Chương 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ ĐÊ GIẢM SÓNG KẾT CẤU RỖNG TRONG CHỨC NĂNG BẢO VỆ BỜ BIỂN 1. Giới thiệu chung 1. Cơ chế phá hoại bờ biển Tùy vào từng đặc trưng khác nhau về chế độ gió sẽ gây ra các trường sóng biển tương ứng tác động vào các khu vực ven biển.
Ở Việt Nam, các trường sóng chính do hai chế độ gió mùa Đông Bắc và gió mùa Tây Nam gây ra. Trong khu vực ven bờ, sóng biển có vai trò rất quan trọng trong quá trình vận chuyển bùn cát, xói lở ven bờ. Khi sóng truyền vào vùng ven bờ, do địa hình đáy biển nâng cao và sự không đồng nhất về địa hình đáy, sóng biển ven bờ bị vỡ và có phân bố không đều. Chính sự phân bố không đều này đã tạo ra trường ứng suất sóng khác nhau và là nguyên nhân hình thành dòng chảy phát sinh do sóng.
Sóng biển tác động trực tiếp vào bờ biển một cách liên tục, phá vỡ kết cấu của đất bờ, tạo ra bùn cát. Đồng thời, dòng chảy ven bờ do sóng gây ra là tác nhân vận chuyển bùn cát đi nơi khác và gây sạt lở bờ biển. Hiện tượng sạt lở bờ biển ở các vùng không có hệ sinh thái rừng ngập mặn thì càng nghiêm trọng hơn, do không được “hấp thụ” sóng. Với bờ biển có hệ sinh thái rừng ngập mặn, hiện tượng sạt lở bờ biển sẽ giảm đi do nó có khả năng làm giảm chiều cao sóng, giảm tác động từ sóng và bão gây ra.
Tuy nhiên, rừng ngập mặn phòng hộ bờ biển khu vực ĐBSCL đang bị đe dọa nghiêm trọng do nhiều nguyên nhân khác nhau. Nguyên nhân chính là do lượng phù sa từ sông Mekong theo dòng chảy của sông ra biển bị giảm đáng kể từ tác động của các đập thượng nguồn, không cung cấp đủ cho sự sinh tồn của nhiều vùng ven biển. Vì vậy, trong những năm gần đây ở ĐBSCL, hiện tượng sạt lở bờ biển đã và đang diễn ra ngày càng nghiêm trọng dù có hay không có rừng ngập mặn. Hình 1-1 cho thấy hiện tượng xói lở bờ biển và rừng ngập mặn ở biển Tây của ĐBSCL.
Xói lở bờ biển, rừng ngập mặn ở ĐBSCL do tác động của sóng biển [2] Chính vì vậy để bảo vệ bờ biển, tái tạo lại đường bờ, bảo vệ rừng phòng hộ cũng như các công trình ven biển thì cần xây dựng những công trình có tác dụng giảm tác động của sóng biển lên rừng ngập mặn, bãi biển và bờ biển, ngăn chặn được sự chuyển 6 động bùn cát từ bờ ra ngoài và giữ lại một lượng phù sa phía sau công trình. Từ nguyên lý đó, trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đã tiến hành các giải pháp công trình “cứng” và “mềm” với một số dạng điển hình sau đây: + Giải pháp “cứng”: Dạng bị động như kè biển mái nghiêng (Hình 1-2a); Dạng chủ động như mỏ hàn biển (Hình 1-2b), đê chắn sóng xa bờ (Hình 1-2c), ĐGS ngầm (Hình 1-2d). + Giải pháp “mềm”: Hàng rào cọc tre (Hình 1-2e) và Hàng rào “chữ T” bằng cừ tràm (Hình 1-2f). Kè biển Afsluitdijk tại Hà Lan b.
Kè mỏ hàn ở Nhà Bè – TP. Đê chắn sóng xa bờ ở Anh d. ĐGS ngầm ở Cửa Đại - Quảng Nam e. Hàng rào cọc tre bảo vệ đường bờ f.
