MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội và quá trình đô thị hóa, các đô thị và khu công nghiệp cũng được mở rộng mà phát triển nhanh chóng. Sự phát triển này một mặt góp phần thúc đẩy nền kinh tế, tăng thu nhập cho đất nước nhưng mặt khác lại tạo ra một lượng lớn chất thải rắn và nhiều loại rác thải nguy hại khác, làm ảnh hưởng đến môi trường sống và sức khỏa con người nếu không được quản lý đúng cách. Tương tự các quốc gia đang phát triển và trong khu vực, các nguồn phát sinh chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH) ở Việt Nam phát sinh từ hộ gia đình, khu thương mại dịch vụ, công sở và khu vực công cộng, dịch vụ công cộng và các hoạt động sinh hoạt của cơ sở sản xuất.
Ngoài các thành phần chủ yếu là các thành phần hữu cơ (chất thải thực phẩm, giấy, vải, bìa các tông, rác vườn.) và vô cơ (nhựa, cao su, kim loại. Nguồn chất thải bao gồm nhiều loại khác như chất thải điện tử, pin, dầu thải, bìa cứng, vụn nhựa. Trong những năm gần đây, chất thải khó phân hủy từ các đồ gia dụng nhựa, túi ni lông có xu hướng gia tăng đang là một trong những vấn đề thách thức đối với công tác xử lý chất thải ở Việt Nam. Rác thải nói chung và các loại rác thải sinh hoạt nói riêng đang là một vấn đề cấp bách và nhận được nhiều sự quan tâm của toàn xã hội.
Theo những con số thống kê, mỗi ngày một người xả ra khoảng 0,5 – 0,8 kg rác thải sinh hoạt, đồng nghĩa với khoảng 90 triệu người dân Việt Nam đang xả ra môi trường khoảng 72.000 tấn rác mỗi ngày. Đây thực sự là một con số khổng lồ và là những thách thức không nhỏ trong vấn đề bảo vệ môi trường. Không chỉ vậy, rác thải sinh hoạt hiện nay phần nhiều tập trung ở những nơi có mật độ dân cư cao như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh hay nhiều thành phố, thị xã khác dẫn đến áp lực nặng nề trong việc xử lý rác thải sinh hoạt. Người Việt tuy đã cải thiện được nhiều thói quen sinh hoạt, tuy nhiên, việc xả rác bừa bãi vẫn là một nỗi lo lớn ảnh hưởng đến môi trường nhất là khi lượng rác thải xả ra mỗi ngày sẽ ngày càng tăng theo mức độ tiêu dùng, sinh hoạt của dân cư.
Hiện nay, trên cả nước có 1.322 cơ sở xử lý, gồm 381 lò đốt CTRSH, 37 dây chuyền chế biến compost, 904 bãi chôn lấp, trong đó có nhiều bãi chôn lấp không hợp vệ sinh. Trong 381 lò đốt CTRSH, chỉ có 294 lò đốt (khoảng 77%) 2 có công suất trên 300 kg/h, đáp ứng yêu cầu theo quy định của Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về lò đốt CTRSH (QCVN 61-MT :2016/BTNMT) [1]. Nhiều lò đốt, đặc biệt là lò đốt cỡ nhỏ không có hệ thống xử lý khí thải hoặc hệ thống xử lý khí thải không đạt yêu cầu về bảo vệ môi trường. Một số lò đốt đáp ứng yêu cầu của QCVN 61 - MT :2016/BTNMT nhưng khi áp dụng tại các địa phương gặp phải một số vấn đề như rác thải có nhiệt trị thấp, độ ẩm cao, trình độ vận hành của các công nhân còn yếu kém, không tuân thủ các yêu cầu kỹ thuật hoặc không vận hành hệ thống xử lý khí thải, dẫn đến không kiểm soát được chất thải thứ cấp phát sinh (đặc biệt là đối với dioxin/furan) [1].
