Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu về sinh kế 1. Một số khái niệm liên quan đến đề tài a) Khái niệm vùng đệm Khái niệm về vùng đệm các khu rừng đặc dụng có nhiều tác giả đề cập, tuy nhiên chúng tôi thấy, một số khái niệm sau được trình bày tương đối đầy đủ và rõ ràng, như: Lê Diên Dực (2002); Luật Lâm nghiệp số: 16/2017/QH14; các Nghị định thi hành v.v…Cụ thể: Theo quy định tại Khoản 25 Điều 2 Luật Lâm nghiệp 2017 (có hiệu lực từ 01/01/2019) thì nội dung này được quy định như sau: Vùng đệm là vùng rừng, vùng đất, vùng mặt nước nằm sát ranh giới của khu rừng đặc dụng có tác dụng ngăn chặn, giảm nhẹ sự tác động tiêu cực đến khu rừng đặc dụng. Rừng đặc dụng là rừng được sử dụng chủ yếu để bảo tồn thiên nhiên, mẫu chuẩn hệ sinh thái rừng của quốc gia, nguồn gen thực vật, động vật rừng, nghiên cứu khoa học, bảo vệ di tích lịch sử, văn hóa và danh lam thắng cảnh, phục vụ nghỉ ngơi du lịch.
Theo, trong Nghị định 156/2018/NĐ-CP, ngày 16 tháng 11 năm 2018 về chi tiết thi hành một số điều của Luật Lâm nghiệp. Điều 16 có ghi: Ổn định đời sống dân cư sống trong rừng đặc dụng và vùng đệm của rừng đặc dụng, nghị định hướng dẫn: Xác định vùng đệm ở các vườn quốc gia, khu bảo tồn… Vùng đệm bên trong khu rừng đặc dụng: khu vực đang có cộng đồng dân cư, cụm dân cư sinh sống ổn định trước khi thành lập khu rừng đặc dụng, không có điều kiện di dân tái định cư ra khỏi khu rừng đặc dụng; có quy hoạch ổn định dân cư lâu dài tại chỗ phù hợp với quy hoạch của khu rừng đặc dụng; diện tích vùng đệm bên trong được xác định trên cơ sở hiện trạng về đất, mặt nước sử dụng thực tế của cộng đồng dân cư, canh tác ổn định trước khi thành lập khu rừng đặc dụng; Vùng đệm bên ngoài khu rừng đặc dụng: Khu vực có cộng đồng dân cư sinh sống và hoạt động sản xuất kinh doanh, sinh hoạt theo truyền thống; khu vực diện tích các thôn liền kề với ranh giới ngoài của khu rừng đặc dụng; m 5 Khu rừng đặc dụng có ranh giới tiếp giáp với biên giới quốc gia, khu rừng phòng hộ, khu bảo tồn khác hoặc khu vực quốc phòng thì không phải xác định vùng đệm bên ngoài đối với phần tiếp giáp đó. b) Dân tộc thiểu số là gì Theo định nghĩa tại Khoản 2 Điều 4 Nghị định 05/2011/NĐ-CP về công tác dân tộc thì “Dân tộc thiểu số” là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Vậy, thế nào là dân tộc thiểu số và dân tộc đa số, như chúng ta đã biết “Dân tộc đa số” là dân tộc có số dân chiếm trên 50% tổng dân số của cả nước, theo điều tra dân số quốc gia, đó là dân tộc Kinh với 85,7% dân số cả nước.
Các dân tộc khác đều là dân tộc thiểu số. Dân tộc thiểu số rất ít người là dân tộc có số dân dưới 10. Theo Tổng cục Thống kê, thì Việt Nam là quốc gia đa dân tộc với 54 dân tộc cùng sinh sống, đến 31/12/2020 dân số Việt Nam là 97,58 triệu người. Người Kinh chiếm > 85,0% dân số Việt Nam, với >83,0 triệu người.
