưởng. Trước đây, khớp cắn thường được gọi là lý tưởng khi về giải phẫu, nó có tương quan răng-răng, múi trũng đúng theo m tả lý tưởng.
Nhưng như vậy, mới ch dựa trên những quan niệm định hướng theo răng mà kh ng quan tâm đến các thành phần khác của hệ thống nhai. Về mặt thực hành lâm sàng, khớp cắn lý tưởng là mục tiêu mong muốn đạt đến, kh ng tính đến khả năng điều trị thực tế. Tương quan giữa các răng trong một hàm. Tương quan theo chiều trước-sau [19]: Tất cả các răng đều tiếp xúc nhau ở cả mặt gần và xa, ngoại trừ răng khôn ch có một điểm tiếp xúc phía gần.
Với thời gian, các điểm tiếp xúc sẽ trở thành mặt phẳng tiếp xúc. Độ nghiêng ngoài-trong của răng: Trục ngoài-trong của răng nhìn từ phía trước, theo mặt phẳng trán). Ở hàm trên các răng sau nghiêng về phía ngoài (phía má). Ở hàm dưới, các răng hơi nghiêng về phía trong phía lư i).
4 Đường cong Wilson: Đường cong Wilson là đường cong hướng lên trên, đi qua đ nh núm ngoài và trong của các răng sau hàm dưới. Đường cong Wilson kết hợp với độ cắn sâu ở những răng sau cho phép những núm ngoài răng dưới trượt hài h a trên sườn trong của núm ngoài răng trên khi đưa hàm sang bên. Độ nghiêng gần-xa của răng: Trục gần-xa của răng, nhìn từ phía bên và chiều trước sau thì hàm trên các răng trước nghiêng gần và các răng sau nghiêng xa, hàm dưới các răng trước và sau đều nghiêng gần. Các răng hàm thứ hai và thứ ba nghiêng về phía gần nhiều hơn các răng hàm nhỏ.
Đường cong Spee: Đường cong Spee ở cung răng vĩnh viễn người trẻ là một đường cong lõm hướng lên trên, đi qua đ nh răng nanh và đ nh núm ngoài của các răng hàm nhỏ và lớn hàm dưới, với nơi thấp nhất nằm ở đ nh múi gần ngoài của răng hàm lớn thứ nhất. Độ sâu trung bình của đường cong Spee ở người Việt Nam được ghi nhận là [21]: - Nam: 2,019 (mm). - Chung cả hai giới: 1,912 (mm). Đường cong Spee với độ nghiêng theo chiều trước sau của răng nanh và những răng hàm là một yếu tố quan trọng để ổn định hai hàm.
Đường cong Spee [19]. Tương quan giữa các răng hàm trên và hàm dưới Chiều trước - sau: + Tương quan răng nanh: Đ nh của răng nanh hàm trên trùng với đường giữa răng nanh và răng hàm nhỏ hàm dưới. + Tương quan răng hàm lớn thứ nhất: Đ nh núm ngoài gần của răng hàm lớn thứ nhất hàm trên khớp với r nh ngoài gần của răng hàm lớn thứ nhất hàm dưới. + Độ cắn chìa: Là khoảng cách giữa bờ cắn răng c a trên và dưới theo chiều trước sau.
Độ cắn chìa trung bình là 1 - 2mm. Ở người Việt Nam, độ cắn chìa trung bình: 2,79 mm [21]. Chiều đứng: + Độ cắn phủ: Là khoảng cách giữa bờ cắn răng c a trên và dưới theo chiều đứng khi hai hàm cắn khớp. Trung bình độ cắn phủ bằng 1/3 chiều cao thân răng c a dưới.
Độ cắn phủ thay đổi tùy theo dân tộc. Độ cắn phủ trung bình ở người Việt Nam: 2,89 (mm) [21]. + Răng trên tiếp xúc với răng dưới vừa khít ở vùng răng hàm nhỏ và răng hàm lớn. Chiều ngang: + Cung răng trên trùm ra ngoài cung răng dưới sao cho núm ngoài răng trên trùm ra núm ngoài răng dưới.
+ Đ nh núm gần ngoài răng hàm lớn thứ nhất hàm dưới tiếp xúc với r nh giữa 2 núm của răng hàm nhỏ và răng hàm lớn thứ nhất hàm trên. + Đường giữa hai hàm trùng nhau và trùng với đường giữa mặt. Quan niệm răng hàm hài hòa lý tưởng Về mặt hình thái học: Tỷ lệ các tầng mặt cân đối, hài h a giữa kích thước rộng, dài theo ba chiều kh ng gian. Răng cân đối hài h a với nhau, với cung hàm và khuôn mặt.
Răng cùng số ở vị trí cân xứng hai bên đường nối giữa hàm trên đối với cung răng trên và ở vị trí cân xứng hai bên đường nối phanh lư i và phanh m i dưới với hàm dưới. Về chức năng: Đạt hiệu suất ăn nhai, n i, thở cao nhất, đảm bảo chức năng khi hoạt động và khi tĩnh lu n cân bằng. Về thẩm mỹ: Đảm bảo thẩm mỹ cao. Trên thực tế, khớp cắn lý tưởng là kh ng thể đạt được vì n đ i hỏi mọi thứ phải hoàn hảo về cả sự phát triển răng, m i trường phát triển như trương lực cơ, dây chằng khớp, sự bồi xương tiêu xương…cũng như khả năng bù trừ chống m n cơ học [20].
Vì vậy trên lâm sàng một khớp cắn lý tưởng khi các răng sắp xếp đều đặn trên cung hàm và c đường cắn đúng. Khớp cắn trung tâm là khớp cắn c những quan hệ các răng theo 3 chiều kh ng gian [20],[22]: - Trước - sau: + Đ nh núm ngoài gần răng c a dưới hàm trên năm ở r nh ngoài răng hàm lớn hàm dưới c n gọi là quan hệ trung tính. + Đ nh răng nanh hàm trên nằm ở đường giữa răng nanh và răng hàm nhỏ thứ nhất hàm dưới sườn gần răng nanh trên tiếp xúc với sườn xa răng nanh dưới. + Rìa cắn răng c a trên tiếp xúc hay ở phía trước răng c a dưới 1-2 mm (trùm ngoài).
- Chiều ngang: + Cung răng trên trùm ra ngoài cung răng dưới sao cho núm ngoài răng trên trùm ra ngoài răng dưới.