Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ với đề tài "Nghiên cứu hệ thống chỉ tiêu thống kê nhà ở xã hội tại Việt Nam" do nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Việt Nga thực hiện tại Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (Hà Nội, năm 2023), dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Trần Thị Bích, thuộc chuyên ngành Thống kê kinh tế (mã số: 9310101_TK).
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Nhà ở là nhu cầu thiết yếu đối với đời sống con người, đóng vai trò tái sản xuất sức lao động, phát triển nguồn nhân lực và chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài sản quốc gia. Tại Việt Nam, việc đáp ứng nhu cầu nhà ở, đặc biệt là nhà ở xã hội cho các nhóm đối tượng thu nhập thấp, cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang và công nhân khu công nghiệp, được Đảng và Nhà nước xác định là nhiệm vụ trọng tâm nhằm bảo đảm an sinh xã hội. Hệ thống văn bản pháp lý đã được ban hành để thúc đẩy lĩnh vực này gồm: Luật Nhà ở số 65/2014/QH13 (dành riêng Chương IV cho chính sách nhà ở xã hội), Chiến lược phát triển nhà ở quốc gia đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 (Quyết định số 2127/QĐ-TTg), Chiến lược phát triển nhà ở quốc gia giai đoạn 2021–2030, tầm nhìn đến năm 2045 (Quyết định số 2161/QĐ-TTg), Nghị định số 188/2013/NĐ-CP (với gói tín dụng ưu đãi 30.000 tỷ đồng) và Đề án "Đầu tư xây dựng ít nhất 1 triệu căn hộ nhà ở xã hội cho đối tượng thu nhập thấp, công nhân khu công nghiệp giai đoạn 2021–2030" (Quyết định số 338/QĐ-TTg ngày 03/04/2023). Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng (năm 2016) đã phân định rõ thẩm quyền: Bộ Xây dựng (MOC) quản lý chính sách nhà ở xã hội gắn với Luật Nhà ở, còn Bộ Tài nguyên và Môi trường (MONRE) điều chỉnh các nội dung thuộc Luật Đất đai.
Mặc dù giữ vai trò then chốt, công tác thống kê về nhà ở xã hội tại Việt Nam vẫn bộc lộ khoảng trống lớn:
- Về lý luận: Các nghiên cứu trong nước trước đây chủ yếu tiếp cận chính sách phát triển nhà ở xã hội dưới góc độ kinh tế hoặc quản lý đô thị, chưa có công trình nghiên cứu hệ thống hóa các khái niệm, nguyên tắc và quy trình xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê chuyên biệt cho nhà ở xã hội.
- Về thực tiễn: Bộ Xây dựng hiện mới chỉ quản lý và thu thập 01 chỉ tiêu thống kê ngành về nhà ở xã hội theo Thông tư số 27/2016/TT-BXD ("Tổng số nhà ở và tổng diện tích nhà ở xã hội hoàn thành trong năm"). Cơ sở dữ liệu hiện có mang tính phân tán, thiếu các chỉ tiêu về nguồn lực đầu vào, tiến độ thực hiện và mức độ cân bằng cung – cầu, dẫn đến việc thiếu căn cứ lượng hóa phục vụ hoạch định, giám sát và điều chỉnh chính sách. Tỷ lệ chỉ tiêu hiện trạng so với nhu cầu quản lý thực tế chỉ đạt 4/28 chỉ tiêu.
Mục tiêu nghiên cứu
Luận án xác định mục đích là đề xuất hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu thống kê về nhà ở xã hội nhằm tạo cơ sở cho Bộ Xây dựng thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước. Tác giả đánh số 3 nội dung trọng tâm sau:
- Đánh giá thực trạng hệ thống chỉ tiêu thống kê về nhà ở xã hội tại Việt Nam hiện nay;
- Đánh giá khoảng cách giữa thực trạng và nhu cầu về hệ thống chỉ tiêu thống kê nhà ở xã hội, từ đó nêu rõ sự cần thiết của các chỉ tiêu về nhà ở xã hội còn thiếu;
- Định hướng và giải quyết các nhiệm vụ, hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu thống kê nhà ở xã hội.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống chỉ tiêu thống kê về nhà ở xã hội tại Việt Nam.
- Phạm vi nội dung: Nghiên cứu nhu cầu thông tin theo quy định của Luật Nhà ở số 65/2014/QH13; các phương pháp, nguyên tắc và quy trình xây dựng hệ thống chỉ tiêu thống kê nhà ở xã hội phục vụ chức năng quản lý nhà nước của Bộ Xây dựng.
