Đặt vấn đề Trấu là phụ phẩm phát sinh từ hoạt động sản xuất lúa gạo, chiếm 20% khối lượng lúa được xay xát. Hiện nay, trấu được dùng để sấy lúa, sản xuất củi trấu, bán cho các lò gạch, sử dụng trong đun nấu tại các cơ sở tiểu thủ công nghiệp và hộ gia đình. Tuy nhiên, đốt bỏ trấu là hình thức xử lý phổ biến khi lượng phát sinh lớn và các nhà máy xay xát không có khả năng chứa hoặc tiêu thụ kịp thời. Việc đốt hở trấu làm phát sinh các chất khí ô nhiễm như khói, bụi, CO, CO2, NO2, SO2… góp phần gây nên ô nhiễm môi trường không khí nói chung và gây hiệu ứng nhà kính dẫn đến biến đổi khí hậu nói riêng.
Tây Nam Bộ là vùng trọng điểm về sản xuất lương thực, đặc biệt là sản xuất lúa gạo với diện tích và sản lượng luôn đứng đầu cả nước. Tuy nhiên, đây cũng là vùng có hoạt động đốt trấu phổ biến do lượng phát sinh lớn, lượng trấu phát sinh hàng năm luôn ở mức 4 - 5 triệu tấn. Hệ số phát thải (Emission Factor – EF) là một công cụ rất hiệu quả để ước tính mức độ phát thải các chất ô nhiễm không khí và đang được sử dụng rộng rãi phục vụ công tác kiểm kê phát thải ở nhiều nước trên thế giới. Tuy nhiên, EF phụ thuộc rất nhiều yếu tố như trình độ công nghệ, điều kiện môi trường, hệ thống kiểm soát ô nhiễm không khí, nguyên/nhiên liệu sử dụng.
Vì vậy, việc sử dụng EF của nước khác vào Việt Nam để thực hiện kiểm kê phát thải có thể gây ra sai số lớn. Hơn thế nữa, cho đến nay có rất ít nghiên cứu liên quan đến vấn đề đốt hở trấu ở Việt Nam nói chung và vùng Tây Nam Bộ nói riêng. Do vậ y tổng lương khí thải phát thải vào môi trườ ng cũng như những thiệ t haị môi trường, suy giảm chất lượng môi trường không khí và sức khỏe gây ra từ đốt trấu trong vùng ĐBSCL là bao nhiêu vẫn là những câu hỏi chưa đươc trả lời. Chính vì các lý do trên, đề tài “Nghiên cứu xác định hệ số phát thải các chất khí ô nhiễm từ hoạt động đốt trấu tại vùng Tây Nam Bộ” được thực hiện nhằm xác định hệ số phát thải các chất ô nhiễm môi trường không khí từ hoạt động đốt bỏ trấu.
Phạm vi vùng Tây Nam Bộ bao gồm 13 tỉnh, thành phố có đặc điểm thời tiết khí hậu 1 có sự tương đồng, đồng thời do hạn chế về mặt thời gian nên nghiên cứu chỉ lựa chọn An Giang là tỉnh đại diện để tiến hành thực hiện nghiên cứu và đánh giá. Nghiên cứu này là một trong những nhánh nghiên cứu của Đề tài cấp Bộ “Nghiên cứu xác định hệ số phát thải khí nhà kính từ hoạt động đốt hở phụ phẩm nông nghiệp (trấu, rơm rạ) vùng Tây Nam Bộ” mã số TNMT. 2 Mục tiêu nghiên cứu Nghiên cứu xác định hệ số phát thải các chất khí gây ô nhiễm môi trường không khí (CO, CO2, NO2, SO2, TSP) do hoạt động đốt trấu tại các cơ sở xay xát lúa gạo thuộc tỉnh An Giang. Từ đó, so sánh mức độ phát sinh các chất khí ô nhiễm từ hoạt động đốt hở trấu với việc sử dụng trấu như một nguồn năng lượng sẵn có cho các mục đích khác nhau.
