CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm 1. Tự tử Tự tử, tiếng Anh là Suicide bắt nguồn từ tiếng Latin - suicidium – có nghĩa là tự giết chính mình. Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), tự tử là hành động tự giết bản thân mình (16).
Ngoài ra, ở một số tài liệu y khoa khác, tự tử cũng được định nghĩa tương tự. Theo Từ điển Y khoa của Stedman năm 2006, tự tử là hành động cố tình gây ra cái chết cho chính bản thân mình (17). Theo cuốn Hệ thống giám sát chấn thương của Crosby và cộng sự, tự tử cũng được định nghĩa là cái chết được gây ra bởi hành vi cố tình gây thương thích trực tiếp cho bản thân mình để chết và cái chết là kết quả của hành động đó (18). Tự tử thường có liên hệ với bệnh tâm thần như trầm cảm, rối loạn lưỡng cực, tâm thần phân liệt, nghiện rượu và lạm dụng chất ma túy.
Một số trường hợp tự sát là hành vi bốc đồng do áp lực cuộc sống như khó khăn trong tài chính, bất đồng trong các mối quan hệ (19). Các hành vi tự tử Theo Tạp chí Y khoa Hoa Kỳ, hành vi tự tử là bất kì một hành động nào có thể khiến cho một người tự gây ra tử vong cho bản thân. Cụ thể hơn, theo một tổng quan tài liệu của O’Connor và cộng sự, hành vi tự tử bao gồm: ý định tự tử, kế hoạch tự tử tự tử bất thành và tự tử (20). Tự tử bất thành So với tự tử, tự tử bất thành có khá nhiều định nghĩa khác nhau trên các tài liệu y khoa khác nhau.
Các khái niệm có cách hành văn khác nhau, tuy nhiên đều mang hàm ý tương tự nhau. Trung tâm phòng chống dịch bệnh Hoa Kì định nghĩa tự tử bất thành là khi ai đó tự làm hại bản thân để cố gắng chết nhưng không thành (21). Theo Từ điển Y khoa từ đại học Oxford, tự tử bất thành là một sự nỗ lực, cố gắng để chết bằng tự tử nhưng sốt sót (22). Theo Crosby và cộng sự, tự tử bất thành là một 5 hành vi tự làm hại bản thân, có nguy cơ gây chấn thương nhưng không chết với sự cố tình để chết.
Một hành vi tự tử bất thành thì có thể gây chấn thương hoặc cũng có thể không gây chấn chương (18). Tự tử bất thành có thể dễ dàng trở thành thói quen khi đối mặt với khó khăn trong cuộc sống nếu như không có phương pháp phòng ngừa. Tổ chức y tế thế giới có bằng chứ cho rằng những người đã từng tự tử bất thành trong quá khứ thì có nguy cơ cao hơn sẽ tự tử bất thành trong tương lai so với những người chưa từng tự tử bất thành (19). Ý định tự tử Ý định tự tử là một yếu tố nguy cơ dẫn đến tự tử bất thành (23).
Theo báo cáo về tâm lý học lâm sàng của Klonsdky và cộng sự, ý định tự tử hay còn gọi là ý nghĩ tự tử được định nghĩa là ý nghĩ về tự tử hoặc ý nghĩ về kế hoạch tự tử (24). Ý định tự tử bao gồm từ những suy nghĩ thoáng qua, suy nghĩ nghiêm túc đến ý nghĩ về một kế hoạch tự tử chi tiết. Nói một cách khác theo Ponser và cộng sự, ý định tự tử là có suy nghĩ về việc muốn chết hoặc có suy nghĩ tích cực về việc tự tử, không đi kèm với hành vi chuẩn bị cho việc tự tử (25). Kế hoạch tự tử Kế hoạch tự tử hay còn gọi là hành động chuẩn bị cho hành động tự tử.