- Phạm vi không gian: Lãnh thổ Việt Nam, tập trung vào phạm vi quản lý của Bộ Xây dựng, các Sở Xây dựng địa phương và các doanh nghiệp đầu tư xây dựng nhà ở xã hội.
- Phạm vi thời gian: Đánh giá dữ liệu thực trạng giai đoạn 2009–2022 và đề xuất áp dụng hệ thống chỉ tiêu thống kê từ sau năm 2023.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án tiến hành tổng quan các công trình nghiên cứu trên phạm vi quốc tế và trong nước:
Các nghiên cứu quốc tế
- Khung pháp lý quốc tế và vai trò của nhà ở: Điều 25 Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền và Tuyên bố Vancouver 1976 về định cư con người khẳng định quyền có chỗ ở là quyền cơ bản. Báo cáo của Chương trình Định cư Con người Liên Hợp Quốc (UN-HABITAT) chỉ rõ ngành nhà ở đóng góp 3–10% GDP, chiếm 10–30% tổng đầu tư xã hội hàng năm và chiếm 20–50% tổng tài sản tái tạo (reproducible wealth) của các quốc gia.
- Khái niệm và mô hình vận hành:
- Dyk (1995): Tại Canada, thuật ngữ nhà ở xã hội (social housing) chỉ các chương trình hỗ trợ do tổ chức phi lợi nhuận và hợp tác xã nhà ở sở hữu, vận hành.
- Scanlon & Whitehead (2007): Khảo sát tại 9 nước châu Âu (Hà Lan, Áo, Đan Mạch, Thụy Điển, Anh, Pháp, Ireland, Đức, Hungary) chỉ ra không có định nghĩa đồng nhất về nhà ở xã hội. Định nghĩa gắn với chủ sở hữu phi lợi nhuận (Hà Lan, Thụy Điển), chủ thể xây dựng (Áo, Pháp), mức giá thuê ưu đãi (Ireland, Anh) hoặc nguồn vốn trợ cấp (Pháp, Đức). Ngoại trừ Đan Mạch, tỷ lệ nhà ở xã hội tại các nước này đều có xu hướng suy giảm; riêng tại Anh giảm hơn 1 triệu căn so với mốc 5,1 triệu căn năm 1979.
- John M. Quigley (Đại học California, Berkeley): Tại Hoa Kỳ, nhà ở giá rẻ (affordable housing) được xác định khi chi phí nhà ở không vượt quá 30% thu nhập hộ gia đình. Chính sách do Sở Thuế vụ (IRS) và Bộ Nhà ở và Phát triển Đô thị (HUD) quản lý qua công cụ thuế và trợ cấp thuê nhà.
- Nghiên cứu của Đại học New South Wales và Hiệp hội Công nghiệp Nhà ở Cộng đồng NSW: Tại Úc, nhà ở xã hội dành cho đối tượng an sinh xã hội thuê, còn nhà ở giá rẻ có mức giá thuê thấp hơn 20% so với giá thị trường.
- Woetzel & cộng sự (2014): Ước tính khoảng 330 triệu hộ gia đình đô thị trên toàn cầu sống trong điều kiện không đạt chuẩn hoặc vượt quá khả năng chi trả; khoảng 200 triệu hộ ở các nước đang phát triển sống tại các khu ổ chuột; hơn 60 triệu hộ tại các nước phát triển chịu chi phí nhà ở vượt quá 30–40% thu nhập.
Các nghiên cứu trong nước
- Nghiên cứu của PGS.TS Trần Thị Kim Xuyến và ThS. Phạm Thị Thùy Trang tập trung vào vấn đề nhà ở cho người nghèo tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Các nghiên cứu khác của ngành xây dựng và thống kê mới dừng lại ở việc thiết lập cơ sở dữ liệu chung về thị trường bất động sản hoặc xây dựng bộ chỉ số đô thị, chưa đi sâu thiết kế hệ thống chỉ tiêu thống kê chuyên biệt cho phân khúc nhà ở xã hội.
Vị trí và khoảng trống luận án giải quyết
Luận án định vị là nghiên cứu chuyên sâu về mặt thống kê học kinh tế đối với nhà ở xã hội tại Việt Nam. Công trình giải quyết khoảng trống thiếu hụt một hệ thống chỉ tiêu thống kê toàn diện, chuẩn hóa từ cơ sở lý luận, phương pháp tính, phân tổ đến quy trình thu thập và chế độ báo cáo phục vụ quản lý vĩ mô của Bộ Xây dựng.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
- Khái niệm và phân loại nhà ở: Căn cứ Tiêu chuẩn xây dựng Việt Nam (TCXD 13:1991), Luật Nhà ở số 65/2014/QH13 và Tạp chí Kinh doanh và Tài chính (2020). Nhà ở được phân loại theo mục đích sử dụng (nhà ở riêng lẻ, nhà chung cư, nhà ở thương mại, nhà ở công vụ, nhà ở xã hội) và theo cấp công trình/kết cấu kỹ thuật (biệt thự, cấp I, cấp II, cấp III, cấp IV, nhà tạm).