3 Nội dung nghiên cứu 2 - Nghiên cứu xác định hệ số phát thải của các chất khí gây ô nhiễm môi trường không khí từ hoạt động đốt trấu ngoài hiện trường + Chọn 03 cơ sở xay xát có hoạt động đốt hở trấu trên địa bàn tỉnh An Giang; + Xác định các thông số khí tượng (nhiệt độ, độ ẩm, tốc độ gió, hướng gió…) tại 03 địa điểm nghiên cứu; + Đo nhanh nồng độ các chất khí ô nhiễm (CO, CO2, NO2, SO2, TSP) và xác định hệ số phát thải từ hoạt động đốt hở trấu. - Nghiên cứu xác định hệ số phát thải các chất khí gây ô nhiễm môi trường không khí từ hoạt động đốt trấu trong phòng thí nghiệm + Lấy 03 mẫu trấu (cùng thời điểm lấy mẫu khí ô nhiễm tại hiện trường) tại các cơ sở xay xát thuộc tỉnh An Giang; + Xác định khối lượng đốt, độ ẩm của mẫu trấu; + Thực hiện thí nghiệm đốt trấu trong phòng thí nghiệm; + Đo nhanh nồng độ các chất khí ô nhiễm (CO, CO2, NO2, SO2, TSP) từ hoạt động đốt hở trấu và xác định hệ số phát thải từ hoạt động đốt trấu trong phòng thí nghiệm.1 Tổng quan về vỏ trấu 1.1 Nguồn gốc của vỏ trấu Lúa (Oryza spp) là một trong năm loại cây lương thực chính của thế giới cùng với ngô, lúa mì (tiểu mạch), sắn (khoai mì) và khoai tây. Sản phẩm thu được từ cây lúa là thóc. Sau khi xát bỏ lớp vỏ ngoài ta sẽ thu được sản phẩm chính là gạo và các phụ phẩm là cám và trấu.1 Hạt thóc và sản phẩm của nó sau khi xay xát 1.2 Đặc điểm của vỏ trấu Trấu là lớp vỏ ngoài của hạt lúa và được tách ra trong quá trình xay xát.2 Hàm lượng vỏ trấu trong hạt thóc Các đặc tính của trấu ảnh hưởng đáng kể đến sự phát thải của vỏ trấu trong quá trình đốt.
4 Theo Nguyễn Bá Tuấn (2012) [19], trong vỏ trấu chứa khoảng 75% chất hữu cơ dễ bay hơi cháy trong quá trình đốt và 25% còn lại chuyển thành tro. Chất hữu cơ chứa chủ yếu là xellulose, ligin và hemi-xellulose, ngoài ra có thêm thành phần khác như hợp chất chứa nitơ và vô cơ. Ligin chiếm khoảng 25 - 30% và xellulose chiếm khoảng 35 - 40%. Các chất hữu cơ của trấu là các mạch polycarbohydrat dài nên hầu hết các loài sinh vật không thể sử dụng trực tiếp được, nhưng các thành phần này lại rất dễ cháy nên có thể dùng làm chất đốt.
Thành phần hoá học của vỏ trấu biến động theo giống lúa, mùa vụ, đặc trưng canh tác nông nghiệp của từng vùng khác nhau.1 Đặc trưng thành phần hóa học của trấu [13] Thành phần Hàm lượng (%) Độ ẩm 2,4 - 11,4 Protein thô 1,7 -7,4 Dịch chiết không chứa nitơ 24,7 - 38,8 Sợi thô 31,7 - 49,9 Tro 13,2 - 29,0 Pentosan 16,9 - 22,0 Xenllulose 34,3 - 43,8 Thành phần không tan của tro trong axit (tính 13,7 - 20,8 theo lượng tro thu được) Sau khi đốt, tro trấu chứa một hàm lượng SiO2 lớn, do vậy tro trấu được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực như làm nguyên nhiên liệu, sản xuất nhiệt năng, vật liệu xây dựng… Bảng 1.2 Thành phần oxit có trong tro trấu sau khi đốt ở nhiệt độ 500oC [1] Thành phần SiO2 K2 O MgO Fe2O3 Al2O3 CaO Hàm lượng (%) 96,84 0,06 0,83 0,34 0,94 0,24 Từ bảng 1.3 cho thấy, thành phần của vỏ trấu chủ yếu chứa các nguyên tố C, H, O, Si còn lại các nguyên tố khác không đáng kể 5 Bảng 1.3 Thành phần nguyên tố của vỏ trấu [26] Nguyên tố Phần trăm khối lượng (%) C 36,4 H 4,84 O 25,11 N 0,44 S 0,17 Vì vậy, trong quá trình đốt trấu có thể sinh ra nhiều chất khí ô nhiễm, trong đó chủ yếu là CO, CO2, NO, NO2, SO2, bụi (PM), các hợp chất hydrocacbon thơm (PAHs), các hợp chất hữu cơ bay hơi (VOCs). (3) Ứng dụng của vỏ trấu Từ lâu, vỏ trấu đã là một loại chất đốt rất quen thuộc ở vùng nông thôn, đặc biệt là ở vùng đồng bằng sông Cửu Long. Chất đốt từ vỏ trấu được sử dụng rất nhiều trong sinh hoạt (nấu ăn, nấu thức ăn gia súc) và sản xuất (làm gạch, sấy lúa). Trong sinh hoạt, người dân đã thiết kế một dạng lò chuyên nấu nướng với chất đốt là trấu.
