Chương 1 TONG QUAN 1. Tổng quan về cỏ dại 1. Định nghĩa cỏ dại Tat cả những thực vật sống trên đồng ruộng ngoài mục dich trồng trọt của con người, có đặc điểm sinh học đặc biệt, gây ảnh hưởng xấu đến quá trình sinh trưởng, phát triển, năng suất và pham chat cây trồng, có tính thích ứng và chống chịu cao với điều kiện ngoại cảnh khắc nghiệt được gọi là cỏ dại (Nguyễn Văn Quy, 2009). Đặc điểm của cỏ dại Theo Trần Văn Hai (2009), cỏ dai có khả năng phát tán và duy trì quan thé ôn định ở nhiều điều kiện sống khác nhau dựa vào khả năng thích nghi cao như: - Sinh trưởng nhanh.
Ví dụ: Một hạt cỏ lồng vực cạn (Echinochloa colona) sẽ cho 50 chéi sau 45 ngày, lúa sẽ cho 25 chi khi trồng trong chậu. - Thích ứng tốt với điều kiện khắc nghiệt của môi trường: Chiu hạn. Ví dụ: Co túc hình (Digitaria sanguinalis), cỏ tranh (mperafa cylindrica), cỏ cú (Cyperus rotundus). Chiu mặn, ngọt.
Vi dụ: Co nước man (Scirpus maritimus). - Có miên trạng: giúp hạt co ngừng phát triển khi bị vùi sâu trong long dat. Vi dụ: Hạt cỏ lồng vực cạn (Echinochloa spp.) khi bị vùi sâu trong đất sau 4 tháng sẽ mọc lại. - Phát tán xa: Hat cỏ nhẹ, có lông tơ min nhờ gió đưa di rất xa.
Hạt cỏ chứa không khí, nổi được trên mặt nước nên dé di chuyên sang các ruộng lân cận. Hạt cỏ có móc câu nên dé bám vào lông côn trùng. Ngoài ra, áo quan công cụ lao động trên đồng ruộng cũng giúp hạt cỏ di chuyên di xa. Phần loại cỏ dại 1.
Phân loại theo thời gian sống Theo Nguyễn Mạnh Chinh va cs (2005), cỏ dai được chia ra 2 nhóm chính: cỏ hằng niên và cỏ đa niên. - Cỏ hằng niên: Thời gian chu kỳ sống ngắn trong vòng 1 năm (từ khi nảy mầm đến khi ra hoa kết hạt rồi chết). Trong nhóm này có nhiều loại cỏ thuộc nhiều họ ở cả nhóm lá hẹp và lá rộng. Dién hình là các loài cỏ lồng vực, đuôi phụng, cỏ túc, cỏ chân vịt, có đuôi chồn.(họ Hòa bản), cỏ cháo, cỏ lac.
(họ Cói lác), rau trai, có mực, dền gai, cỏ voi voi. - Cỏ đa niên: Là những loài cỏ có chu kỳ sống dài trên 1 năm. Ngoài sinh san bang hạt, những loài cỏ đa niên còn sinh sản bằng các phan của cơ quan dinh dưỡng được tách rời khỏi cây mẹ như một đoạn thân hoặc một khúc rễ. Thuộc nhóm này có nhiều loài cỏ lá hẹp và lá rộng như cỏ chỉ, cỏ tranh, cỏ ống.
(họ Hòa bản), u du, cỏ cú, cỏ năng (họ Cói lác), rau ngo, cỏ sữa đất, trinh nữ gai, cây chối đực, mã đề. Phân loại theo số lá mầm Theo Chu Thị Thơm và cs 2006), cỏ đại có thể được phân loại theo số lá mầm như sau: cỏ một lá mầm (hay còn gọi là co lá hep bao gồm các nhóm cỏ thuộc học hoà bản và chác lác) và nhóm cỏ hai lá mầm (còn gọi là cỏ lá rộng). Cỏ 1 lá mầm: Có hòa thao (grasses) đốt đặc, long rỗng, thân tròn hoặc dep, thân không có sự phân hóa ra miền vỏ và miền trụ. Có hệ rễ chùm do rễ chính không phát triển.
Lá thường không phân biệt cuống, nhiều khi có gốc phát triển thành bẹ. Lá thường có lưỡi bẹ và đôi khi tai lá. Lá nọ mọc đối nối tiếp lá kia từ đốt. Lá dài và hẹp, gân lá song song.