- Quy định về nhà ở xã hội tại Việt Nam: Nhà ở có sự hỗ trợ của Nhà nước cho 10 nhóm đối tượng được quy định tại Điều 49 Luật Nhà ở 2014 (người có công với cách mạng; hộ nghèo/cận nghèo nông thôn; hộ vùng thiên tai; người thu nhập thấp, hộ nghèo/cận nghèo đô thị; lao động doanh nghiệp/khu công nghiệp; sĩ quan, quân nhân lực lượng vũ trang; cán bộ, công chức, viên chức; đối tượng trả lại nhà công vụ; học sinh, sinh viên; hộ gia đình diện thu hồi đất chưa được bồi thường bằng nhà/đất). Nhà ở xã hội đô thị quy định là nhà chung cư từ 5–6 tầng trở lên, diện tích căn hộ từ 30–70 $m^2$ sàn.
- Lý thuyết hệ thống chỉ tiêu thống kê: Căn cứ Luật Thống kê số 89/2015/QH13 và Luật số 01/2021/QH15. Hệ thống chỉ tiêu gồm danh mục (mã số, nhóm, tên) và nội dung (khái niệm, phương pháp tính, phân tổ chủ yếu, kỳ công bố, nguồn số liệu, cơ quan chịu trách nhiệm). Luận án áp dụng 5 nguyên tắc xây dựng hệ thống chỉ tiêu: tính hướng đích, tính hệ thống, tính khả thi, tính thích nghi và tính hiệu quả.
+-------------------------------------------------------------------------------+
| QUY TRÌNH 5 BƯỚC XÂY DỰNG HỆ THỐNG CHỈ TIÊU THỐNG KÊ NHÀ Ở XÃ HỘI |
+-------------------------------------------------------------------------------+
| Bước 1: Nhận định chức năng nhiệm vụ quản lý của Bộ Xây dựng -> Nhu cầu |
| Bước 2: Đánh giá chỉ tiêu hiện có và so sánh với hệ thống chỉ tiêu nhà ở |
| Bước 3: Xác định nhu cầu thông tin thống kê có tính khả thi trong thu thập |
| Bước 4: Thiết lập và phân nhóm các chỉ tiêu thống kê NOXH (đầu vào, đầu ra...) |
| Bước 5: Hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu và tổ chức thu thập theo quy định |
+-------------------------------------------------------------------------------+
Phương pháp nghiên cứu
- Thu thập dữ liệu sơ cấp: Tác giả sử dụng phương pháp điều tra anket thông qua biểu mẫu trực tuyến Google Forms, gửi bảng hỏi đến các chuyên gia, cán bộ công chức thuộc Bộ Xây dựng, các Sở Xây dựng địa phương và các doanh nghiệp đầu tư xây dựng nhà ở xã hội. Bảng hỏi bao gồm 28 câu hỏi đóng (đo lường theo thang đo nhu cầu thông tin: Rất không cần thiết, Không cần thiết, Bình thường, Cần thiết, Rất cần thiết) và các câu hỏi mở để thu nhận đề xuất bổ sung chỉ tiêu.
- Thu thập dữ liệu thứ cấp: Tổng hợp từ Kết quả Tổng điều tra Dân số và Nhà ở năm 2019, các báo cáo ngành xây dựng, văn bản quy phạm pháp luật (Nghị định số 44/2022/NĐ-CP, Thông tư số 27/2016/TT-BXD) và các quyết định phê duyệt đề án của Thủ tướng Chính phủ.