Kế hoạch tự tử là một hành vi dẫn đến tự tử bất thành nhưng trước khi có khả năng tự hại bản thân. Kế hoạch tự tử có thể bao gồm bất cứ điều gì ngoài việc suy nghĩ đơn thuần, ví dụ như chuẩn bị cho phương pháp tự tử đã lên kế hoạch (mua súng, mua thuốc trừ sâu, hái lá ngón, viết lá thư tuyệt mệnh,…) (18, 25) Vậy có thể giải thích một cách ngắn gọn cho 3 định nghĩa trên bằng một ví dụ cụ thể như sau: một người có ý nghĩ tự tử là khi người này bắt đầu có ý định muốn chết, và lựa chọn việc uống thuốc ngủ để kết thúc cuộc sống của mình. Kế hoạch tự tử là đi mua thuốc và viết thư tuyệt mệnh. Tự tử bất thành là khi người đó uống thuốc ngủ nhưng không chết.
Trẻ vị thành niên Thuật ngữ Vị thành niên xuất phát từ tiếng Latinh là “Adolescence”, có nghĩa là “lớn lên” hay “phát triển đến sự chín muồi”. Lứa tuổi VTN là giai đoạn chuyển tiếp từ trẻ em sang người lớn. Đây là giai đoạn phát triển đặc biệt mạnh mẽ và vô cùng phức tạp của cuộc đời mỗi con người. Nó được đánh dấu bằng những thay đổi xen lẫn nhau từ đơn giản đến phức tạp bao gồm: Sự phát triển mạnh mẽ về thể chất, sự biến đổi điều chỉnh tâm lý và các quan hệ xã hội, bước đầu hình thành nhân cách nên nảy sinh nhiều rối nhiễu về tâm lý nhất so với các lứa tuổi khác (26).
Vậy lứa tuổi nào thì thuộc vị lứa tuổi vị thành niên? Theo Từ điển Macmillan, độ tuổi VTN chưa được thống nhất trên toàn thế giới. Vị thành niên là giai đoạn chuyển đổi, phát tiển về thể chất và tâm lý thường xảy ra trong giai đoạn từ tuổi dậy thì đến tuổi trường thành (26). Tổ chức y tế thế giới (WHO) định nghĩa trẻ vị thành niên là trẻ có độ tuổi tuổi từ 10 đến 19 (27). Ở nhiều quốc gia, bao gồm Úc, Ấn Độ, Philippines, Brazil, Croatia và Colombia, trẻ vị thành niên được xác định là một người dưới tuổi 18 (28).
Theo Luật trẻ em Việt Nam năm 2016, Tuổi VTN được chia làm 3 nhóm: • Nhóm VTN sớm (10-13 tuổi). • Nhóm VTN giữa (14-16 tuổi). • Nhóm VTN muộn (17-19 tuổi) (29) Sự phân chia các nhóm dựa trên sự phát triển thể chất, tâm lý xã hội của từng thời kỳ. Sự phân chia này cũng chỉ mang tính chất tương đối.
Vì trong thực tế, yếu tố tâm sinh lý, phát triển thể lực của mỗi em có những đặc điểm riêng biệt không hoàn toàn theo đúng như sự phân định. Đặc biệt, đối với học sinh THPT thuộc lứa tuổi 15- 18, là độ tuổi chuyển giao giữa nhóm VTN giữa và nhóm VTN muộn. Đây là độ tuổi các em bắt đầu tiếp cận nhiều hơn với các yếu tố môi trường xã hội bên ngoài đồng thời là khoảng thời gian định hướng giá trị của bản thân cũng như con đường tương lai nên những biến đổi tâm lý ở mức nhạy cảm cao. Thực trạng về hành vi tự tử trên thế giới và một yếu tố liên quan 1.