Lò này có ưu điểm là lượng lửa cháy rất nóng và đều, giữ nhiệt tốt và lâu. Lò trấu hiện nay vẫn còn được sử dụng rộng rãi ở nông thôn.3 Lò đốt vỏ trấu dùng trong sinh hoạt ở các vùng Tây Nam Bộ 6 Hình 1.4 Lò đốt gạch tại tỉnh An Giang Hình 1.5 Kho lưu trữ trấu của lò đốt gạch - Sử dụng vỏ trấu tạo thành củi trấu Máy ép củi trấu được sản xuất tại Gò Công (Tiền Giang) có công suất 70 - 80 kg củi/giờ, tiêu thụ điện 6 - 7 KW/h. Cứ 1,05 kg trấu thì cho ra 1 kg củi trấu với lượng trấu này sẽ nấu được bữa ăn cho 4 người. Củi trấu có đường kính 73 mm, dài từ 0,5 - 1 m.6 Củi trấu thành phẩm 7 Củi trấu duy trì cháy lâu hơn nấu trực tiếp bằng trấu hoặc than đá và có thể sử dụng cho lò truyền thống, cà ràng, bếp than, bếp than đá.
rất dễ dàng vì tính chất bắt lửa nhanh, không có khói và khi cháy có mùi rất dễ chịu. Bên cạnh giá thành thấp hơn so với gas, củi trấu cũng có hạn chế là chỉ phổ biến ở vùng nông thôn, vùng ven các khu dân cư gần đô thị do phải có chỗ để củi, có bếp lò và cần nơi thải tro. - Sử dụng nhiệt lượng của trấu sản xuất điện năng Trấu là một nguồn năng lượng tái tạo dồi dào ở nước ta. Trấu cũng có thể dùng làm nguồn nguyên liệu cho các nhà máy nhiệt điện, góp phần giải quyết nạn thiếu điện cũng như tình trạng ô nhiễm môi trường do trấu dư thừa gây ra.
Theo số liệu tính toán, cứ 2 kg trấu tạo ra 1 kW điện, như vậy với khối lượng hàng triệu tấn trấu, mỗi năm chúng ta có thể thu lại được hàng trăm MW điện. Đây có thể là một nguồn nguyên liệu phong phú phục vụ cho các nhà máy nhiệt điện. Tuy nhiên, hiện nay Việt Nam chưa có nhà máy điện nào từ vỏ trấu được đi vào vận hành. - Các ứng dụng khác: Ngoài các ứng dụng nêu trên, vỏ trấu còn có thể làm nguyên liệu lọc nước, nguyên liệu xây dựng sạch, làm thiết bị cách nhiệt, làm chất độn, dùng đánh bóng các vật thể bằng kim loại, tro trấu có thể dùng làm phân bón… 1.2 Tổng quan các nghiên cứu có liên quan 1.1 Tổng quan về hệ số phát thải - Khái niệm hệ số phát thải Hệ số phát thải (Emission Factor – EF) là một đại lượng thể hiện mối liên hệ giữa lượng chất ô nhiễm phát thải từ một nguồn với các hoạt động phát thải ra các chất đó và thường được thể hiện dưới dạng khối lượng chất ô nhiễm trên một đơn vị khối lượng, thể tích, quãng đường hoặc thời gian của hoạt động phát thải ra nó [29].
- Ứng dụng và hạn chế của hệ số phát thải Hệ số phát thải là một công cụ quan trọng trong việc ước tính phát thải ô nhiễm không khí, giúp kiểm kê ô nhiễm và quyết định các chính sách nhằm giảm thiểu các tác động xấu đến môi trường không khí.