MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Thời hiện đại đặt ra cho con người những vấn đề ngày một cao hơn, hàng loạt những vấn đề phức tạp mà trong quá trình sinh hoạt, vận động, phát triển của con người không thể thiếu việc giải quết chúng. Và triết học đã, đang và mãi mãi có mục đích duy nhất là con người, giải phóng con người, đem lại tự do, hạnh phúc cho con người. Việt Nam là nước đang phát triển, vị thế còn khiêm tốn trên trường quốc tế nên việc chủ động học hỏi tiếp thu có chọn lọc những thành tựu văn minh nhân loại đặc biệt là nền văn minh tiên tiến của phương Tây là cần thiết.
Nghiên cứu về các giá trị văn hóa tinh thần, đặc biệt là triết học của các nước phương Tây hiện đại, không chỉ giúp chúng ta nâng cao trình độ học thuật, mở rộng chuyên môn mà còn tạo tiền đề cho việc xây dựng thế giới quan và phương pháp luận khoa học bổ sung giải quyết những vấn đề mới do thời đại đặt ra. Hệ thống tư tưởng triết học phương Tây được cấu thành bởi nhiều những trào lưu, trường phái, bởi bộ óc thiên tài của các nhà triết học tài ba quy tụ từ nhiều quốc gia khác nhau: Đức, Anh, Pháp, Áo,. Nước Đức — “một đất nước thật đẹp và những bàn tay của những con người thật tài hoa đã dày công dệt lên đó một bức tranh đầy màu sắc, hay như viết lên đó một bản giao hưởng với những nốt nhạc thần tiên. Con người và thiên nhiên đã hòa vào thành một tuyệt tác nghệ thuật.
Một đất nước đi đâu cũng gặp các công trình kiến trúc, nghệ thuật, các di tích lịch sử mang đậm nét dấu vết của thế giới ý tưởng của bao thời, của những bàn tay khối óc nghệ sĩ. Đi đâu cũng gặp danh nhân và tác phâm huy hoàng của những con người khai phá. Càng đi càng thấy đất nước càng đẹp, con người càng tài hoa. Con người đã xây dựng ngôi nhà của mình thành một kỳ quan sống! Không biết có phải các vị thần Hy lạp đã nhập vào dân tộc đó hay không dé tái tạo những tác phẩm của mình trên quả đất” [47, tr.
Và ở đó, “bầu trời trí thức chúng ta bị các nhà tư tưởng Đức thay đổi nhiều bầu trời vật lý bởi các kiến trúc sư Đức” [trích theo 47, tr. Nước Đức là cái nôi sản sinh ra nhiều nhà triết học nổi tiếng, của các hệ tư tưởng lớn trải đài trong tiến trình lịch sử và những ảnh hưởng của nó tới các nhiều trường phái, trào lưu triết học khác, sự toả lan ra nhiều quoc trên thê giới. Hiện tượng học là một trong những trào lưu quan trọng của triết học phương Tây Hiện đại. Nó có ảnh hưởng lớn tới triết học từ cuối thế kỷ XIX và xuyên suốt thế kỷ XX.
Không lâu sau khi xuất hiện, Hiện tượng học đã chiếm vị trí nổi bật trên bản đồ triết học bắt đầu từ Đức và nhanh chóng lan ra nhiều nơi trên thế giới. Hiện tượng học tồn tại cả trăm năm, có tác động mạnh ở nhiều quốc gia, vượt ra khỏi khuôn khổ của triết học ảnh hưởng tới nhiều ngành khoa học xã hôi và nhân văn khác: tâm lý học, sử học, xã hội học,. Hiện tượng học Husserl là tiêu biêu cho trào lưu này. Nghiên cứu Hiện tượng học Husserl là điều cần thiết.