Xử lý chất thải bằng phương pháp thiêu đốt có thể làm giảm tới mức tối thiểu chất thải cho khâu xử lý cuối cùng. Nếu áp dụng công nghệ tiên tiến sẽ mang lại nhiều ý nghĩa đối với môi trường, song đây là phương pháp xử lý tốn kém nhất so với phương pháp chôn lấp hợp vệ sinh, chi phí để đốt 1 tấn rác cao hơn khoảng 10 lần. Tuy nhiên, việc đốt chất thải dẫn đến hình thành hỗn hợp khí. Khí chứa các chất như CO2, SO2, bụi, cũng như NOx, khói kim loại nặng và hydrocarbon không cháy, furan, dioxin… [2].
Trong khi đó, việc phân tích và đánh giá thành phần các chất từ quá trình đốt lò đốt còn ít được đề cập tới. Chính vì vậy, đề tài ‘‘Nghiên cứu hệ số phát thải kim loại nặng trong tro thải từ lò đốt rác thải sinh hoạt’’ được lựa chọn thực hiện. Dựa vào kết quả nghiên cứu có thể đưa ra biện pháp nhằm giảm thiểu tối đa ảnh hưởng của tro thải lò đốt tới môi trường. Mục tiêu của đề tài Hướng nghiên cứu của đề tài nhằm tập trung để giải quyết những vấn đề sau: - Xác định được nồng độ một số kim loại nặng trong tro thải (tro bay, tro đáy) như: Cadimi (Cd), Chì (Pb), Niken (Ni), Asen (As), Kẽm (Zn), tổng Crom (Cr) của một số lò đốt rác sinh hoạt.
- Xây dựng được hệ số phát thải của một số kim loại nặng trong tro thải (tro bay, tro đáy) lò đốt rác thải sinh hoạt của một số lò đốt rác sinh hoạt thuộc 2 thành phố Hải Phòng và Bắc Ninh. Đối tượng và nội dung nghiên cứu 3.1 Đối tượng nghiên cứu - Lò đốt rác sinh hoạt ở thành phố Hải Phòng và Bắc Ninh. - Xác định hệ số phát thải do quá trình đốt có phát sinh kim loại nặng.2 Nội dung nghiên cứu Nội dung 1: Thu thập số liệu và khảo sát nguồn phát thải - Thu thập tài liệu về sự phát thải kim loại từ lò đốt rác sinh hoạt tại Việt Nam và trên thế giới. - Khảo sát về lò đốt rác sinh hoạt ở một số tỉnh phía Bắc Việt Nam (Hải Phòng và Bắc Ninh).
- Các phương pháp xác định kim loại nặng trong mẫu tro thải. - Phương pháp xây dựng hệ số phát thải. Nội dung 2: Lấy mẫu thực tế và phân tích mẫu trong phòng thí nghiệm - Lấy mẫu tro bay và tro đáy của lò đốt rác sinh hoạt tại 2 tỉnh Bắc Ninh và Hải Phòng. - Xử lý mẫu, phân tích và tính toán hàm lượng kim loại nặng trên thiết bị ICP - MS.
- Đánh giá nguyên liệu đầu vào và tính toán hê số phát thải dựa trên các kết quả đã nghiên cứu. Cơ sở khoa học và tính thực tiễn của đề tài Qua kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ có được số liệu về nồng độ một số kim loại nặng (Cu, Pb, Cd, Zn và tổng Cr) trong mẫu tro của lò đốt rác sinh hoạt. Từ kết quả này sẽ xây dựng hệ số phát thải, đánh giá được sự phát thải của các kim loại nặng vào môi trường, trên cơ sở đó dự đoán mức độ gia tăng ô nhiễm kim loại nặng trong chất thải và đưa ra các giải pháp giảm thiểu ô nhiễm. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.
Tổng quan về lò đốt rác sinh hoạt Chất thải rắn sinh hoạt là chất thải rắn phát sinh trong sinh hoạt thường ngày của con người. Lò đốt rác thải sinh hoạt là hệ thống thiết bị xử lý chất thải rắn sinh hoạt bằng phương pháp đốt kèm theo hệ thống xử lý khí thải. Nguyên lý của lò đốt rác thải sinh hoạt là quá trình oxy hoá chất thải bằng Oxy dưới sự hỗ trợ của nhiệt (trên 8000C) và quá trình oxy hoá học để làm giảm hoặc phá huỷ cấu trúc mang độc tính của chất thải. Sản phẩm cuối cùng sau quá trình đốt gồm các khí có nhiệt độ cao (Nito, Cacbon, Hơi nước.) và tro thải.