- Phương pháp tổng hợp và phân tích:
- Phương pháp phân tổ thống kê, bảng thống kê và đồ thị thống kê;
- Phương pháp tính số tuyệt đối, số tương đối và chỉ số (số tuyệt đối dùng cho chỉ tiêu khối lượng, quy mô, dự báo; số tương đối và chỉ số dùng cho chỉ tiêu phân tích cơ cấu, đánh giá hiệu quả và so sánh không gian, thời gian).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Những lý luận cơ bản về hệ thống chỉ tiêu thống kê nhà ở xã hội
Chương 1 tập trung chuẩn hóa cơ sở lý luận về nhà ở xã hội, các đặc điểm kinh tế - kỹ thuật và cấu trúc hệ thống chỉ tiêu thống kê. Tác giả đưa ra định nghĩa: "Hệ thống chỉ tiêu thống kê nhà ở xã hội là tập hợp những chỉ tiêu thống kê phản ánh các đặc điểm của nhà ở có sự hỗ trợ của Nhà nước cho các đối tượng được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở theo quy định của Luật Nhà ở hiện hành của Việt Nam".
Nội dung trọng tâm của chương là kết quả điều tra sơ cấp lấy ý kiến chuyên gia về mức độ cần thiết của 28 chỉ tiêu thống kê nhà ở xã hội phân theo 3 nhóm chức năng:
| STT |
Tên chỉ tiêu thống kê khảo sát |
Rất không cần thiết |
Không cần thiết |
Bình thường |
Cần thiết |
Rất cần thiết |
| I |
Nhóm 1: Nhóm các chỉ tiêu dự báo và đầu vào |
|
|
|
|
|
| 1 |
Diện tích đất xây dựng NOXH được quy hoạch |
5,9% |
5,9% |
5,9% |
64,7% |
17,6% |
| 2 |
Diện tích đất xây dựng NOXH đã giải phóng mặt bằng |
0% |
0% |
23,6% |
58,8% |
17,6% |
| 3 |
Diện tích đất xây dựng NOXH đã bàn giao |
0% |
11,8% |
17,6% |
58,8% |
11,8% |
| 4 |
Số căn hộ nhà ở xã hội theo quy hoạch |
0% |
11,8% |
17,6% |
58,8% |
11,8% |
| 5 |
Diện tích sàn xây dựng nhà ở xã hội theo quy hoạch |
0% |
5,9% |
23,5% |
58,8% |
11,8% |
| 6 |
Diện tích sàn xây dựng nhà ở cho công nhân theo quy hoạch |
0% |
5,9% |
29,4% |
35,3% |
29,4% |
| 7 |
Số lượng căn hộ NOXH cần mua/thuê mua/thuê |
0% |
0% |
23,5% |
47,1% |
29,4% |
| 8 |
Chỉ số giá bất động sản |
0% |
0% |
29,4% |
47,1% |
23,5% |
| 9 |
Lãi suất NH vay ưu đãi dành cho các đối tượng vay mua NOXH |
0% |
0% |
5,8% |
47,1% |
47,1% |
| II |
Nhóm 2: Nhóm các chỉ tiêu về thực hiện đầu tư |
|
|
|
|
|
| 10 |
Giá trị giải ngân vốn vào NOXH của Chính phủ |
0% |
0% |
23,5% |
47,1% |
29,4% |
| 11 |
Chi phí xây dựng NOXH đã thực hiện |
0% |
11,8% |
17,6% |
58,8% |
11,8% |
| 12 |
Chi phí xây dựng NOXH cho công nhân |
0% |
0% |
11,8% |
76,4% |
11,8% |
| III |
Nhóm 3: Nhóm các chỉ tiêu về kết quả đầu tư |
|
|
|
|
|
| 13 |
Diện tích đất xây dựng NOXH đã hoàn thành |
0% |
0% |
29,4% |
58,8% |
11,8% |
| 14 |
Tỷ lệ số căn hộ NOXH /Tổng số căn hộ đã hoàn thành việc xây thô |
0% |
5,9% |
29,4% |
58,8% |
5,9% |
| 15 |
Tỷ lệ diện tích NOXH /Tổng diện tích đã hoàn thành việc xây thô |
0% |
11,8% |
14,7% |
58,8% |
14,7% |
| 16 |
Diện tích sàn xây dựng NOXH dành cho công nhân đã hoàn thành xây thô hoặc hoàn thiện của các dự án HTKT-KCN |
0% |
5,9% |
23,5% |
47,1% |
23,5% |
| 17 |
Tổng số nhà ở xã hội hoàn thành trong năm |
0% |
0% |
11,8% |
70,6% |
17,6% |
| 18 |
Tổng diện tích sàn xây dựng NOXH hoàn thành trong năm |
0% |
0% |
17,6% |
70,6% |