Thực trang hành vi tự tử trên thế giới Hành vi tự tử Nếu như tự tử là một vấn đề rất rõ ràng ở trẻ vị thành niên thì các hành vi tự tử: có ý định tự tử, có kế hoạch tự tử và tự tử bất thành giống như phần chìm của tảng băng, các chuyên gia cho rằng số người có hành vi tự tử cao gấp 10-30 lần so với số người đã tự tử và hầu hết không được báo cáo (30). Thế giới có rất ít số liệu về hành vi tự tử, nếu có, chất lượng của số liệu vẫn còn thấp do thiếu tính tin cậy. Hơn nữa, WHO không nhận được thông tin về hành vi tự tử ở trẻ vị thành niên từ nhiều quốc gia (31). Điều đó dẫn đến việc khó khăn để tổng hợp số liệu và so sánh giữa các quốc gia, văn hóa và khu vực khác nhau.
Tuy vậy, báo cáo của WHO năm 2014 đã báo cáo số liệu về hành vi tự tử bất thành dựa vào 2 nguồn thông tin: Khải sát toàn cầu về bệnh tâm thần của Tổ chức Y tế thế giới (WHO World Mental Health Surveys) và Số liệu toàn cầu (WHO STEPwise) đều có thu thập thông tin về tự tử bất thành. Năm 2014, tỉ lệ người từ 18 tuổi trở lên có tự tử bất thành ở nước thu nhập cao, thấp và trung bình lần lượt là 0,3% và 0,4%, so sánh tỉ lệ này với tỉ lệ tự tử 0.015% của người trưởng thành (từ 18 tuổi trở lên) có thể dễ dàng thấy rằng với mỗi 1 trường hợp chết vì tự tử, thì có hơn 20 người tự tử bất thành (15). Đối với các nước phát triển, ở Mỹ, tỉ số tự tử bất thành so với tỉ lệ tự tử là 25:1 ở người trẻ tuổi, cao hơn gần 6 lần so với tỉ số này ở người già (4:1) vào năm 2017, cụ thể con số tự tử bất thành ở tất cả các độ tuổi ở Mỹ là 1,4 triệu, trong đó chi phí cho tự tử và chấn thương do tự tử bất thành là 69 triệu đô Mỹ (32). Đối với các nước đang phát triển, nghiên cứu về học sinh (13-17 tuổi) ở 32 nước kém phát triển (trên 4 khu vực của WHO) lại cho thấy sự khác biệt rõ rệt giữa tỉ lệ hành vi tự tử trên các quốc gia và khu vực khác nhau.
Về tỉ lệ ý định tử tử, khu vực Châu Phi có tỉ lệ cao nhất (21,6%), khu vực Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dương cho thấy tỉ lệ thấp hơn. Tỷ lệ học sinh có ý định tự tử ở 32 nước là 16% đối với nữ và 12,2% đối với nam, thấp nhất là 5,1% ở Indonesia (Khu vực Đông Nam 8 Á), và cao nhất là 28,1% ở Zambia (khu vực Châu Phi). Xấp xỉ một nửa số nước có sự chênh lệch giữa nam và nữ trong tỉ lệ hành vi tự tử, và đều cho kết quả tỉ lệ hành vi tử tử phổ biến hơn ở nữ (33). Tỉ lệ hành vi tự tử khác nhau giữa các quốc gia và châu lục vẫn còn nhiều tranh cãi và chưa có một báo cáo toàn cầu nào tổng hợp về dịch tễ học của ý định tự tử, kế hoạch tự tử và tự tử toàn cầu.
Khảo sát trên 17 quốc gia đại diện cho toàn cầu (các nước phát triển và đang phát triển đến từ 5 châu lục) cho thấy kết quả hết sức bất ngờ. Tỉ lệ ước tính cho hành vi tự tử ở các nước đang phát triển không có sự khác biệt với các nước phát triển, cụ thể: người có ý định tự tử (3,1%-12,4% và 3,0%-15,9%), người có ý định tự tử với kế hoạch (0,9%-4,1% và 0,7% và 5,6%) và tự tử bất thành (0/7%-4,7% và 0,5%-5,0%) lần lượt với nước đang phát triển và phát triển (34).