Lá sắc, có nhiều lông. Đỉnh sinh trưởng được bọc kín trong bẹ lá. Phôi có 1 lá mầm, hoa thường mẫu 3, đôi khi mẫu 2, rất ít khi mẫu 4, không có mẫu 5. Có cói lac (cuperusiria) có thân thường hình tam giác và đặc ruột, không phan biệt bẹ lá và phiến lá.
Lá không có tai lá hoặc lưỡi bẹ, đính trên thân theo 3 hàng từ 3 phía quanh thân. Phần gốc của các lá hình thành một ống bao quanh thân. Lá dai và hẹp, gân lá song song, lá mềm và mỏng. Đỉnh sinh trưởng được bọc kín trong bẹ lá, có một số loài cỏ dại một lá mầm nhưng có những đặc điểm khác trên: cỏ trạch tả hay mã đề nước (Alisma plantago-aquatica L.
Cỏ 2 lá mam: Lá thường rộng, nằm ngang, mềm và ít lông, lá thường có cuống, gân lá hình mạng lưới, có hệ rễ trụ đo rễ chính phát triển, với các rễ bên, đỉnh sinh trưởng lộ ra ngoài, phôi có 2 lá mầm, hoa mẫu 5, đôi khi mẫu 4, thân có sự phân hóa ra miền vỏ và miễn trụ. Phân loại dựa theo đặc điểm thân cành Tùy thuộc vào sự phát triển mô gỗ trên thân và nhánh, cỏ có thé được chia thành các nhóm: cỏ thân thảo, thân gỗ, thân bụi, thân bụi leo và thân leo (Trần Văn Hai, 2009). Cây thân thảo: Các loài cỏ thuộc nhóm này có thân nằm trên mặt đất, thân cây không hóa gỗ, chết lụi vào thời kì tạo quả. Ví dụ: mã đề (Plantago asiatica), cỏ man trau (Eleusine indica (L.
Cây thân gỗ: Các loài thuộc nhóm này sống nhiều năm, có thân sinh trưởng thứ cấp hóa gỗ, thân chính phát triển mạnh, trên thân chính phân cành và chồi măng vòm lá. Thân chính của cây gỗ to, nhỏ, cao, thấp, có cành nhánh nhiều hay ít tùy thuộc vào từng loài. Ví dụ: bạch dương (Populus alba), nữ trình tử (Ligustrum lucidum). Cây bụi: Thuộc nhóm này gồm các loài thân gỗ nhiều năm, thân chính không có hoặc kém phát triển, cành nhánh bắt đầu từ gốc của thân chính.
Chiều cao của cây bụi thường không vượt quá 7m. Ví dụ: ngũ sac/tram 6i (Lantana camara), mai duong/trinh nữ thân g6/trinh nữ móc (Mimosa pigr4). Cây bụi leo: Nhóm này gồm những cây bụi có cành hóa gỗ dựa vào những cây khác dé leo lên như cây bông giấy (Bougainvillea spectabilis). Cây leo: Nhóm này gồm các loài có tua cuốn mềm, không mọc thang đứng được phải dựa vào các cây khác hoặc vật khác làm giá thé (nhờ các cơ quan đặc biệt như tua cuốn, đây móc, rễ phy, nhánh hoặc lá) như bìm bìm (Impomoea cairica).
Việc phân biệt cỏ thân thảo và thân bụi, thân gỗ là rất cần thiết trong công tác quản lý cỏ dai vì biện pháp kiêm soát các nhóm cỏ này hoàn toàn khác nhau. Phân loại theo khả năng thích ứng với hàm lượng nước trong đất Theo Tran Văn Hai (2009), cỏ đại được phân ra 3 loại dựa theo khả năng thích ứng với hàm lượng nước trong đất như sau: Cỏ ưa nước: Cỏ nhóm này phát triển mạnh ở đất bão hòa hoặc có mực nước trên mặt đất như: cỏ sống nôi trên mặt nước, cỏ có thân lá không vượt ra khỏi mặt nước và cỏ có rễ cắm sâu vào đất và thân lá vượt lên khỏi mặt nước. Cỏ chịu hạn: Cỏ thích âm nhưng có khả năng chịu hạn được trong một thời gian tương đối dai (1 mùa khô 6 tháng). Cỏ ưa hạn: Cỏ có khả năng chịu được điều kiện khô hạn khắc nghiệt như cỏ cú (Cyperus rotundus).