Hàng rào cọc tre chữ T tại Bạc Liêu biển tại Cà Mau Hình 1-2. Các giải pháp giảm sóng, bảo vệ bờ biển trên thế giới và Việt Nam [3] [4] [5] Khi lựa chọn giải pháp kỹ thuật để bảo vệ bờ biển tại một khu vực cụ thể nào đó, cần phải vận dụng một cách linh hoạt các nhóm công trình hay phi công trình hoặc kết 7 hợp của hai dạng này với nhau, nhưng đồng thời cũng phải phù hợp điều kiện kinh tế, kỹ thuật và môi trường tự nhiên của khu vực đó. Thực tế cho thấy việc lựa chọn giải pháp bảo vệ bờ biển thường hướng đến loại công trình vừa có thể giảm sóng, vừa có thể cho bùn cát lắng đọng nhằm tái tạo được hệ sinh thái tự nhiên, giảm thiểu tối đa các tác động tiêu cực đến môi trường. Đồng thời công trình cần có giá thành hợp lý, kỹ thuật thi công đơn giản,.
ĐGS kết cấu rỗng được cho là giải pháp đáp ứng các tiêu chí đó trong chức năng giảm sóng, gây bồi lắng và bảo vệ bờ biển. Vì vậy, thời gian gần đây, nhiều nước đã sử dụng ĐGS kết cấu rỗng để thay thế cho các giải pháp công trình như kè biển, mỏ hàn biển, hay đê chắn sóng không cho sóng truyền qua để ứng phó với hiện tượng thiếu hụt bùn cát, biến đổi khí hậu và nước biển dâng đang gia tăng trên quy mô toàn cầu. Hiện trạng các công trình ĐGS kết cấu rỗng bảo vệ bờ biển tại các nước trên thế giới và Việt Nam ĐGS kết cấu rỗng được nhiều nước như Mỹ, Nhật Bản, Úc, Tây Ban Nha, … xây dựng để bảo vệ bờ biển. Hiện nay Mỹ là quốc gia có công trình ĐGS kết cấu rỗng sớm nhất với dự án đầu tiên có tên gọi là Venice dài 183m thuộc bang California được xây dựng năm 1905 và đến năm 1993 đã có 23 dự án ĐGS được xây dựng để bảo vệ bờ biển ở các bang California, Florida, Hawaii, Ohio, Virginia, Maryland, Louisiana,… [6].
Còn tại Châu Âu, dự án DELOS (1998-2002) đã chứng minh rằng ĐGS kết cấu rỗng mang lại hiệu quả vượt trội so với các giải pháp công trình truyền thống như đê chắn sóng tường đứng, kè biển hay mỏ hàn cứng và minh chứng là số lượng công trình ĐGS kết cấu rỗng đã xây dựng chiếm tỷ lệ tới 66%, trong khi mỏ hàn biển chỉ chiếm 8%, còn lại 26% là các dạng công trình khác. Những quốc gia như Anh, Ý, Tây Ban Nha, Đan Mạch, Pháp là những quốc gia xây dựng nhiều ĐGS kết cấu rỗng nhất ở Châu Âu [7]. Tại Châu Á, Nhật Bản là quốc gia dành nhiều ngân sách nhất cho việc bảo vệ bờ biển, chỉ tính riêng giai đoạn từ năm 1950 đến 2002 thì nước này đã tiêu tốn khoảng 40,66 tỷ USD để làm các công trình bảo vệ bờ biển, trong đó ĐGS kết cấu rỗng được xây dựng với chiều dài lên đến 873km và đây là tổng chiều dài ĐGS kết cấu rỗng dài nhất thế giới hiện nay [8]. Một vài quốc gia khác ở Châu Á trong đó có Việt Nam cũng sử dụng ĐGS kết cấu rỗng để bảo vệ bờ biển, song còn rất hạn chế về số lượng và qui mô công trình so với Nhật Bản, Mỹ và các nước ở Châu Âu [9] Ở Việt Nam cũng đang thử nghiệm một số dạng công trình ĐGS kết cấu rỗng bảo vệ bờ biển (Hình 1-3) như đê cọc ly tâm tại Cà Mau và Bạc Liêu [10], [11], ĐGS dạng bán nguyệt (đê trụ rỗng), ĐGS bê tông cốt phi kim và ĐGS dạng cừ tràm tại Cà Mau, ĐGS bằng hàng rào cọc tre tại Bạc Liêu, Sóc Trăng, Kiên Giang.