53 dân tộc thiểu số (DTTS) còn lại chỉ chiếm > 14,0% dân số cả nước. Theo UBDT: Mặc dù Việt Nam ủng hộ Tuyên bố về quyền của người bản địa (UNDRIP), Chính phủ không đồng nhất khái niệm người dân tộc thiểu số với người bản địa. Thay vào đó, Chính phủ dùng thuật ngữ “dân tộc thiểu số” để chỉ chung cho những người không thuộc dân tộc Kinh, thể hiện chủ trương “thống nhất trong đa dạng” của Chính phủ. c) Sinh kế bền vững Các khái niệm về sinh kế bền vững đã được sử dụng rộng rãi bởi nhiều nhà nghiên cứu, các tổ chức và các cơ quan sau khi được giới thiệu lần đầu tại Ủy ban Thế giới về Môi trường và Phát triển năm 1987.
Nhiều tổ chức và các cơ quan như Viện Quốc tế về Môi trường và Phát triển (IIED), Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP), Tổ chức Oxfam, Tổ chức Care, Viện Quốc tế về Phát triển bền vững (IISD), Bộ Phát triển Quốc tế Anh (DFID), Viện Nghiên cứu Phát triển (IDS) và một số cơ quan khác đã áp dụng các khái niệm để đáp ứng các mục tiêu, trọng tâm và những ưu tiên của mình (Carney, 2002; Solesbury, 2003). m 6 Sinh kế bền vững được Robert Chambers và Gordon Conway (1992) định nghĩa như sau: “Sinh kế bao gồm năng lực, tài sản và các hoạt động kiếm sống. Một sinh kế bền vững là một sinh kế có thể đối phó và phục hồi trước những sức ép và cú sốc, duy trì hoặc nâng cao năng lực, tài sản và cung cấp các cơ hội kiếm sống bền vững cho thế hệ tiếp theo, đóng góp lợi ích vào sinh kế của những người khác tại địa phương và trên toàn cầu trong ngắn và dài hạn”. Ở Việt Nam khái niệm sinh kế được giải thích trong Từ điển Tiếng Việt với nghĩa: “sinh kế là việc làm để kiếm ăn, để mưu sống”.
Trong giới nghiên cứu khái niệm sinh kế mới chỉ xuất hiện trong thời gian gần đây trên cơ sở tiếp thu những khái niệm của các tác giả nước ngoài. Trên thực tế khái niệm “sinh kế”, hay “hoạt động mưu sinh”, “phương cách kiếm sống”, “hoạt động kinh tế”, “tập quán mưu sinh” được các nhà nghiên cứu sử dụng trong các nghiên cứu của mình khi nghiên cứu về hoạt động kinh tế của các tộc người gắn với chuyên ngành dân tộc học kinh tế hay nhân học kinh tế. d) Người dân có sinh kế sống dựa vào rừng: Để chỉ rõ người dân có nguồn sinh kế dựa vào rừng, không có khái niệm chính thống, một số tác giả nghiên cứu đưa ra mang tính chất tương đối, như: Trần Đức Viên (2005) cho rằng: Người dân có sinh kế sống dựa vào rừng từ 2 khía cạnh: (1) Thu từ rừng đóng góp vào thu thập trong đời sống của họ từ việc bán các loại sản phẩm từ rừng; (2) Sự phụ thuộc vào sinh kế, được tính toán bằng các sản phẩm sử dụng hàng ngày, như: Củi đun, rau rừng (măng, rau Ngót rừng, rau Dớn, Bò khai, Giảo cổ lam,…), gỗ làm nhà, lâm sản ngoài gỗ (Tre nứa vầu, song mây, cây dược liệu,…. Khi tài nguyên rừng tạo ra được nguồn thu nhập và sinh kế cho đồng bào thiểu số, thì vô hình dung sự gắn bó này tạo ra được vanh đai bảo vệ rừng xung quanh khu bảo tồn nhằm duy trì ổn định và bền vững của đồng bào.