11,8% |
| 19 |
Số lượng NOXH lũy kế đến kỳ báo cáo |
0% |
0% |
17,6% |
70,6% |
11,8% |
| 20 |
Tổng diện tích sàn xây dựng NOXH lũy kế đến kỳ báo cáo |
0% |
0% |
35,3% |
47,1% |
17,6% |
| 21 |
Số căn hộ NOXH cho thuê |
0% |
5,9% |
17,6% |
53,0% |
23,5% |
| 22 |
Diện tích sàn xây dựng NOXH cho thuê |
0% |
5,9% |
17,6% |
53,0% |
23,5% |
| 23 |
Tỷ lệ sử dụng đất quy hoạch cho xây dựng NOXH |
0% |
0% |
17,6% |
41,2% |
41,2% |
| 24 |
Tỷ lệ số căn hộ NOXH so với nhà ở thương mại |
0% |
0% |
29,4% |
53,0% |
17,6% |
| 25 |
Tỷ lệ diện tích sàn xây dựng NOXH so với nhà ở thương mại |
0% |
0% |
29,4% |
58,9% |
11,7% |
| 26 |
Tỷ lệ chi phí xây dựng NOXH so với nhà ở thương mại |
0% |
0% |
35,3% |
47,1% |
17,6% |
| 27 |
Tỷ lệ căn hộ cho thuê của NOXH so với nhà ở thương mại |
0% |
5,9% |
35,3% |
47,1% |
11,7% |
| 28 |
Tỷ lệ diện tích cho thuê của NOXH so với nhà ở thương mại |
0% |
5,9% |
41,2% |
35,3% |
17,6% |
Bên cạnh 28 chỉ tiêu đóng, các chuyên gia đề xuất thêm 6 chỉ tiêu qua câu hỏi mở:
- Chỉ tiêu tỷ lệ tài chính dành cho NOXH trong tổng số ngân sách dành cho an sinh xã hội;
- Chỉ tiêu đánh giá về độ minh bạch nguồn ngân sách dành cho NOXH;
- Chỉ tiêu nhu cầu NOXH thực tế;
- Chỉ tiêu số lượng NOXH đáp ứng cho 10 nhóm đối tượng;
- Chỉ tiêu giá bán, cho thuê, cho thuê mua;
- Chỉ tiêu về nhà ở cho học sinh và sinh viên thuê.
Chương 1 cũng hệ thống hóa ma trận liên kết giữa 28 chỉ tiêu thống kê với 4 nhóm chức năng quản lý nhà nước của Bộ Xây dựng: quy hoạch kiến trúc, hoạt động đầu tư xây dựng, phát triển đô thị và quản lý nhà ở.
Chương 2: Thực trạng hệ thống chỉ tiêu thống kê nhà ở xã hội tại Việt Nam
Chương 2 phân tích thực trạng công tác thống kê và phát triển nhà ở xã hội dựa trên dữ liệu thứ cấp:
- Thực trạng nhu cầu và di biến động dân cư: Theo Tổng điều tra Dân số và Nhà ở 2019, diện tích nhà ở bình quân của người di cư là 21,9 $m^2$/người (thấp hơn mức 25,4 $m^2$/người của người không di cư). 42,7% người di cư sống trong diện tích dưới 15 $m^2$/người và 19,0% sống dưới 8 $m^2$/người. Tỷ lệ người di cư thuê/mượn nhà từ khu vực tư nhân lên tới 40,2% (gấp gần 8 lần người không di cư). Tỷ lệ thuê nhà ở của người di cư vượt 50% tại Bắc Ninh, Bình Dương, Đồng Nai, Cần Thơ; cao nhất là Bình Dương (74,5%).
- Thực trạng quỹ đất và kết quả dự án: Đến năm 2020, có 1.040 dự án bố trí quỹ đất 20% cho nhà ở xã hội trên tổng số 2.256 dự án nhà ở thương mại/đô thị (gồm 507 dự án độc lập với 1.375,66 ha, chiếm 40,95%; 367 dự án thương mại trên 10 ha bố trí 1.601,07 ha, chiếm 47,66%; 119 dự án dưới 10 ha bố trí 167,53 ha, chiếm 4,99%; 47 dự án tại đô thị loại 4, 5 bố trí 214,81 ha, chiếm 6,4%).
- Kết quả triển khai theo Quyết định số 338/QĐ-TTg: Cả nước đã hoàn thành 301 dự án nhà ở xã hội đô thị và công nhân khu công nghiệp (quy mô 155.800 căn, diện tích hơn 7.000.000 $m^2$ sàn), chỉ đạt khoảng 65% mục tiêu đề ra đến năm 2020. Đang triển khai 401 dự án (454.360 căn, khoảng 22.000.000 $m^2$ sàn); khoảng 220 dự án (179.640 căn, tổng vốn 90.000 tỷ đồng) bị chậm tiến độ hoặc tạm dừng thi công.
