CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH XỬ LÝ NỀN ĐƯỜNG ĐẮP TRÊN ĐẤT YẾU TRONG ĐIỀU KIỆN XÂY DỰNG CỦA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH. Khái niệm về đất yếu. Nền đắp trên đất yếu là một trong những công trình xây dựng thường gặp. Trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh đặc biệt là các khu vực Quận 2, Quận 4, Quận 7, Quận 9, huyệnNhà Bè, huyện Bình Chánh, bán đảo Thanh Đa (quận Bình Thạnh), huyện Cần Giờ là những khu vực có tầng đất yếu khá dày, việc xây dựng nền đắp trên đất yếu vẫn là một vấn đề tồn tại và là một bài toán khó đối với người xây dựng.
Do điều kiện địa chất của thành phố phần lớn là đất yếu, đồng thời đặc thù yêu cầu khai thác của thành phố phần lớn là hoàn thiện công trình đưa vào sử dụng ngay, không có thời gian chờ lún và ổn định nền đường. Vì vậy, vấn đề nền đất yếu và các giải pháp xử lý cần được nghiên cứu nghiêm túc, đảm bảo sự ổn định và độ lún cho phép của công trình, đồng thời đáp ứng được yêu cầu kinh tế. Đặc trưng đất yếu tại thành phố Hồ Chí Minh. Đặc điểm phân bố địa chất tại thành phốHồ Chí Minh.
Theo đề tài nghiên cứu của Liên đoàn Bản đồ Địa chất Miền Nam, Viện Vật lý Địa cầu là đã xác định và chia nền đất của TPHCM ra làm 5 loại nền với tên gọi A, B, C, D, S. Trong đó, nền loại A là vững chắc nhất và nền S là yếu nhất. Theo kết quả đo dao động vi địa chấn, các nhà nghiên cứu nhận thấy nền loại A và B chỉ có một diện tích rất nhỏ nằm ở khu vực núi đá ĐH Quốc gia TPHCM (quận Thủ Đức) và phường Long Bình (Quận 9). Nền loại C (loại trung bình) chỉ chiếm diện tích khoảng 40%, thuộc các khu vực phía Bắc quận 9, Đông Bắc quận Thủ Đức, Tây Bắc huyện Bình Chánh và Tây quận Tân Bình.
4 Riêng nền loại D và S (2 loại nền đất yếu nhất), chiếm đến 60% diện tích đất của TPHCM. Đất nền loại này đại diện bởi bùn, sét lẫn nhiều mùn thực vật, phần lớn dày trên 10 m đến hơn 30 m. Đất nền loại S phân bố chủ yếu ở khu vực các quận: 2, 4, 6, 7, 8, 9, huyện Nhà Bè và huyện Cần Giờ, dọc bờ sông Sài Gòn, sông Đồng Nai, giáp ranh giữa huyện Củ Chi và huyện Hóc Môn, hiện đang là nơi phát triển xây dựng đô thị và công nghiệp hết sức sôi động với nhiều công trình cao tầng và các khu công nghiệp, cảng biển lớn. Đặc trưng cơ lý của đất yếu tại thành phố HồChí Minh.
Đặc điểm cấu tạo địa chất của khu vực thành phố Hồ Chí Minh có thể chia thành hai khu vực: Khu vực trũng thấp có cao độ địa hình dưới vài mét, trong các mặt địa chất công trình thường bắt gặp 3 tầng cấu trúc: bên trên là sét, bùn sét màu xám đen - xám xanh giàu hữu cơ. Đất chưa được cố kết (Kd< 0) hoặc mới ở giai đoạn đầu của sự cố kết tự nhiên (Kd = 0). Đất có trạng thái từ dẻo chảy đến chảy, bề dày thay đổi từ 5 - 6m (vùng tiếp giáp với địa hình cao) đến 25 - 30 m (vùng trũng thấp ven sông Sài Gòn và các kênh rạch). Bên dưới là sét, á sét thường có màu xám loang lổ màu nâu đỏ hay mâu vàng, trạng thái từ dẻo cứng đến nửa cứng.