Bên cạnh đó, một số ĐGS “cứng” hơn như bằng túi Geotube tại Tiền Giang, Trà Vinh, Cà Mau, kè rọ đá, cừ bản nhựa (hầu như không cho sóng truyền qua) tại Cà Mau [4], [5], [12]. Tuy nhiên, các công trình trên chủ yếu để xử lý những vị trí xói lở cục bộ, một số công trình sau khi xây dựng kém bền vững, hiệu quả giảm sóng chưa cao và khả năng nhân rộng mô hình còn hạn chế [13]. Nguyên nhân chính là do còn thiếu cơ sở khoa học trong tính toán, đánh giá hiệu quả giảm sóng của các công trình trên khi lập dự án hoặc 8 tuy có đủ cơ sở khoa học và lý luận nhưng thiết kế lại ít coi trọng đến giới hạn phạm vi ứng dụng cụ thể. ĐGS khối Tetrapod ở Lộc An, b.
ĐGS túi Geotube ở Hiệp Thạnh, tỉnh Thành phố Vũng Tàu Trà Vinh c. ĐGS bê tông trụ rỗng ở Sào Lưới, d. Đê cọc ly tâm ở Đất Mũi, Cà Mau tỉnh Cà Mau e. ĐGS hàng rào cọc tre tại biển Tây, e.
Tường giảm sóng dạng hai hàng rào Cà Mau tre, lõi bó tràm tại Nhà Mát, Bạc Liêu Hình 1-3. Một số loại công trình ĐGS bảo vệ đê biển, bờ biển ở Việt Nam hiện nay [4] [5] 1. Phân loại công trình đê giảm sóng kết cấu rỗng Công trình ĐGS kết cấu rỗng có chức năng chính là tiêu hao năng lượng sóng tác động trực tiếp lên vùng được che chắn phía sau trong khi vẫn cho phép một phần nước và bùn cát truyền qua công trình. Công trình ĐGS kết cấu rỗng được phân loại với các dạng cơ bản như sau: 9 1.
Theo cao độ đỉnh công trình so với mực nước thiết kế: ĐGS kết cấu rỗng được chia làm 2 dạng cơ bản là ĐGS ngầm và ĐGS nhô. ĐGS ngầm cho phép sóng tới truyền qua và truyền phía trên công trình. ĐGS nhô chỉ cho sóng truyền qua mà không truyền phía trên công trình trừ trường hợp thời tiết cực trị như bão kết hợp đỉnh triều, nước dâng. Trường hợp bờ biển có biên độ triều dao động lớn dẫn đến công trình ĐGS có thể là ngầm khi mực nước thủy triều cao, nhô khi mực nước thủy triều thấp, khi đó gọi là công trình ĐGS bán ngập.
Theo kết cấu kết hợp vật liệu xây dựng: Công trình có kết cấu đá đổ hay lõi đá hộc hỗn hợp phủ các khối như Tetrapod, Tribar, Dolos,… đá đổ kết hợp với cát, hàng rào cọc tre, cừ tràm,…[3]. Theo hình dạng mặt cắt ngang hình học: Công trình có mặt cắt ngang dạng hình thang, dạng chữ nhật, dạng bán nguyệt,… 4. Theo hình dạng bố trí trên mặt bằng: Công trình có thể là một đoạn (đê đơn), hay nhiều đoạn đứt quãng (nhóm đê) song song hoặc xiên góc với đường bờ. Trong một số trường hợp tuyến đê có dạng chữ V hoặc chữ Z.
Chức năng giảm sóng của công trình đê giảm sóng kết cấu rỗng Khi sóng truyền qua công trình ĐGS kết cấu rỗng, chiều cao sóng bị suy giảm do năng lượng sóng bị tiêu tán thông qua quá trình sóng vỡ phía trên đê (với ĐGS ngầm), phản xạ, ma sát và dòng chảy (Hình 1-4) qua thân công trình. Các yếu tố chi phối quá trình tiêu hao năng lượng sóng khi truyền qua đê là thông số sóng tới, độ sâu nước, đặc trưng vật liệu đê và thông số hình học của đê. Quá trình tiêu hao năng lượng sóng qua ĐGS kết cấu rỗng ngầm [3] Mỗi loại công trình ĐGS kết cấu rỗng có mức độ tiêu tán năng lượng và chế độ sóng phía sau công trình khác nhau.