Thi nhất, vai trò của Hiện tượng học Husserl đối với hệ thống triết học phương Tây. Bởi lẽ, nó không không chỉ là tiền đề, phương pháp luận cho các trào lưu triết học phương Tây thế kỷ XX như chủ nghĩa hiện sinh’, thong dién hoc’, triét hoc ngôn ngữ. mà còn là hệ quy chiếu quan trọng của các ngành khoa học xã hội nhân văn khác: văn học, nghệ thuật, tôn giáo,. Hiện tượng học Husserl ra đời khi khoa học đang tiến hành những ' Chủ nghĩa hiện sinh (Existentialism) đã mượn ở S.
Kierkegaard khái niệm “hiện sinh”, quan niệm “tư duy hiện sinh” và sự đối lập của nó với tư duy khoa học. Theo quan niệm này, không phải tư duy khoa học mà chỉ có tư duy hiện sinh mới có thé nhận thức được và thâm nhập vào thế giới nội tâm của con người và tồn tại con người với tư cách hiện sinh. Kierkegaard được coi là “ông tổ” của chủ nghĩa hiện sinh nói chung. Hiện sinh (Existenz) được xem là một phương thức sống, một thái độ sống độc đáo, có một không hai của con người cá nhân với tính cách là một tôn tại hữu hạn, bộ phận cốt lõi nhất của cải Tôi của con người cả nhân.
Hiện sinh không phải là bản chất, không phải là cái gì đó bat biến, tiền định và có sẵn. Sartre's, tồn tại có trước bản chất, tức là người ta chưa có một bản chất riêng nhất cho tới khi họ có những quyết định chuyên biệt và chọn lựa hoạt động của họ, do đó xác định mình là gì. Triết học hiện sinh tập trung vào con người cá nhân đang tồn tại hiện sinh; thay vì tìm kiếm chân lý ở những. khái niệm phô quát xa xôi, thuyết hiện sinh dé ý những môi quan tâm đích thực của các cá nhân hiện hữu cụ thé khi họ đối diện với các chọn lựa và các quyết định trong đời sông hằng ngày.
? Thông diễn học (Hermeneutics) bắt nguồn từ Hermeneutics trong tiếng Hy Lạp cổ đại, là một phần của ngôn ngữ chung từ thế ky XVII. Người đầu tiên sử dụng thuật ngữ này là Plato trong một số đối thoại đối lập nhận thức thông diễn với nhận thức về sự khôn ngoan (sophia). Thông diễn học bao gồm: (1) một cách dé thâu hiểu văn bản, hay ngôn ngữ, hay truyền thống, (2) một nghệ thuật thông suốt, bao gồm nghệ thuật diễn giải (ars explanandi), nghệ thuật diễn nghĩa (ars explicandi), và nghệ thuật chuyển nghĩa (ars interpretandi), (3) một phương pháp để hiểu một cách trung thực, tức giải thích học (exegesis), và (4) một phương cách triết học (philosophical hermeneutics). Thông diễn học là là một sự hiểu biết về chính cuộc sống, về thế giới sống, về tất cả những yếu tính liên quan tới sự sống.
Chính vì thế, một nền thông diễn học đầy đủ bắt buộc phải nhìn ra cái toàn thê của cuộc sống. Đồng thời nó phải đào sâu vào mỗi khía cạnh của cuộc sông, của cái toàn thé. Bây giờ ta có thê hiểu được, khi Dilthey cho rằng thông diễn học là nền tảng của nền Khoa học Tỉnh thần, ông muốn nói đến nền khoa học con người, tới nền tảng nhân văn (humanities) tức cái truyền thống hàng ngàn năm của nhân loại. Khi Gadamer chủ trương vai trò của chủ thể trong sự hiểu biết, khi ông nhấn mạnh tới cái mà ông gọi là “vòng thông diễn” (hermeneutical circle), tới cái nên tảng của sự hiểu biết chung nơi con người gắn liền với tình cảm chung nơi mọi người (sự đồng cảm), ông đã nói lên được bản tính con người (human nature), cách sống, cách hiểu, cách cảm (tình) của họ.