- Nhu cầu giai đoạn 2021–2030: Báo cáo từ 60/63 địa phương cho thấy nhu cầu cần khoảng 2.000.000 căn hộ (giai đoạn 2021–2025: 1.000.000 căn; giai đoạn 2026–2030: 1.000.000 căn). Tính đến 18/08/2022, có 162.000 hộ người có công cần hỗ trợ nhà ở (75.400 hộ xây mới, 86.600 hộ sửa chữa); 230.000 hộ nghèo nông thôn và 30.800 hộ vùng thiên tai cần hỗ trợ.
- Đánh giá hệ thống chỉ tiêu thống kê hiện hành: Bộ Xây dựng mới quản lý duy nhất 01 chỉ tiêu chính thức về nhà ở xã hội theo Thông tư 27/2016/TT-BXD. Hệ thống mang cấu trúc phân tán, thiếu quy chuẩn đồng bộ giữa các cấp, chưa có chế tài thu thập số liệu chặt chẽ và thiếu hụt nguồn lực tài chính, công nghệ thông tin.
Chương 3: Đề xuất hệ thống chỉ tiêu thống kê nhà ở xã hội tại Việt Nam trong thời gian tới
Chương 3 xây dựng khung hệ thống chỉ tiêu hoàn chỉnh và các giải pháp tổ chức thực hiện:
- Nguyên tắc và cấu trúc đề xuất: Chuyển đổi từ mô hình 01 chỉ tiêu đơn lẻ sang hệ thống chỉ tiêu đa chiều gồm 3 nhóm:
- Nhóm chỉ tiêu đầu vào và dự báo: Quỹ đất quy hoạch, đất đã giải phóng mặt bằng, đất đã bàn giao, số căn hộ và diện tích sàn theo quy hoạch, nhu cầu mua/thuê, nguồn vốn tín dụng ưu đãi, chỉ số giá.
- Nhóm chỉ tiêu thực hiện đầu tư: Tiến độ giải ngân vốn ngân sách/chính phủ, chi phí xây dựng thực tế theo từng loại hình công trình.
- Nhóm chỉ tiêu kết quả đầu tư: Diện tích sàn hoàn thành theo năm, số lượng căn hộ hoàn thành lũy kế, tỷ lệ sử dụng quỹ đất, cơ cấu nhà ở xã hội cho thuê so với bán, tỷ trọng nhà ở xã hội so với nhà ở thương mại.
- Giải pháp bảo đảm thông tin:
- Giải pháp 1: Đổi mới mô hình tổ chức, xây dựng và quản lý hệ thống chỉ tiêu thống kê nhà ở xã hội tập trung tại Bộ Xây dựng, có sự phối hợp với Tổng cục Thống kê và Sở Xây dựng các địa phương.
- Giải pháp 2: Quy định rõ trách nhiệm và chế tài báo cáo thống kê đối với các chủ đầu tư dự án và cơ quan quản lý cấp tỉnh/huyện.
- Giải pháp 3: Đầu tư nguồn lực tài chính, cơ sở vật chất và hoàn thiện hạ tầng công nghệ thông tin phục vụ thu thập, xử lý và tích hợp dữ liệu số hóa.
- Kiến nghị và lộ trình: Kiến nghị hoàn thiện khung pháp lý quản lý nhà ở xã hội; kiện toàn bộ máy tổ chức; đa dạng hóa hình thức thu thập dữ liệu; bố trí kinh phí thống kê định kỳ; xây dựng lộ trình áp dụng hệ thống chỉ tiêu đề xuất từ sau năm 2023.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt học thuật và lý luận
- Luận án đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về chỉ tiêu thống kê nhà ở xã hội trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam; xác định rõ nội hàm, đặc điểm và vai trò của thông tin thống kê đối với chức năng quản lý nhà nước của Bộ Xây dựng.
- Đề xuất khung lý thuyết chuyển đổi cấu trúc thông tin từ 01 chỉ tiêu thống kê đơn lẻ thành Hệ thống chỉ tiêu thống kê nhà ở xã hội toàn diện gồm 3 nhóm cấu phần: (1) Nhóm chỉ tiêu dự báo và đầu vào, (2) Nhóm chỉ tiêu về thực hiện đầu tư, (3) Nhóm chỉ tiêu về kết quả đầu tư.
- Thiết lập quy trình khoa học 5 bước trong việc xây dựng, ban hành và cập nhật hệ thống chỉ tiêu thống kê chuyên ngành thuộc lĩnh vực nhà ở và thị trường bất động sản.
