Tổng quan nghiên cứu

Việt Nam hiện có khoảng 24 đến 30 triệu người dân sinh sống phụ thuộc vào tài nguyên rừng, trong đó phần lớn là đồng bào dân tộc thiểu số cư trú tại các khu vực vùng sâu, vùng xa và vùng đệm các khu rừng đặc dụng. Theo số liệu thống kê quốc gia, nhóm đồng bào dân tộc thiểu số chiếm dưới 15% dân số nhưng chiếm tới 47% tổng số người nghèo trên cả nước. Tại khu vực vùng đệm di tích lịch sử An toàn khu Định Hóa (khu ATK Định Hóa), huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên, đời sống của người dân địa phương chủ yếu dựa vào sản xuất nông lâm nghiệp truyền thống và khai thác lâm sản. Mặc dù Ban Quản lý rừng ATK Định Hóa được giao quản lý tổng diện tích đất lâm nghiệp lên tới 23.519,52 ha, đời sống của cộng đồng dân cư thuộc các dân tộc Tày, Nùng, Dao, Sán Chí vẫn đối mặt với nhiều khó khăn, thiếu hụt tư liệu sản xuất và dễ bị tổn thương trước các biến động kinh tế xã hội.

Mục tiêu trọng tâm của nghiên cứu là đánh giá một cách toàn diện thực trạng sinh kế của đồng bào dân tộc thiểu số sống dựa vào rừng tại vùng đệm ATK Định Hóa, phân tích mức độ tác động của tài nguyên rừng đến thu nhập của hộ gia đình, đồng thời xác định các yếu tố then chốt chi phối cấu trúc sinh kế. Từ các căn cứ khoa học này, đề tài xây dựng hệ thống giải pháp khả thi nhằm thúc đẩy phát triển sinh kế bền vững, vừa nâng cao thu nhập cho người dân, vừa giảm áp lực xâm hại lên hệ sinh thái rừng đặc dụng và rừng phòng hộ. Phạm vi nghiên cứu được triển khai tập trung tại 3 xã trung tâm gồm Phú Đình, Điềm Mặc và Thanh Định trong giai đoạn từ năm 2015 đến năm 2018, với dữ liệu điều tra thực địa chuyên sâu được thu thập trong năm 2018. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc hỗ trợ chính quyền địa phương hoàn thành mục tiêu giảm tỷ lệ hộ nghèo trên 6,95% mỗi năm, tạo sinh kế ổn định cho lực lượng lao động nông nghiệp chiếm 71,5% tổng số 57.087 lao động trên toàn huyện Định Hóa.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng khung phân tích sinh kế bền vững (SLA) do Bộ Phát triển Quốc tế Vương quốc Anh (DFID) ban hành, kết hợp với lý thuyết quản lý tài nguyên thiên nhiên dựa vào cộng đồng và lý thuyết giải quyết xung đột vùng đệm khu bảo tồn. Khung phân tích sinh kế bền vững xem xét sinh kế của hộ gia đình thông qua sự tương tác giữa 5 nguồn vốn cơ bản:

  • Vốn tự nhiên: Bao gồm quỹ đất sản xuất nông nghiệp, đất lâm nghiệp với 16.605,66 ha rừng tự nhiên giàu trữ lượng, nguồn nước đầu nguồn và các loại lâm sản ngoài gỗ như măng, tre nứa, nấm hương, cây dược liệu.
  • Vốn con người: Phản ánh trình độ học vấn, kinh nghiệm canh tác, tình trạng sức khỏe và quy mô lao động của hộ gia đình (trung bình 71,5% lao động tại địa phương là lao động nông nghiệp phổ thông).
  • Vốn xã hội: Thể hiện qua mạng lưới quan hệ họ tộc, tổ chức đoàn thể (Hội Nông dân, Hội Phụ nữ), các thiết chế luật tục truyền thống và sự gắn kết cộng đồng thôn bản trong quản lý bảo vệ rừng.
  • Vốn vật chất: Gồm nhà ở, công cụ sản xuất, chuồng trại chăn nuôi, hệ thống giao thông liên xã và cơ sở hạ tầng thiết yếu (100% số hộ được sử dụng điện lưới quốc gia).
  • Vốn tài chính: Nguồn thu nhập bằng tiền mặt từ nông nghiệp, tiền công nhận khoán bảo vệ rừng (theo mức 400.000 đồng/ha/năm quy định tại Nghị định 75/2015/NĐ-CP), tiền chi trả dịch vụ môi trường rừng, tiền tích lũy và khả năng tiếp cận vốn vay tín dụng chính sách.