Tương tự, thầy của ông, nhà triết gia đại tài Heidegger, cũng đã găn liền bản thể với cái cội nguồn của sự sống. Sự phân tích hiện tượng về hiện thể (phenomenology of Dasein) của ông cũng là một lối thông diễn cách thế sông, cách thế hiểu của con người mà thôi. 3 Triết học ngôn ngữ xem xét lại và đem lại tính cấp bách cho niềm tin vào lời nói, phản ánh vai trò ngày một tăng của ngôn ngữ trong cuộc sống của xã hội và của cá nhân. Luận điểm khái quát của triết học ngôn ngữ hiện đại là không một vân dé căn bản nao của tồn tại người có thể được đặt ra được giải quyết mà thiếu sự quan tâm sâu sắc đến ngôn ngữ, mà không tính đến vai trò của ngôn ngữ, vì con người là thực thể duy nhất tạo ra cho mình những vấn dé thông qua ngôn ngữ.
4 bước chuyển quan trọng. Một thời kỳ khoa học và những van dé mà khoa học còn bỏ ngỏ về cuộc sống, về văn hoá, về chính bản thân con người; thời kỳ người ta nhen lên ý định muốn thoát ra khỏi sự bủa vây của khủng hoảng đi tìm một phương pháp khác một cách căn bản. Phương pháp hiện tượng học ra đời thay thế cho lý luận nhận thức đương thời bộc lộ nhiều hạn chế khi đồng nhất triết học và tâm lý học. Husserl đã chủ trương phương pháp hiện tượng nhằm thiết lập một nền tảng triệt dé, thoát khỏi những tiền giả định mà các khoa học và triết học đã dựng lên trên chúng.
Phương pháp này cho phép “quay trở lại với chính bản thân sự vật”, từ đó tìm thấy những giá trị truyền thống đã mat trong xã hội hiện đại, tìm lại “tính người” trong chính con người, khắc phục cuộc khủng hoảng van hoá, tinh than châu Âu. Thứ hai, Hiện tượng học Husserl đứng trên một góc tiếp cận mới về triết học, cung cấp phương pháp nghiên cứu độc đáo, cung cấp một bộ công cụ các phạm trù, khái niệm, nguyên lý quan trọng đề tìm hiểu các trường phái triết học trước và sau nó. Husserl không băng lòng với thực trạng phát triển của khoa học, triết học đương thời và hệ quả nó đem tới cho đời sống con người, cho các vấn đề chính trị văn hóa, xã hội ở châu Âu và rộng ra là toàn bộ xã hội châu Âu cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX. Do vậy, ông đã tiến hành phân tích, đánh giá lại thành tựu khoa học đương thời và triết học trước đó với con người và xã hội châu Âu hiện đại.
Từ đó, ông đưa ra những chỉ báo về một cuộc khủng hoảng toàn diện, đặc biệt là cuộc khủng hoảng văn hoá tinh thần đang dần hiện hữu. Đương thời, quan điểm triết học của E. Husserl đã gặp phải những phê phán gay gắt. Tuy nhiên, ngày nay, việc nghiên cứu E.
Husserl cũng là cơ hội để chúng ta có cái nhìn khách quan hơn về , đánh giá các quan điểm triết học, kết quả khoa học nói chung, triết học của E. Husserl và những đánh giá triết học của ông. Thứ ba, Ph. Ăngghen đã từng nói: “Một dân tộc muốn đứng trên đỉnh cao của khoa học thì không thể không có tư duy lý luận” [32, tr.
Chính vì vậy, việc tìm hiểu những hệ thống tư duy lý luận vốn đã giúp cho các cường quốc công nghiệp phương Tây đứng vững trên những thành tựu khoa học vĩ đại của họ là công việc cần được ưu tiên hàng đầu nhằm phát triển tư duy lý luận và khoa học công nghệ tại Việt Nam. Tư duy lý luận bao giờ cũng được dẫn đường bởi thế giới quan và phương pháp luận do triết học cung cấp.