Đóng góp mới về mặt thực tiễn
- Phân tích định lượng thực trạng mất cân đối cung – cầu nhà ở xã hội tại Việt Nam qua việc tổng hợp dữ liệu từ 60/63 địa phương và Kết quả Tổng điều tra Dân số và Nhà ở năm 2019, làm rõ tình trạng thiếu hụt nguồn cung tại các trung tâm công nghiệp lớn.
- Chỉ ra các điểm nghẽn cụ thể trong tổ chức thông tin thống kê tại Bộ Xây dựng: sự phân tán số liệu giữa các cơ quan, việc thiếu hụt 24/28 chỉ tiêu cần thiết cho quản lý vĩ mô, và hạn chế trong cơ chế phối hợp thu thập dữ liệu từ chủ đầu tư.
- Đề xuất danh mục chi tiết các chỉ tiêu thống kê nhà ở xã hội kèm theo giải thích nội dung, phương pháp tính, nguồn dữ liệu và cơ quan chịu trách nhiệm báo cáo; đồng thời xây dựng quy trình thu thập, xử lý, công bố thông tin và lộ trình áp dụng thực tế từ sau năm 2023.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Văn bản luận án nêu rõ 02 điểm hạn chế:
- Hạn chế khách quan: Luận án không kế thừa được công trình nghiên cứu chuyên sâu nào trước đó tại Việt Nam về hệ thống chỉ tiêu thống kê nhà ở xã hội, do đó việc xây dựng các danh mục chỉ tiêu bước đầu không tránh khỏi những thiếu sót nhất định.
- Hạn chế chủ quan: Lĩnh vực nhà ở xã hội luôn biến động theo các chu kỳ kinh tế - xã hội và điều chỉnh thể chế chính sách; đồng thời nghiên cứu do một cá nhân tác giả độc lập thực hiện nên kết quả đề xuất có thể mang tính chủ quan và phù hợp nhất trong một giai đoạn thời gian cụ thể.
Hướng nghiên cứu tiếp: Tiếp tục kiểm nghiệm thực tế hệ thống chỉ tiêu đề xuất khi Bộ Xây dựng áp dụng quy chế báo cáo mới; mở rộng nghiên cứu sang việc thiết lập các mô hình hồi quy dự báo nhu cầu nhà ở xã hội chi tiết cho từng nhóm đối tượng cụ thể tại các vùng kinh tế trọng điểm.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo chuyên môn phục vụ các nhóm đối tượng:
- Cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Xây dựng, Tổng cục Thống kê, Sở Xây dựng các địa phương): Tham khảo trực tiếp danh mục 28 chỉ tiêu, bảng ma trận phân loại chức năng quản lý (Bảng 1.2) và quy trình 5 bước để xây dựng thông tư thay thế Thông tư số 27/2016/TT-BXD, hoàn thiện chế độ báo cáo thống kê ngành xây dựng.
- Nhà hoạch định chính sách kinh tế - xã hội: Sử dụng các số liệu thực trạng về quỹ đất 20%, kết quả thực hiện các đề án nhà ở công nhân, nhà ở người thu nhập thấp để điều chỉnh chính sách ưu đãi tín dụng và quy hoạch đô thị.
- Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học ngành Thống kê kinh tế, Kinh tế phát triển, Quản lý đô thị: Kế thừa phương pháp luận kết hợp giữa thống kê mô tả, điều tra chuyên gia bằng bảng hỏi và phân tích khung lý thuyết quản lý nhà nước để phát triển các đề tài nghiên cứu liên quan.
Câu hỏi thường gặp
1. Luật Nhà ở số 65/2014/QH13 quy định bao nhiêu nhóm đối tượng được hưởng chính sách nhà ở xã hội tại Việt Nam?
Luật Nhà ở năm 2014 quy định cụ thể 10 nhóm đối tượng được hưởng chính sách hỗ trợ nhà ở xã hội tại Điều 49, bao gồm: (1) Người có công với cách mạng; (2) Hộ nghèo và cận nghèo nông thôn; (3) Hộ nông thôn vùng thường xuyên bị thiên tai, biến đổi khí hậu; (4) Người thu nhập thấp, hộ nghèo, cận nghèo đô thị; (5) Người lao động tại doanh nghiệp trong và ngoài khu công nghiệp; (6) Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, công nhân thuộc công an và quân đội; (7) Cán bộ, công chức, viên chức; (8) Đối tượng đã trả lại nhà công vụ; (9) Học sinh, sinh viên các trường đại học, cao đẳng, dạy nghề và học sinh trường dân tộc nội trú; (10) Hộ gia đình, cá nhân diện bị thu hồi đất, giải tỏa chưa được bồi thường bằng nhà ở, đất ở.