Bên cạnh đó, đề tài vận dụng các khái niệm pháp lý chuẩn mực gồm: khái niệm vùng đệm theo Luật Lâm nghiệp 2017 và Thông tư 10/2014/TT-BNN&PTNT; khái niệm dân tộc thiểu số theo Nghị định 05/2011/NĐ-CP; cùng các tiêu chuẩn nghèo đa chiều quy định tại Quyết định 59/2015/QĐ-TTg.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của đề tài bao gồm dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp. Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ các báo cáo kiểm kê rừng của Chi cục Kiểm lâm tỉnh Thái Nguyên, số liệu niên giám thống kê của Cục Thống kê tỉnh Thái Nguyên và các báo cáo tổng kết hoạt động giai đoạn 2015 - 2018 của Ban Quản lý rừng ATK Định Hóa. Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua khảo sát thực địa từ tháng 7 đến tháng 12 năm 2018.

Về quy mô mẫu và phương pháp chọn mẫu: Đề tài áp dụng phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng theo công thức tính cỡ mẫu của Nguyễn Hải Tuất (2003) với độ tin cậy 95% và sai số tiêu chuẩn 5%. Tổng số phiếu phát ra là 180 hộ tại 3 xã đại diện (Phú Đình, Điềm Mặc, Thanh Định, mỗi xã 60 hộ). Sau quá trình làm sạch dữ liệu và loại bỏ các phiếu không đạt yêu cầu, mẫu nghiên cứu chính thức bao gồm 130 hộ gia đình thuộc 3 nhóm kinh tế: hộ khá, hộ trung bình và hộ nghèo.

Về phương pháp phân tích: Nghiên cứu kết hợp phương pháp thống kê mô tả, phân tổ thống kê, kiểm định phi tham số Kruskal-Wallis và kiểm định Chi-square trên phần mềm SPSS 15 nhằm so sánh sự khác biệt giữa các nhóm hộ về đặc điểm nhân khẩu, đất đai và thu nhập. Lý do lựa chọn mô hình hồi quy tuyến tính đa biến OLS (sử dụng phần mềm STATA 14PM) là để lượng hóa chính xác mức độ tác động của 5 biến độc lập (độ tuổi chủ hộ, trình độ học vấn, số lao động, diện tích đất nông lâm nghiệp và biến giả tham gia tập huấn quản lý bảo vệ rừng) đến biến phụ thuộc là thu nhập bình quân/hộ/năm, giúp kiểm soát tốt các yếu tố nhiễu trong điều kiện kinh tế hộ vùng cao.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, về hiện trạng tài nguyên và cơ chế quản lý đất đai: Tổng diện tích đất lâm nghiệp do Ban Quản lý rừng ATK Định Hóa quản lý là 23.519,52 ha, trong đó đất có rừng chiếm 88,13% (tương đương 20.770,65 ha). Rừng tự nhiên chiếm ưu thế tuyệt đối với 16.605,66 ha (chiếm 70,56% đất lâm nghiệp), rừng trồng đạt 4.088,64 ha (17,35%) và đất chưa có rừng là 2.519,52 ha (10,69%). Về trữ lượng, rừng tự nhiên đạt 668.922 m3 gỗ và hơn 2.000.000 cây tre nứa vầu. Về phân cấp quản lý, toàn bộ 7.539,98 ha rừng đặc dụng do Ban Quản lý trực tiếp phụ trách; trong khi đó, 91,21% diện tích rừng sản xuất (tương đương 12.568,60 ha) đã được giao trực tiếp cho các hộ gia đình quản lý và sử dụng lâu dài.

Thứ hai, về đặc điểm chủ hộ và trình độ học vấn: Chủ hộ phần lớn là nam giới (chiếm 83,44%), độ tuổi trung bình của chủ hộ nhóm khá là 50,52 tuổi, nhóm trung bình là 46,67 tuổi và nhóm nghèo là 53,12 tuổi. Cơ cấu dân tộc gồm người Tày chiếm 55,00% đến 61,67%, người Nùng chiếm 13,33% đến 16,67%, người Kinh chiếm 10,00% đến 13,33%, người Dao chiếm 5,00% đến 11,67% và người Sán Chí chiếm 3,33% đến 6,67%. Trình độ học vấn của chủ hộ ở mức rất thấp: không có chủ hộ nào tốt nghiệp THPT, cao đẳng hay đại học. Tỷ lệ chủ hộ có trình độ tiểu học chiếm đa số với 84,34% ở hộ khá, 69,33% ở hộ trung bình và 76,63% ở hộ nghèo. Đáng chú ý, tỷ lệ chủ hộ chưa học hết tiểu học hoặc tái mù chữ ở nhóm hộ nghèo lên tới 19,67%, cao gấp 4,5 lần so với nhóm hộ khá (4,33%), sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê với giá trị p = 0,048 qua kiểm định Kruskal-Wallis.