Nguyễn Việt Dũng, Phó Giám đốc Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature) cho biết, Việt Nam hiện có từ 24 – 30 triệu người dân có sinh kế sống dựa vào rừng, trong đó số lượng người dân được tiếp cận, nhận giao đất, giao rừng chỉ khoảng 2 triệu hộ. Vì vậy, các nhóm còn lại chủ yếu là người nghèo và đồng bào dân tộc thiểu số có sinh kế sống dựa vào rừng từ lâu đời, vô tình trở thành những m 7 người ngoài cuộc và là đối tượng xâm lấn rừng tiềm tàng đối với các diện tích rừng tự nhiên đã được giao phần lớn cho các công ty lâm nghiệp, các ban quản lý rừng hay các chủ rừng khác. Đặng Hùng Võ (https://www.net/21/11/2018) cần việc ưu tiên giao rừng cho đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống tại chỗ hoặc các điều về quyền và nghĩa vụ của các chủ rừng. Bảo đảm cho đồng bào dân tộc miền núi có thể sống bằng nghề rừng, có thu nhập bảo đảm từ rừng.
Quyền của người dân sống ở vùng lõi các rừng đặc dụng, rừng bảo tồn với các ban quản lý rừng, các vườn quốc gia. Người dân địa phương cần có quyền tiếp cận rừng, được khai thác các lâm sản phụ như mây, tre, nứa, cây dược liệu, được xen các cây hoa màu, cây dược liệu dưới tán rừng để bảo đảm cuộc sống. Một sinh kế được xem là bền vững khi con người có thể đối phó và những phục hồi từ những áp lực và các cú sốc đồng thời có thể duy trì hoặc nâng cao khả năng và tài sản cả ở hiện tại lẫn trong tương lai mà không gây tổn hại đến cơ sở các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Vì mục tiêu này, chúng ta xem xét khái niệm sinh kế và phân tích sinh kế cho đồng bào dân tộc thiểu số tại vùng đệm Rừng đặc dụng Cham Chu, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang 1.
Phân tích sinh kế bền vững của người dân Tiếp cận sinh kế là khái niệm tương đối mới mẻ. Nó phản ánh bức tranh tổng hợp các sinh kế của người dân hay cộng đồng, chứ không chỉ theo phương thức truyền thống chú trọng đến một hoặc hai sinh kế (chẳng hạn như: trồng trọt nông nghiệp, lâm nghiệp). Tiếp cận sinh kế sẽ mang lại cho cộng đồng cũng như những người hỗ trợ từ bên ngoài (external supporters) cơ hội thoát nghèo, thích nghi các điều kiện tự nhiên xã hội và có những thay đổi tốt hơn cho chính họ và cho các thế hệ tiếp theo (Lê Diên Dực, 2002). Hiện nay, cách tiếp cận sinh kế bền vững đã trở nên phổ biến.
Tài sản và khả năng tiếp cận các nguồn lực có tác động lớn đến sinh kế bền vững. Những tài sản này bao gồm con người, tự nhiên, tài chính, vật chất và vốn xã hội (Carney, năm 1998, Soussan và cộng sự, 2001; DFID, 2001; Hussein năm 2002; Sida, 2003; Odero, 2003). m 8 Tổ chức DFID đã xây dựng khung sinh kế bền vững như là một công cụ nhằm xem xét những yếu tố khác nhau ảnh hưởng đến sinh kế của con người. Đồng thời, khung sinh kế cũng nhằm mục đích tìm hiểu xem những yếu tố này liên quan với nhau như thế nào trong những bối cảnh cụ thể (Hình 2.
CẤU TRÚC & KẾT QUẢ BỐI CẢNH TỔN QUÁ TRÌNH BIẾN SINH KẾ THƯƠNG - Tăng thu - Sốc - Các cấp H - Tăng mức sống - Xu hướng N chính CHIẾN S LƯỢC - Giảm tình - Mùa vụ - Khu vực trạng dễ bị tổn Ảnh hưởng SINH & tiếp cận tƣ nhân KẾ - Cải thiện an ninh lương thực P F - Tăng tính bền vững khi sử dụng nguồn TNTN H: Nguồn vốn con người (Human Capital) F: Nguồn vốn tài chính (Financial Capital) N: Nguồn vốn tự nhiên (Natural P: Nguồn vốn vật chất (Physical Capital) ) S: Nguồn vốn xã hội (Social Capital) Hình 2.