Chương 1 KHÁI LƯỢC CÁC QUAN ĐIỂM TRIẾT HỌC KHÁC NHAU VỀ CHIẾN TRANH 1.1 Các quan điểm triết học trước Mác về chiến tranh Với những trải nghiệm trong lịch sử, chiến tranh cùng những hậu quả mà nó đem lại đã làm cho các nhà tư tưởng mọi thời đại phải lo lắng. Ở thời kỳ đầu của lịch sử nhân loại, xã hội cộng sản nguyên thủy, trong điều kiện kinh tế - xã hội còn thấp kém, phân công lao động xã hội chưa phát triển thì chiến tranh chưa xuất hiện theo đúng nghĩa của từ này. Do vậy, những tư tưởng về chiến tranh cũng chưa xuất hiện. Khi chế độ tư hữu ra đời, xã hội phân chia thành các giai cấp đối kháng và các kiểu nhà nước của giai cấp thống trị ra đời, và từ đây, chiến tranh trở thành người bạn đường của các kiểu nhà nước đó.
Đồng thời với sự xuất hiện của chiến tranh, thì những tư tưởng, quan điểm về chiến tranh cũng xuất hiện và phát triển. Ngay từ thời cổ đại, các triết gia phương Tây đã cố gắng làm sáng tỏ bản chất của chiến tranh, cội nguồn và vai trò của nó trong đời sống xã hội. Chẳng hạn, Hêraclít coi chiến tranh là cha đẻ của vạn vật và là vua của muôn loài, Platôn (427- 347 TCN) cho chiến tranh là hiện tượng tự nhiên của các dân tộc, gắn liền nguồn gốc của chiến tranh với việc chiếm hữu của cải. Arixtốt (384- 322 TCN) đã quan niệm chiến tranh là một sự đam mê của những người hoạt động quân sự.
Trong các thế kỷ II, III đã xuất hiện những lý thuyết thần học về chiến tranh nhằm biện hộ cho các quan điểm của tôn giáo. Một trong những nguồn lý luận ủng hộ chiến tranh là Kinh thánh giải thích chiến tranh là “công cụ của Thượng đế” để đấu tranh chống lại “cái xấu” và “trừng trị kẻ phạm tội”. Mục đích của họ là bảo vệ cho sự tồn tại của nhà thờ và tôn giáo. Tóm lại, trong các tác phẩm của các nhà tư tưởng Hy Lạp cổ chỉ có một số rất ít các nhà tư tưởng vận dụng phép biện chứng (mặc dù tự phát) để phân tích, đánh giá các hiện tượng chiến tranh.
Phần lớn các quan điểm, tư tưởng đều giải thích hiện tượng chiến tranh một cách siêu hình, phiến diện, thậm chí duy -7- z tâm, họ không chú ý đến các điều kiện lịch sử - cụ thể, không nhận thấy hoặc lờ đi tính giai cấp của hiện tượng trên. Do đó, họ đã rút ra các kết luận mang tính thiển cận hoặc không tưởng [27; 23]. Phải thấy rằng, sau này, đến thời kỳ hình thành và phát triển chủ nghĩa tư bản, những tri thức về chiến tranh mới được phân tích có hệ thống và hình thành những xu hướng nhất định. Tư tưởng duy vật trong giai đoạn này giữ vai trò quan trọng trong việc chuẩn bị tư tưởng cho cuộc cách mạng tư sản châu Âu, nó hướng vào chống lại các quan điểm tôn giáo, phong kiến, xác lập thế giới quan duy vật để xem xét và giải quyết các vấn đề chính trị- xã hội, trong đó có vấn đề chiến tranh.