Thứ ba, về cơ cấu nghề nghiệp và sự phân hóa nguồn thu sinh kế: Hoạt động nông nghiệp thuần túy là nguồn sống chính của 91,67% hộ nghèo, 84,00% hộ trung bình và 60,00% hộ khá. Thu nhập trực tiếp từ lâm nghiệp mới chỉ xuất hiện ở 25,33% hộ khá, 16,00% hộ trung bình và chỉ vỏn vẹn 8,33% hộ nghèo. Các ngành nghề phi nông nghiệp (buôn bán nhỏ, làm dịch vụ, gia công) chỉ chiếm 14,67% và hoàn toàn chỉ thuộc về nhóm hộ khá.

Thứ tư, về các nhân tố chi phối thu nhập hộ: Kết quả ước lượng mô hình hồi quy tuyến tính khẳng định diện tích đất nông lâm nghiệp (hệ số hồi quy dương có ý nghĩa ở mức 1%), số lượng lao động trong hộ và việc được tham gia các lớp tập huấn kỹ thuật quản lý bảo vệ rừng là những yếu tố đóng góp tích cực và mạnh mẽ nhất vào việc gia tăng thu nhập hàng năm của hộ gia đình.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng hộ nghèo phụ thuộc nặng nề vào khai thác tài nguyên rừng tự nhiên và nông nghiệp tự cấp tự túc là do sự hạn chế nghiêm trọng về vốn con người và vốn tài chính. Trình độ học vấn thấp khiến người dân gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp thu tiến bộ kỹ thuật mới, thiếu kỹ năng quản trị kinh tế hộ và khó tiếp cận thị trường tiêu thụ nông sản hàng hóa. Các sản phẩm khai thác từ rừng như củi đun, măng tươi, nấm rừng chủ yếu phục vụ nhu cầu sinh hoạt tại chỗ hoặc bán thô với giá trị gia tăng rất thấp.

So sánh với các nghiên cứu của Ngân hàng Thế giới và Viện Điều tra Quy hoạch Rừng tại các vùng miền núi phía Bắc, kết quả nghiên cứu tại ATK Định Hóa tái khẳng định rằng chiến lược đa dạng hóa sinh kế kết hợp nông lâm nghiệp là con đường tất yếu để thoát nghèo. Khi hộ gia đình được trang bị kiến thức kỹ thuật và có diện tích đất rừng sản xuất đủ lớn, họ có xu hướng chuyển đổi từ khai thác thụ động sang đầu tư thâm canh rừng trồng và phát triển cây công nghiệp dài ngày.

Để trực quan hóa các phát hiện nghiên cứu, dữ liệu về hiện trạng sử dụng đất có thể được trình bày thông qua biểu đồ tròn (pie chart) phân định rõ tỷ lệ 3 loại rừng (rừng sản xuất chiếm 58,59%, rừng phòng hộ chiếm 38,04% và rừng đặc dụng chiếm 32,06% tổng quỹ đất lâm nghiệp quy hoạch). Đồng thời, cơ cấu thu nhập và sự khác biệt về nghề nghiệp giữa 3 nhóm hộ nên được biểu diễn bằng biểu đồ cột xếp chồng (stacked bar chart), qua đó làm nổi bật sự áp đảo của sản xuất nông nghiệp ở nhóm hộ nghèo và mức độ đa dạng hóa ngành nghề ở nhóm hộ khá.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên các kết quả phân tích định lượng và thực tiễn vùng đệm ATK Định Hóa, 4 nhóm giải pháp chiến lược được đề xuất như sau:

