Chương 1 TỔNG QUAN 1. Giới thiệu về công nghệ WebGis 1. Giới thiệu chung GIS - Geographic Information System - là hệ thống thông tin địa lý được hình thành từ ba khái niệm địa lý, thông tin và hệ thống. Khái niệm “địa lý” liên quan đến các đặc trưng về không gian, vị trí.
Các đặc trưng này ánh xạ trực tiếp đến các đối tượng trong không gian, chúng có thể là đối tượng vật lý, văn hoá, kinh tế… trong tự nhiên. Khái niệm “thông tin” đề cập đến phần dữ liệu được quản lý bởi GIS, đó là các dữ liệu về thuộc tính và dữ liệu không gian của đối tượng. GIS có tính “hệ thống” tức là hệ thống GIS được xây dựng từ các module, việc tạo lập các module giúp thuận lợi trong việc quản lý và hợp nhất. Hệ thống thông tin địa lý trên web (WebGIS) là hệ thống thông tin địa lý phân tán trên một mạng các máy tính để tích hợp, trao đổi các thông tin địa lý trên nền web.
Công nghệ WebGIS này tương tự kiến trúc Client-Server của web. Xử lý thông tin không gian địa lý được xử lý ở cả phía Server và phía Client. Điều này cho phép người dùng có thể khai thác thông tin GIS qua trình duyệt web. Một Client tiêu biểu là một trình duyệt web, một Server bao gồm một Web Server cung cấp một chương trình ứng dụng GIS trên nền web.
Client gửi yêu cầu dữ liệu bản đồ đến Server ở xa qua môi trường web, Server xử lý thông tin yêu cầu bằng cách chuyển yêu cầu thành mã nội bộ và gọi những chức năng về GIS thông qua việc chuyển tiếp các yêu cầu đến phần mềm ứng dụng GIS. Phần mềm này trả lại kết quả, sau đó kết quả này được định dạng lại và phản hồi lại cho phía Client. Server trả về kết quả cho Client hiển thị, hoặc gửi dữ liệu hoặc các công cụ phân tích để Client sử dụng. Điều quan trọng ở đây chính là công nghệ WebGIS.
Công nghệ này có khả năng làm cho thông tin địa lý trở nên hữu dụng và sẵn sàng tới lượng lớn người sử dụng trên thế giới. Để WebGIS có thể chạy được trên tất cả các trình duyệt web thì 3 các ứng dụng GIS trên nền web phải được thiết kế theo các kỹ thuật của mạng Internet. GIS được ứng dụng rộng rãi trong các lĩnh vực đời sống kinh tế xã hội, ta có thể thấy một số ứng dụng cụ thể của GIS trong thực tế là: - Ứng dụng trong quản lý hệ thống đường phố, như: tìm kiếm địa chỉ khi xác định được vị trí cho địa chỉ phố hoặc tìm vị trí khi biết trước địa chỉ phố (geocoding). Quản lý đường giao thông và sơ đồ, điều khiển đường đi, lập kế hoạch lưu thông xe cộ, phân tích vị trí, chọn khu vực xây dựng các tiện ích như bãi đỗ xe, ga tàu, lập kế hoạch phát triển giao thông….
- Ứng dụng trong quản lý giám sát tài nguyên, thiên nhiên, môi trường như: quản lý gió và thuỷ hệ, các nguồn nhân tạo, bình đồ lũ, vùng ngập úng, đất nông nghiệp, tầng ngập nước, rừng, vùng tự nhiên, phân tích tác động môi trường, xác định ví trí chất thải độc hại, mô hình hoá nước ngầm và đường ô nhiễm, phân tích quy hoạch khu dân cư…. - Ứng dụng trong quản lý quy hoạch như: phân vùng quy hoạch sử dụng đất, các hiện trạng xu thế môi trường, quản lý chất lượng nước…. - Ứng dụng trong quản lý các thiết bị: xác định đường ống ngầm, cáp ngầm, xác định tải trọng của lưới điện, duy trì quy hoạch các thiết bị, sử dụng đường điện…. - Ứng dụng trong phân tích tổng điều tra dân số, lập bản đồ các dịch vụ y tế, bưu điện….
- Và đặc biệt ứng dụng trong quân sự như quản lý bản đồ mục tiêu, quản lý các đối tượng địa chính trị, quản lý đất quốc phòng – các địa điểm đóng quân, hỗ trợ công tác cứu hộ cứu nạn, quản lý và hỗ trợ tác nghiệp bản đồ tác chiến phục vụ công tác tham mưu tác chiến, huấn luyện, diễn tập…. Kiến trúc hệ thông tin địa lý trên nền web Dịch vụ web thông tin địa lý hay còn được gọi là WebGIS được xây dựng để cung cấp các dịch vụ về thông tin địa lý theo công nghệ web service. Chính vì thế nên bất cứ WebGIS nào cũng phải thỏa mãn kiến trúc ba tầng thông dụng của một 4 ứng dụng web. Sau đó tùy thuộc vào từng loại công nghệ và các cách thức phát triển, mở rộng khác nhau mà WebGIS sẽ trở thành n tầng khác nhau.
Kiến chung 3 tầng của WebGIS được mô tả hình dưới bao gồm tầng trình bày, tầng giao dịch và tầng dữ liệu được trình bày trong hình Hình 1. Mô hình 3 lớp trong kiến trúc WebGIS Tầng trình bày: Thông thường chỉ là các trình duyệt Internet Explorer, Mozilla Firefox. để mở các trang web theo URL được định sẵn. Các ứng dụng client có thể là một website, Applet, Flash,… được viết bằng các công nghệ theo chuẩn của W3C.