2. Đến năm 2023, kết quả xây dựng nhà ở xã hội tại Việt Nam đạt mức nào so với mục tiêu theo số liệu luận án công bố?
Theo Quyết định số 338/QĐ-TTg ngày 03/04/2023 được trích dẫn trong luận án, cả nước đã hoàn thành 301 dự án nhà ở xã hội đô thị và nhà ở công nhân với quy mô khoảng 155.800 căn (tổng diện tích hơn 7.000.000 $m^2$ sàn), đạt khoảng 65% mục tiêu đề ra đến năm 2020. Cả nước đang tiếp tục triển khai 401 dự án với quy mô khoảng 454.360 căn (diện tích khoảng 22.000.000 $m^2$ sàn), trong đó có 245 dự án (300.000 căn) đang làm thủ tục đầu tư và 156 dự án (156.700 căn) đang đầu tư xây dựng. Khoảng 220 dự án (179.640 căn, tổng vốn 90.000 tỷ đồng) đang triển khai nhưng bị chậm tiến độ hoặc tạm dừng thi công.
3. Thực trạng chỉ tiêu thống kê về nhà ở xã hội do Bộ Xây dựng trực tiếp thu thập và quản lý có đặc điểm gì?
Trước khi luận án đề xuất hệ thống mới, Bộ Xây dựng chỉ thu thập và quản lý chính thức 01 chỉ tiêu thống kê ngành về nhà ở xã hội theo Thông tư số 27/2016/TT-BXD là "Tổng số nhà ở và tổng diện tích nhà ở xã hội hoàn thành trong năm". Các chỉ tiêu về đầu vào (quỹ đất sạch, giải phóng mặt bằng, vốn đầu tư), chỉ tiêu tiến độ thực hiện và chỉ tiêu đánh giá nhu cầu phân theo nhóm đối tượng đều chưa được thu thập thường xuyên mà chỉ thực hiện qua các văn bản hành chính đơn lẻ hoặc cuộc điều tra tình thế. Tỷ lệ chỉ tiêu hiện trạng so với nhu cầu quản lý thực tế chỉ đạt 4/28 chỉ tiêu.
4. Hệ thống chỉ tiêu thống kê nhà ở xã hội do tác giả đề xuất gồm những nhóm nào?
Hệ thống chỉ tiêu do tác giả đề xuất gồm 3 nhóm chính:
- Nhóm 1: Nhóm các chỉ tiêu dự báo và đầu vào (9 chỉ tiêu, bao gồm diện tích đất quy hoạch, đất đã giải phóng mặt bằng, đất đã bàn giao, số căn hộ/diện tích sàn quy hoạch, nhu cầu mua/thuê, chỉ số giá bất động sản, lãi suất ưu đãi).
- Nhóm 2: Nhóm các chỉ tiêu về thực hiện đầu tư (3 chỉ tiêu, bao gồm giá trị giải ngân vốn chính phủ, chi phí xây dựng nhà ở xã hội đã thực hiện, chi phí xây dựng nhà ở cho công nhân).
- Nhóm 3: Nhóm các chỉ tiêu về kết quả đầu tư (16 chỉ tiêu, bao gồm diện tích đất/diện tích sàn hoàn thành, số căn hộ hoàn thành lũy kế, tỷ lệ nhà ở xã hội cho thuê, tỷ lệ nhà ở xã hội so với nhà ở thương mại về số căn, diện tích và chi phí).
Kết luận
Luận án tiến sĩ của NCS Nguyễn Thị Việt Nga đã làm rõ cơ sở lý luận và thực trạng công tác thống kê nhà ở xã hội tại Việt Nam, chỉ ra sự thiếu hụt nghiêm trọng của hệ thống chỉ tiêu hiện hành so với yêu cầu quản lý vĩ mô của Bộ Xây dựng. Thông qua việc phân tích dữ liệu thứ cấp và khảo sát điều tra sơ cấp 28 chỉ tiêu chuyên môn, luận án đã xây dựng thành công khung Hệ thống chỉ tiêu thống kê nhà ở xã hội toàn diện gồm 3 nhóm (đầu vào, thực hiện và kết quả đầu tư). Công trình cung cấp luận cứ khoa học và các giải pháp tổ chức thông tin cụ thể, góp phần hoàn thiện cơ chế báo cáo thống kê ngành xây dựng và phục vụ hiệu quả các mục tiêu an sinh xã hội từ sau năm 2023.