Ở giai đoạn đầu của lịch sử phát triển chủ nghĩa tư bản, quy mô chiến tranh ngày càng phát triển, hậu quả chiến tranh nặng nề, giai cấp tư sản buộc phải cân nhắc cái được và cái mất của chiến tranh, so sánh vai trò của chiến tranh với hòa bình trong việc thực hiện các mục tiêu chính trị của chúng. Vào thời kỳ chủ nghĩa tư bản đang phát triển, giai cấp tư sản quan tâm đến việc đình chỉ các cuộc chiến tranh chém giết lẫn nhau, gìn giữ hòa bình để tạo điều kiện phát triển kinh tế- xã hội. Điều này đã được phản ánh rõ trong quan điểm của các nhà tư tưởng thời kỳ này. Êraxmơ Rôttécđam, một nhà văn người Hà Lan thời kỳ Phục hưng, trong tác phẩm “Lời thỉnh cầu hòa bình” (1517) đã lên án chiến tranh, thuyết phục mọi người tin rằng hòa bình sẽ đem lại hạnh phúc cho con người và phồn vinh cho xã hội.
Theo ông, chiến tranh có thể chấm dứt được, bằng việc ra lời kêu gọi về lòng yêu chuộng hòa bình gửi tới những nhà cầm quyền, yêu cầu họ thực hiện, giải quyết mọi vấn đề tranh chấp biên giới và hoạch định vĩnh viễn các đường biên giới, tạo xu thế hòa bình chung, đoàn kết tất cả những người phản đối chiến tranh. Còn nhà triết học, sử học người Đức Xêbatxchian Phrancơ, trong tác phẩm “Nhật ký chiến đấu vì hòa bình”(1539) đã viết: “Chiến tranh là trái tự nhiên và phản lý trí”, nó “không thể bị thủ tiêu và loại trừ chỉ đơn thuần bằng mặt đối lập của nó là hòa bình, cái nóng làm tan cái lạnh, còn ánh sáng thì xua tan bóng tối. Vì vậy tôi tự trang bị cho mình vũ khí hòa bình và sẽ đấu tranh cho hòa bình” [27; 25]. -8- z Những ý kiến trên đã đóng vai trò nhất định trong việc phát triển lập trường tích cực của việc nghiên cứu vấn đề chiến tranh.
Tuy nhiên, những ý kiến đó chưa phân tích được cơ sở sâu xa là chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất và tách rời với thực tiễn lịch sử đấu tranh giai cấp trong thời kỳ chuyển biến giữa hai hình thái kinh tế - xã hội có đối kháng giai cấp. Do vậy, mặc dù lý lẽ của họ rất sắc sảo, những lời kêu gọi rất dễ thấm vào lòng người, nhưng chiến tranh vẫn tiếp diễn với quy mô lớn hơn, tính chất ác liệt hơn. Những biện pháp nhằm thiết lập hòa bình của các nhà nhân văn nêu ra đều không tưởng, thiếu cơ sở khoa học và cơ sở thực tiễn. Đối lập với tư tưởng của các nhà nhân văn là tư tưởng biện hộ chiến tranh.
Nicôlô Makiavenli, một chính khách nổi tiếng thời Phục Hưng, trong tác phẩm “Quân vương” (1613) và nhiều tác phẩm khác đã thể hiện lập trường chính trị của mình về vấn đề chiến tranh. Ông khẳng định xu hướng xâm lược là hoàn toàn tự nhiên và hợp quy luật. Ông nêu tư tưởng coi chiến tranh là một trong những phương tiện kiên quyết nhất để củng cố nhà nước và đạt được những mục tiêu chính trị chủ yếu một cách “hoàn toàn hợp pháp”, vì vậy nó cần thiết và không thể loại trừ. Nhưng chiến tranh là phương tiện nguy hiểm, là con dao hai lưỡi, chiến tranh bắt đầu thì dễ, kết thúc thì khó, do vậy chỉ áp dụng chiến tranh trong những trường hợp hãn hữu.
Ông kết luận, nếu nghĩ rằng có thể kết thúc, chấm dứt chiến tranh hoàn toàn và vĩnh viễn thì thật ngây thơ, ấu trĩ [27; 26].Grôtxi, nhà triết học, luật học người Hà Lan, trong tác phẩm chủ yếu của mình “Bàn về chiến tranh và hòa bình” (1625) đã xem xét chiến tranh dựa trên quan điểm pháp lý. Ông nêu ra quan niệm về “quyền tự nhiên” bắt nguồn từ bản chất của con người và quyết định quan hệ giữa người với người. Theo quan niệm này, mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng, bất cứ hành vi bạo lực nào của người này đối với người khác đều là tội ác. Đa số mọi người đều muốn sống hòa bình và hòa hợp.