  • Phát triển mô hình kinh tế nông lâm kết hợp và trồng cây dược liệu dưới tán rừng: Ủy ban nhân dân huyện Định Hóa chủ trì phối hợp cùng Ban Quản lý rừng ATK hướng dẫn người dân mở rộng diện tích trồng xen các loài cây dược liệu có giá trị kinh tế cao như giảo cổ lam, khôi nhung, ba kích và trồng bổ sung các loài cây bản địa (lát hoa, trám, sấu). Mục tiêu cụ thể là nâng tỷ trọng thu nhập từ kinh tế dưới tán rừng lên mức 25% đến 30% trong tổng cơ cấu thu nhập hộ gia đình vào giai đoạn 2020 - 2023.
  • Tăng cường tập huấn khuyến nông, khuyến lâm và chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật: Trạm Khuyến nông huyện Định Hóa phối hợp với Chi cục Kiểm lâm tỉnh Thái Nguyên tổ chức định kỳ các khóa đào tạo thực hành về kỹ thuật thâm canh rừng gỗ lớn, chế biến bảo quản lâm sản ngoài gỗ và kỹ thuật sao sấy chè an toàn. Đặt mục tiêu 100% hộ gia đình nhận khoán bảo vệ rừng được tham gia ít nhất 2 khóa đào tạo mỗi năm, phấn đấu tăng năng suất cây trồng nông lâm nghiệp thêm 15% trong giai đoạn 2020 - 2025.
  • Hoàn thiện chính sách tín dụng ưu đãi và chi trả dịch vụ môi trường rừng: Chi nhánh Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện Định Hóa kết hợp cùng Quỹ Bảo vệ và Phát triển rừng tỉnh Thái Nguyên triển khai giải ngân kịp thời tiền khoán bảo vệ rừng đạt mức tối thiểu 400.000 đồng/ha/năm theo Nghị định 75/2015/NĐ-CP. Đồng thời, mở rộng hạn mức cho vay ưu đãi từ 50 đến 100 triệu đồng/hộ với lãi suất thấp cho 100% hộ nghèo và cận nghèo có phương án sản xuất kinh doanh đồi rừng khả thi, thực hiện từ năm 2021 đến năm 2024.
  • Đẩy mạnh phát triển du lịch sinh thái gắn liền với không gian di tích lịch sử văn hóa ATK: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Thái Nguyên phối hợp với Ban Quản lý di tích và chính quyền các xã vùng đệm xây dựng các tuyến du lịch trải nghiệm sinh thái rừng gắn với văn hóa truyền thống của đồng bào Tày, Nùng. Phấn đấu thu hút lượng khách du lịch tăng trưởng 12% đến 15% mỗi năm, tạo việc làm dịch vụ phi nông nghiệp cho ít nhất 20% lao động địa phương giai đoạn 2022 - 2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn mang lại giá trị thực tiễn và học thuật cho 4 nhóm đối tượng cụ thể:

  • Ban quản lý các khu rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và cán bộ kiểm lâm địa bàn: Sử dụng tài liệu để tham khảo phương pháp đánh giá mức độ phụ thuộc của cộng đồng vùng đệm vào rừng, từ đó xây dựng các quy chế phối hợp tuần tra, giao khoán bảo vệ 23.519,52 ha đất rừng hiệu quả và giảm thiểu xung đột tài nguyên.
  • Giảng viên, học viên cao học và sinh viên các chuyên ngành Lâm học, Quản lý tài nguyên rừng, Kinh tế nông nghiệp và Phát triển nông thôn: Khai thác khung lý thuyết sinh kế bền vững DFID, phương pháp điều tra chọn mẫu phân tầng 180 hộ và kỹ thuật xây dựng mô hình hồi quy tuyến tính OLS để ứng dụng vào các công trình nghiên cứu khoa học thực địa tương tự.
  • Lãnh đạo Ủy ban nhân dân cấp huyện, xã và các cơ quan ban ngành quản lý nhà nước về công tác dân tộc: Vận dụng hệ thống số liệu thực chứng để hoạch định chính sách phân bổ ngân sách, lồng ghép các chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
  • Các tổ chức phi chính phủ và các đơn vị quản lý dự án phát triển quốc tế: Sử dụng cơ sở dữ liệu làm tài liệu tham chiếu tin cậy để thiết kế, thẩm định và tài trợ các dự án bảo tồn đa dạng sinh học gắn với phát triển sinh kế cộng đồng tại vùng Trung du và Miền núi phía Bắc.