Tác hai của cỏ dại 1. Cỏ dai ức chế sự sinh trưởng, phát triển của các loài thực vật khác Một vài loài co dại có khả năng han chế sự cạnh tranh của các loài khác bằng cách tiết ra các hóa chất độc hại ức chế sự sinh trưởng, phát triển bình thường của các loài thực vật khác gọi là hiện tượng “al/elopathy” (sự cảm nhiễm qua lại). Sự sinh trưởng, phát triển của cây trồng giảm mạnh trong những trường hợp này (Đỗ Thị Kiều An, 2010). Ví dụ: Cỏ tranh, loài cỏ phố biến trên đất thoát nước kém, cản trở kha năng tái sinh của rừng, làm ức chế sự phát triển của đậu Stylo Stylosanthus guyanensis (cây thức ăn gia súc), kê đuôi chồn Sefaria italica, cỏ ba lá Medicago polymorpha và thông Pinus roxburghii (Anjum và cs, 2005).
Hay như rễ của loài cỏ Broomrape có thể tiêu diệt đậu và rau xanh, không chỉ làm thất thu vụ thu hoạch đó, mà còn làm cho đất mat khả năng canh tác trong nhiều năm. Cỏ dại làm giảm năng suất cây trồng Cỏ dại làm giảm năng suất và sản lượng cây trồng nghiêm trọng nhất trong tất cả các loại dịch hại cây trồng. Theo TNAU (2016), thiệt hại do cỏ dai chiếm khoảng 45% tông thiệt hại trong sản xuất (Hình 1. Disease-20 _ % <5 Weeds45 % Weeds 8lnsect ñDiseases OOthers Hình 1.
Các tác nhân làm giảm san lượng nông nghiệp Trong thời kỳ sinh trưởng của cây trồng, nếu cỏ dại không được kiểm soát chúng có thé gây ra tôn thất tối đa về năng suất, nhưng cỏ dai rất khó kiểm soát vì chúng sinh sôi rất nhanh và một cây có thể tạo ra hàng ngàn hạt giống. Theo Anderson (1983), một số loại cỏ dại tạo ra rất nhiều hạt, ví dụ như cây dền xanh (Amaranthus retroflexus) tạo ra 117.000 hat/cay, cây sam (Portulaca oleracea) tạo 52.000 hạt/cây, cây rau muối (Chenopodium album) tạo 28.000 hạt/cây và cỏ đuôi cáo vàng (Sefaria glauca) tạo 12. Hang năm cỏ đại gây thiệt hại về năng suất đối với nhiều loại cây trồng, góp phần làm nghiêm trọng thêm tình trạng khan hiếm lương thực trên thé giới. Cỏ dại ảnh hưởng đến chất lượng nông sản Cỏ dại gây ảnh hưởng đến chất lượng nông sản như sau (Đỗ Thị Kiều An, 2010): Một số loài cỏ dại nếu gia súc ăn phải sẽ làm giảm chất lượng sữa và thịt, như toi dại (Parthenium) làm giảm chất lượng thịt và sữa và có thé làm cho sản phẩm không tiêu thụ được.
Nuôi cừu lấy lông thả trên đồng ruộng có cây ké đầu ngựa (Xanthium strumarium), hạt cỏ đính vào lông cừu làm giảm chất lượng lông cừu thương phẩm. Hạt của cây cải dầu hoang (Brassica spp.) lần trong hạt lúa mì, bột mì xay ra có mùi cải dầu hoang, người tiêu dùng không chấp nhận. Hat cỏ Parthenium lẫn vào hạt giống cỏ làm thức ăn gia súc làm giảm chat lượng hạt giông và bi cam trao đôi buôn bán ở những vùng chưa bị nhiễm loài cỏ này. Hạt và đoạn gãy của thân cỏ có độ âm cao lẫn trong hạt cây trồng sau thu hoạch, tiếp tục hô hap làm cho hạt nông sản nóng lên và có thé bị thối.
Ở những ruộng cây trồng có lẫn cỏ đại, hàm lượng dinh dưỡng của sản phẩm bị giảm sút. Có dại là ký chủ của sau bệnh hai và chuột Có dại là ký chủ của sâu bệnh hại và là nơi trú an của chuột. Các loài cỏ dai cùng họ, bộ hay có những đặc điểm giống với cây trồng là những ký chủ phụ rất tốt cho sâu bệnh. Ngoài việc làm ký chủ, co dại còn tạo điều kiện sinh thái thích hợp cho sự phát triển của sâu bệnh.
Ruộng có nhiều cỏ dại, âm độ và nhiệt độ cũng thay đổi, thường thuận lợi cho sâu bệnh phát triển (Nguyễn Hữu Trúc, 2011).