Con người có lý trí và ngôn ngữ cho phép họ thỏa thuận với nhau về các nguyên tắc của cuộc sống và chấp hành nghiêm chỉnh các nguyên tắc đó. Chiến tranh trái ngược với quyền tự nhiên và vi phạm những nguyên tắc đề ra, do vậy cần phải loại trừ khỏi đời sống xã hội. -9- z Trong số những nhà tư tưởng thời kỳ này, chúng tôi đặc biệt lưu ý đến Tômát Hôpxơ (1588-1679) bởi những tư tưởng độc đáo về chiến tranh của ông. Ông xuất phát từ chỗ cho rằng con người sinh ra là bình đẳng, tức có những khả năng như nhau về thể chất và trí tụê.
Nhưng sự bình đẳng tự nhiên cũng sinh ra những khả năng tự nhiên của con người để đạt tới cùng các mục đích giống nhau. Để đạt tới các mục đích này, con người thường xuyên gây chiến với nhau. Từ đó ông đưa ra luận điểm: trạng thái tự nhiên của con người là trạng thái chiến tranh cuả mọi người chống lại nhau. Trong cuốn “Lêviaphan”(1651), ông nêu ra thuyết “Khế ước xã hội”.
Ông cho rằng chiến tranh phù hợp với bản chất con người. Ông viết: “Chiến tranh chống lại nhau của mọi người là trạng thái khởi thuỷ của xã hội. Cạnh tranh không tin tưởng và hám danh là những nguyên nhân không thủ tiêu được của chiến tranh. Nhưng ông cũng phải thừa nhận chiến tranh là tai hại.
Bởi vì trong trạng thái như vậy không có chỗ dành cho tình yêu lao động, không ai được đảm bảo sẽ được hưởng thụ thành quả buôn bán, những công việc khác, không có phương tiện để luân chuyển đòi hỏi phải có thời gian, nghề thủ công, văn học, không có xã hội, và điều tồi tệ nhất là nỗi sợ hãi vĩnh cửu và mối nguy hiểm thường trực của cái chết do bạo lực, và cuộc sống của con người cô độc, nghèo nàn, u ám, đen tối, và ngắn ngủi” [30; 152]. Như vậy, trong điều kiện xảy ra chiến tranh, người ta không thể tiến hành cả sản xuất, buôn bán và làm nghệ thuật, cho nên phải lấy “Khế ước xã hội” quy định dùng một phần quyền tự do và quyền của mình cho nhà nước để thiết lập trật tự và hòa bình chung. Đó là bước đầu tiên để hạn chế chiến tranh. Song, chiến tranh vẫn tiếp tục xảy ra do những vi phạm công ước xã hội.
Vì vậy, bước tiếp theo là phải cưỡng bức mỗi người, mỗi nhà nước chấp hành nghiêm chỉnh những yêu cầu của công ước xã hội. Những yêu cầu đó bao gồm: Ký hòa ước và thực hiện hòa ước; thực hiện mọi điều cam kết đã ký; thừa nhận mọi người về bản chất là bình đẳng; hạn chế hợp lý những ham muốn và nguyện vọng của mình; chú ý tới nguyện vọng của người khác; không gây thù hằn đối với người khác; lấy thiện trả thiện. Ở đây, thực chất Hôppxơ đã quy những luật tự nhiên về những chuẩn mực đạo đức. Đặc biệt, khi xác định nhà nước là thiết chế trong đó mỗi người - 10 - z đều được đảm bảo an ninh hợp lý từ phía những người khác, Hôppxơ đã gán cho con người nghĩa vụ đạo đức đối với nhà nước.
Về thực chất, quy tắc ứng xử của cá nhân cũng được phổ biến vào điều kiện sinh hoạt xã hội và vào việc đảm bảo hòa bình. Như vậy, một lần nữa theo Hôppxơ, phải thừa nhận chiến tranh là cái đi đồng hành với loài người, và phương tiện duy nhất để loại bỏ nó chính là những quy tắc đạo đức được trình bày trong các cuốn sách kinh.