Câu hỏi thường gặp

Câu hỏi 1: Tài nguyên rừng đóng góp như thế nào vào cơ cấu thu nhập của hộ nghèo tại vùng đệm ATK Định Hóa? Trả lời: Tài nguyên rừng đóng vai trò là nguồn trợ cấp sinh tồn trực tiếp cho hộ nghèo thông qua việc cung cấp củi đun sinh hoạt, măng tươi và dược liệu tự nhiên. Tuy nhiên, chỉ có 8,33% hộ nghèo có nguồn thu tiền mặt đáng kể từ lâm nghiệp, thấp hơn rất nhiều so với tỷ lệ 25,33% ở nhóm hộ khá.

Câu hỏi 2: Trình độ học vấn của chủ hộ có ảnh hưởng như thế nào đến quyết định sinh kế? Trả lời: Trình độ học vấn chi phối trực tiếp đến khả năng tiếp cận thông tin và đa dạng hóa ngành nghề. Tại địa bàn nghiên cứu, có tới 19,67% chủ hộ nghèo chưa tốt nghiệp tiểu học hoặc tái mù chữ, dẫn đến việc họ bị động trong canh tác và phụ thuộc tới 91,67% vào nông nghiệp thuần túy.

Câu hỏi 3: Rừng sản xuất tại ATK Định Hóa hiện đang được phân cấp quản lý ra sao? Trả lời: Toàn bộ khu vực có 13.779,65 ha rừng sản xuất, trong đó chính quyền đã giao tới 91,21% (tương đương 12.568,60 ha) cho các hộ gia đình trực tiếp quản lý, sử dụng và hưởng lợi. Ban Quản lý rừng ATK chỉ trực tiếp quản lý 1.210,68 ha còn lại để làm mô hình trình diễn.

Câu hỏi 4: Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng mang lại lợi ích gì cho người dân địa phương? Trả lời: Chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng và hỗ trợ giao khoán theo Nghị định 75/2015/NĐ-CP với mức 400.000 đồng/ha/năm tạo ra dòng tiền mặt ổn định, giúp bù đắp chi phí công lao động tuần tra và khuyến khích người dân đồng thuận bảo vệ 20.770,65 ha diện tích đất có rừng.

Câu hỏi 5: Phương pháp chọn mẫu 180 hộ tại 3 xã có đảm bảo tính đại diện khoa học cho toàn vùng không? Trả lời: Mẫu nghiên cứu hoàn toàn đảm bảo tính đại diện vì 3 xã Phú Đình, Điềm Mặc và Thanh Định là vùng lõi trung tâm di tích ATK Định Hóa. Cỡ mẫu được tính toán chuẩn xác theo công thức chọn mẫu ngẫu nhiên xác suất của Nguyễn Hải Tuất (2003) với độ tin cậy 95%.

Kết luận

  • Luận văn đã phân tích toàn diện hiện trạng quản lý 23.519,52 ha đất lâm nghiệp với 20.770,65 ha đất có rừng và trữ lượng 668.922 m3 gỗ tự nhiên tại vùng đệm khu di tích quốc gia đặc biệt ATK Định Hóa.
  • Nghiên cứu chỉ ra sự phân hóa sinh kế sâu sắc giữa các tầng lớp dân cư: 91,67% hộ nghèo phụ thuộc hoàn toàn vào nông nghiệp truyền thống manh mún, trong khi chỉ 25,33% hộ khá bước đầu tiếp cận chuỗi giá trị lâm nghiệp hàng hóa.
  • Mô hình hồi quy tuyến tính khẳng định quy mô đất đai, nguồn lực lao động và hoạt động tập huấn kỹ thuật quản lý bảo vệ rừng là 3 nhân tố có ý nghĩa quyết định đến mức tăng trưởng thu nhập bình quân của hộ gia đình.
  • Hệ thống 4 nhóm giải pháp được đề xuất đồng bộ gắn với mục tiêu nâng tỷ trọng thu nhập từ kinh tế dưới tán rừng lên 25% đến 30% và hỗ trợ vay vốn ưu đãi từ 50 đến 100 triệu đồng cho 100% hộ nghèo trong lộ trình 2020 - 2025.
  • Các cơ quan quản lý nhà nước, viện nghiên cứu và chính quyền địa phương cần khẩn trương phối hợp triển khai nhân rộng mô hình nông lâm kết hợp và du lịch sinh thái bền vững, góp phần bảo tồn vững chắc di tích lịch sử ATK Định Hóa và nâng cao chất lượng đời sống đồng bào dân tộc thiểu số.