Bên dưới là cát trung - thô màu xám trắng hay màu vàng, trạng thái chặt vừa. Khu vực còn lại là vùng có địa hình cao hơn 3 - 4m, trong các mặt cắt địa chất công trình thường bắt gặp 2 tầng cấu trúc: Bên trên thường gặp là sét, sét pha có kết hạch laterit, đất đã được cố kết tự nhiên nên có trạng thái từ dẻo cứng đến nửa cứng. Bên dưới là cát như vừa mô tả bên trên. Thông qua số liệu khảo sát địa chất của các dự án lớn như: Đường nối đại lộ Đông Tây – Cầu Thủ Thiêm, đường cao tốc Thành phố Hồ Chí Minh – Long Thành – Dầu Giây (đoạn qua khu vực Quận 2, Quận 9), đường Nguyễn Văn Linh,Đại lộ Đông – Tây, Đường vành đai phía Đông, Dự án mở rộng Xa lộ Hà Nội, Đường vào khu công nghiệp Phú Hữu.
thì các lớp đất chính thường gặp là những loại đất bùn sét hữu cơ và bùn sét không có hữu cơ có trạng thái độ sệt khác nhau, ngoài ra còn có lớp cát, sét lẫn sỏi sạn Laterit. 5 Tùy thuộc vào từng khu vực cụ thể mà chiều dày và sự phân bố các lớp đất yếu sẽ khác nhau, theo thống kê từ số liệu thu thập được, khu vực thành phố Hồ Chí Minh có những dạng địa chất cơ bản sau đây: Bảng 1. 1: Các dạng địa chất cơ bản khu vực thành phố Hồ Chí Minh. STT Dạng Thành phần lớp Bề dày các lớp (m) - Lớp 1: lớp đất trên mặt 0.8m 1 I - Lớp 2: bùn sét lẫn hữu cơ 25m -:- 30m - Lớp 5: lớp cát 5m (lớp dưới cùng) - Lớp 1: lớp đất trên mặt 0.2m - Lớp 2: bùn sét lẫn hữu cơ 20m -:- 25m 2 II - Lớp 3: sét lẫn sỏi sạn, laterit 3.0m - Lớp 5: lớp cát 6m (lớp dưới cùng) - Lớp 1: lớp đất trên mặt 0.0m - Lớp 2: bùn sét lẫn hữu cơ 14m -:- 18m 3 III - Lớp 3: sét lẫn sỏi sạn, laterit 3.0m - Lớp 4: sét không lẫn hữu cơ 2.0m - Lớp 1: lớp đất trên mặt 0.6m - Lớp 2: bùn sét lẫn hữu cơ 5.0m -:- 12m 4 IV - Lớp 4: sét không lẫn hữu cơ 2.
Các vấn đề về ổn định nền đắp thường gặp khi xây dựng nền đường trên vùng đất yếu. Khi thi công đắp nền đường trên vùng đất yếu thì sẽ làm tăng ứng suất trong đất, nếu sự tăng ứng suất này vượt quá một ngưỡng giới hạn nào đó (tuỳ thuộc vào tính chất cơ học và trạng thái của đất nền) thì đất nền sẽ bị phá hoại khi xây dựng khiến cho nền đắp bị lún nhiều và đột ngột. Cùng với sự lún sụp của nền đường đắp thì nền đất yếu xung quanh cũng bị trồi lên tương ứng. Cácdạng phá hoại nền đường thường gặp.
Phá hoại nền đường do lún trồi. Toàn bộ nền đường đắp lún vào nền đất yếu, đẩy trồi đất yếu tạo thành các bờ đất gần chân taluy. 1: Phá hoại nền đường do lún trồi. Phá hoại nền đường do trượt sâu.