Các Client đôi khi cũng là một ứng dụng desktop tương tự như phần mềm MapInfo, ArcMap,… Tầng giao dịch: thường được tích hợp trong một webserver nào đó, ví dụ như Tomcat, Apache, Internet Information Server. Đó là một ứng dụng phía server nhiệm vụ chính của nó thường là tiếp nhận các yêu cầu từ client , lấy dữ liệu từ cơ sở dữ liệu theo yêu cầu client , trình bày dữ liệu theo cấu hình định sẵn hoặc theo yêu cầu của client và trả kết quả về theo yêu cầu. Tùy theo yêu cầu của client mà kết quả về khác nhau : có thể là một hình ảnh dạng bimap (jpeg, gif, png) hay dạng vector được mã hóa như SVG, KML, GML,…Một khi dạng vector được trả về thì việc trình bày hình ảnh bản đồ được đảm nhiệm bởi Client, thậm trí client có thể xử lý một số bài tóan về không gian. Thông thường các phản hồi và request đều theo chuẩn HTTP POST hoặc GET.
Tầng dữ liệu: là nơi lưu trữ các dữ liệu địa lý bao gồm cả các dữ liệu không gian và phi không gian. Các dữ liệu này được quản trị bởi các hệ quản trị cơ sở dữ liệu như ORACLE, MS SQL SERVER, ESRI SDE, POSGRESQL,… hoặc là các file dữ liệu dạng flat như shapefile, tab, XML,… Các dữ liệu này được thiết kế, cài 5 đặt và xây dựng theo từng quy trình, từng quy mô bài toán. mà lựa chọn hệ quản trị cơ sở dữ liệu phù hợp. Cơ sở dữ liệu không gian sẽ được dùng để quản lý và truy xuất dữ liệu không gian, được đặt trên data server.
Nhà kho hay nơi lưu trữ được dùng để lưu trữ và duy trì những siêu dữ liệu về dữ liệu không gian tại những data server khác nhau. Dựa trên những thành phần quản lý dữ liệu, ứng dụng server và mô hình server được dùng cho ứng dụng hệ thống để tính toán thông tin không gian thông qua các hàm cụ thể. Tất cả kết quả tính toán của ứng dụng server sẽ được gửi đến web server để thêm vào các gói HTML, gửi cho phía client và hiển thị nơi trình duyệt web. Xem hình minh họa dưới đây.
Lưu ý là tất cả các thành phần đều được kết nối nhau thông qua mạng Internet. Các bước xử lý thông tin của WebGIS 6 1. Các bước xử lý Client gửi yêu cầu của người sử dụng thông qua giao thức HTTP đến webserver. Web server nhận yêu cầu của người dùng gửi đến từ phía client, xử lý và chuyển tiếp yêu cầu đến ứng dụng trên server có liên quan.
Application server (chính là các ứng dụng GIS) nhận các yêu cầu cụ thể đối với ứng dụng và gọi các hàm có liên quan để tính toán xử lý. Nếu có yêu cầu dữ liệu nó sẽ gửi yêu cầu dữ liệu đến data exchange server(server trao đổi dữ liệu). Data exchange server nhận yêu cầu dữ liệu và tìm kiếm vị trí của những dữ liệu này sau đó gửi yêu cầu dữ liệu đến server chứa dữ liệu (data server ) tương ứng cần tìm. Data server dữ liệu tiến hành truy vấn lấy ra dữ liệu cần thiết và trả dữ liệu này về cho data exchange server Data exchange server nhận dữ liệu từ nhiều nguồn data server khác nhau nằm rải rác trên mạng.
Sắp xếp dữ liệu lại theo logic của yêu cầu dữ liệu,sau đó gửi trả dữ liệu về cho application server. Application server nhận dữ liệu trả về từ các data exchange server và đưa chúng đến các hàm cần sử dụng, xử lý chúng tại đây và kết quả được trả về cho web server. Web server nhận về kết quả xử lý, thêm vào các ngữ cảnh web (HTML, PHP.) để có thể hiển thị được trên trình duyệt và cuối cùng gửi trả kết quả về cho trình duyệt dưới dạng các trang web. Quá trình xử lý thông tin của WebGIS 1.
Các hình thức triển khai Trong mô hình hoạt động của WebGIS được chia ra 2 phần : các hoạt động ở phía máy khách (client side) và các hoạt động xử lý ở phía máy chủ ( server side). Client side Client side được dùng để hiển thị kết quả đến cho người dùng, nhận các điều khiển trực tiếp từ người dùng và tương tác với web server thông qua trình duyệt web. Các trình duyệt web sử dụng chủ yếu HTML để định dạng trang web. Thêm vào đó một vài plug-in, ActiveX và các mã Applet được nhúng vào trình duyệt để tăng tính tương tác với người dùng.
Server side Gồm có: Web server, Application server, Data server và Clearinghouse. Server side có nhiệm vụ lưu trữ dữ liệu không gian, xử lý tính toán và trả về kết quả (dưới dạng hiển thị được) cho client side. 8 Web server: Web server được dùng để phục vụ cho các ứng dụng web, web server sử dụng nghi thức HTTP để giao tiếp với trình duyệt web ở phía client. Tất cả các yêu cầu từ phía client đối với ứng dụng web đều được web server nhận và thông dịch và sau đó gọi các chức năng của ứng dụng thông qua các giao tiếp mạng như MAPI, Winsock, namped pipe… Application server: Đây là phần chương trình gọi các hàm xử lý GIS, gửi yêu cầu lấy dữ liệu đến clearinghouse Data server: Data server là phần cơ bản của hầu hết các hệ thống thông tin với nhiệm vụ quản lý và điều khiển truy cập dữ liệu.
Ban đầu, đa số GIS sử dụng File System để quản lý dữ liệu không gian và DBMS (Database Management System) để quản lý dữ liệu thuộc tính.