Quá trình xử lý chất thải nhiệt độ cao còn được gọi là "xử lý nhiệt". Việc đốt các vật liệu thải sẽ biến đổi chất thải thành tro, khí lò và nhiệt. Tro phần lớn được hình thành bởi các thành phần vô cơ của chất thải, và có thể dưới dạng khối rắn hoặc hạt mang theo khí lò. Khí thải phải được làm sạch các chất ô nhiễm và các tạp chất trước khi chúng được phân tán vào khí quyển.
Trong một số trường hợp, nhiệt phát sinh từ quá trình đốt có thể được sử dụng để tạo ra điện năng. Cấu tạo lò đốt rác thải sinh hoạt thường có các bộ phận chính sau : Cầu trục nâng rác Phễu nhận rác Buồng đốt thùng quay Buồng đốt thứ cấp Béc đốt thứ cấp Nồi hơi Băng tải tro Thùng tro Hệ thống ống khói Hệ thống xử lý nước 5 Cầu trục nâng rác và phễu nhận rác Buồng đốt thùng quay, buồng đốt thứ cấp và béc đốt Nồi hơi Băng tải Thùng đựng tro Hệ thống khí thải 6 Hệ thống xử lý nước Hình 1. 1 Một số hình ảnh về các bộ phận lò đốt rác sinh hoạt Trên thế giới đã có rất nhiều nhà nghiên cứu và sản xuất loại thiết bị này với nhiều chủng loại khác nhau. Một ví dụ về công nghệ đốt rác tiên tiến nhất trên thế giới phải nói đến là Nhật Bản với công nghệ đốt rác đốt rác hóa lỏng tầng sôi (CFB).
Được mệnh danh là quốc gia đốt rác thải hiệu quả nhất. Trước khi trở thành quốc gia đốt rác hiệu quả nhất thì Nhật Bản cũng là một nước tiên phong trong vấn đề phân loại và xử lí rác thải. Việc xử lí rác thải tại đây rất có chiều sâu, bắt nguồn từ chính ý thức phân loại rác và vứt rác đúng nơi quy định. Công nghệ đốt rác triệt để của Nhật tên là CFB hay còn gọi là hóa lỏng tầng sôi, công nghệ này xử lí rác bằng cách vùi rác sâu vào trong một lớp cát sau đó sử dụng lưu lượng không khí trong quá trình nung lò, cùng một số hóa chất khác để tiêu hủy rác.
Rác bên trong lò sẽ được, rác bên trong lò sẽ được đối lưu liên tục và được tiêu hủy trong thời gian rất nhanh ngay cả những vật liệu cứng nhất cũng bị hủy hoàn toàn. Không những thế công nghệ này còn giúp giảm đáng kể lượng khí thải NO; NO2 mà giá thành lại rẻ hơn so với những cách xử lí khác. Nhật còn tận dụng lượng nhiệt sau khi đốt để sản xuất nhiệt điện.2 Quá trình xử lý rác theo công nghệ CFB Miêu tả chi tiết quá trình đốt, rác được cho vào buồng đốt, luồng không khí được nung dưới đáy buồng sẽ thổi lên, đẩy những phần rác chưa cháy đi hết đi lên, sau đấy lại quay trở lại phía dưới để đốt lại một lần nữa. Công nghệ này được đánh giá là rất hiệu quả, đốt các vật liệu cứng nhanh mà chi phí lại rẻ hơn nhiều loại hình khác.
Không những thế nhiệt độ buồng đốt chỉ cần đạt khoảng 800oC thấp hơn nhiều so với những lò khác nên lượng khí thải độc hại như NO hay SO2 sẽ ít hơn rất nhiều.