Kiểu phá hoại này thường gặp trong xây dựng đường do dạng hình học thông thường của nền đường đắp. Một cung trượt tròn sinh ra do nên đắp bị lún cục bộ, ngược với lún lan rộng như kiểu lún trồi. 2: Phá hoại nền đường do trượt sâu. Hậu quả của sự lún này là một bộ phận của nền đường đắp và của đất nền thiên nhiên dọc theo diện tích phá hoại bị chuyển vị và có hình dạng thay 7 đổi theo tính chất và các đặc tính cơ học của vật liệu dưới nền đắp.
Để tính toán, trong các trường hợp đơn giản nhất thường xem đường phá hoại tương tự một đường cong tròn và sự trượt được gọi là trượt tròn. Sự phát triển của các hư hỏng. Sự phá hoại của đất yếu do lún trồi hoặc trượt sâu vì đắp nền đường quá cao là một hiện tượng xảy ra nhanh chóng trong khi thi công hoặc sau khi thi công xong một thời gian ngắn. Qua theo dõi sự phá hoại thấy các chuyển động chính kéo dài trong vài giờ và các chuyển động tàn dư chỉ chấm dứt sau vài tuần.
Tuy nhiên cũng có những phá hoại khác xảy ra sau khi thi công xong vài tháng hoặc vài năm như trong trường hợp tôn cao nên đường mới trên nền đắp hiện hữu hoặc khi đào đất ở chân taluy. Khác với sự phá hoại do mất ổn định, thì lún là một biến dạng chậm của đất dưới tác dụng của trọng lượng nền đắp, và thường xảy ra: Ở giữa nền đắp bởi một độ lún thẳng đứng; Ở dưới phạm vi dải đất dành cho đường: một độ lún thẳng đứng kết hợp với một chuyển vị ngang của đất nền thiên nhiên. Ở ngoài phạm vi dải đất dành cho đường là một chuyển vị ngang của đất nền thiên nhiên cho đến một khoảng cách nào đó phụ thuộc vào chiều dày của đất yếu. Các chuyển vị thẳng đứng thường có một biển độ đến hàng chục centimet với các lớp rất mềm hoặc chiều dày lớn, biên độ này có thể đến vài mét.
Các chuyển vị này ở tim nền đắp đều lớn hơn so với ở mép taluy sinh ra một biến dạng của mặt nền đường. Các chuyển vị ngang thường nhỏ hơn chuyển vị thẳng đứng, tỷ số giữa hai chuyển vị này chủ yếu phụ thuộc vào hệ số an toàn, kích thước hình học 8 của nền đắp và chiều dày của đất yếu. Tuy nhiên đã quan sát được các chuyển vị ngang đến vài chục centimet. Tốc độ lún cũng thay đổi theo tính chất của đất yếu, chiều dày của nó và sự có mặt của các lớp thoát nước.
Độ lún khác nhau ở chỗ nối tiếp giữa nền đường đắp trên đất yếu và mố cầu đặt trên móng cọc sâu tựa trên nền cứng không lún thường tạo thành một bậc cấp lớn hoặc một chỗ nứt gẫy, ảnh hưởng xấu đến việc chạy xe. Các biện pháp xử lý khi xây dựng nền đường đắp trên đất yếu đã áp dụng tại thành phốHồ Chí Minh. Nếu sức chịu tải của nền đất yếu không đủ hoặc nếu độ lún của nền đường diễn biến quá chậm thì cần áp dụng các biện pháp xử lý đặc biệt để tăng độ ổn định và tăng nhanh thời gian lún của nền đắp trên đất yếu. Hiện nay, đã và đang có khá nhiều biện pháp xử lý và do đó cũng có khá nhiều biện pháp xây dựng nền đường đắp trên đất yếu, như: Đào thay một phần đất yếu.
Đào thay toàn bộ đất yếu. Gia tải tạm thời. Giảm chiều cao nền đắp. Đắp theo giai đoạn.
Đắp bằng vật liệu nhẹ. Đắp trên lớp đệm, đắp đất trên bè. Đắp bệ phản áp. Cột đất gia cố vôi, ximăng.
Nền đất trên cọc. Cọc cát và rãnh cát.