CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN Chương này luận văn giới thiệu khái quát về vai trò của OTT trong dịch vụ truyền hình Internet. Hiệu quả của tính năng trong quá trình điều chỉnh nội dung để thích ứng với nguồn phát. Phân loại nội dung của chương trình phát theo từng nhóm của chủ đề. Hiệu quả của việc phân loại chương trình theo nội dung truyền tải.
Giúp cho chúng ta thấy được tầm quan trọng của việc phân loại nội dụng của kênh Truyền hình. Gợi ý cho người xem thông qua sở thích và thói quen của họ.1 Tổng quan về mô hình OTT Các dịch vụ ứng dụng đa phương tiện miễn phí trên các thiết di động đã thu hút hàng triệu người Việt Nam, đặt biệt là các giới trẻ. Các dịch vụ này đã làm cho các nhà mạng trong nước lo lắng về sự cạnh tranh, chia sẻ các doanh thu. Tuy nhiên với sự phát triển mạnh mẽ của các dịch vụ truyền hình Internet đang là xu hướng trong tương lai và không thể tránh khỏi sự cạnh tranh hoặc hợp tác giữa các nhà mạng trong nước.
Dịch vụ truyền hình Internet là một trong những dịch vụ đã thay đổi rất nhiều dựa vào sự thay đổi về thói quen và hành vi tiếp cận của người dùng. Đặt biệt với nhu cầu Internet đang phát triển rất mạnh, người dùng luôn lựa chọn những dịch vụ dựa theo sở thích cá nhân trên thiết bị TV thông minh hoặc điện thoại thông minh. Nhờ sự phát triển Internet làm cho dịch vụ truyền hình trở nên phổ biến và ngày càng gần hơn với người dùng. Các chương trình truyền hình ngày nay luôn phát trực tuyến trên các thiết bị thông minh giúp cho người xem có thể xem và lựa chọn những chương trình yêu thích của họ mọi lúc mọi nơi.
Ứng dụng OTT (Over The Top) là giải pháp cung cấp các nội dung cho người dùng như âm thanh, hình ảnh trên nền tảng Internet độc lập, với mô hình công nghệ OTT, những nội dung truyền hình được phân phối qua nhiều hạ tầng Internet, không nhất thiết sở hữu bởi nhà cung cấp dịch vụ. Đây là điểm khác biệt so với các dịch vụ truyền thống như truyền hình cáp, truyền hình vệ tinh. [5] 6 Với sự phát triển của các thiết bị công nghệ như smartphone, Smart TV đã làm thay đổi các nhà mạng cũng như dịch vụ truyền hình, đặt biệt là trong khoảng 10 năm qua, và chắc chắn sẽ còn rất nhiều thay đổi trong những năm tiếp theo. Từ đó mô hình OTT đang ngày càng sử dụng phổ biến trong lĩnh vực Internet và đã mở ra nhiều cơ hội mới cho các nhà cung cấp dịch vụ truyền hình như Netflix, VTVGo, SCTV Online, v.v… [6] Tại Việt Nam dịch vụ truyền hình Internet phát qua Smart TV và ứng dụng truyền hình phát trên các thiết bị di động ngày càng phổ biến và tăng mạnh, các nhà cung cấp truyền hình OTT luôn đầu tư và phát triển với nội dung chất lượng cao và đa dạng hơn, giúp cho người dùng dễ dàng xem và chọn lựa nội dung mình yêu thích dễ dàng nhất.2 Mô hình IPTV truyền thống 1.1 Sơ lược về IPTV Sự phát triển mạnh mẽ của mạng Internet toàn cầu đã góp phần khai sinh ra một hình thức truyền hình hoàn toàn mới và đầy hứa hẹn.
Đó là truyền hình Internet “Internet Protocol Television” (IPTV). Mặc dù ra đời từ cách đây hơn một thập kỷ nhưng có thể thấy IPTV hầu như không thể phát triển mạnh mẽ như mong đợi bởi trong quá khứ do điều kiện hạ tầng và băng thông mạng chưa cho phép loại hình truyền hình mới này phát huy hết lợi thế. Chính vì thế mà IPTV vẫn còn nhường bước so với truyền hình truyền thống và truyền hình cáp. Trong những năm gần đây mạng Internet đã có những bước phát triển vượt bậc.
Trong đó đáng chú ý nhất là sự phổ biến của mạng băng rộng với tốc độ kết nối ngày càng nhanh hơn. Ở một số quốc gia như Hàn Quốc cáp quang đã được kéo đến tận từng nhà. Đây là nền tảng giúp IPTV bắt đầu có bước phát triển mạnh mẽ. IPTV có thể xem là thế hệ tiền thân của truyền hình trên nền tảng OTT.
Trên hệ thống IPTV, dịch vụ truyền hình số được được cung cấp qua thiết bị đầu cuối Set- top-box (STB). Qua thiết bị này, thuê bao có thể xem các kênh, thực hiện dịch vụ thuê bao cũng như các dịch vụ tương tác đa phương tiện khác thông qua nền tảng kết nối trực tiếp – quản lý bởi chính nhà cung cấp dịch vụ (managed IP). Bản chất kết 7 nối giữa STB và nhà cung cấp dịch vụ là dựa trên nền tảng IP, nên dịch vụ IPTV có thể dễ dàng được cung cấp cùng với dịch vụ Internet khác như truy cập trang Web, điện thoại qua Internet, v.v… [7] Hỗ trợ truyền hình có tính tương tác 2 chiều: tạo điền kiện cho việc cung cấp đa dạng các ứng dụng truyền hình có tính tương tác cao như truyền hình trực tiếp với nhiều góc quay, truyền hình có độ nét cao theo yêu cầu, các trò chơi truyền hình tương tác, v.v… Xem lại chương trình của kênh truyền hình: kết hợp với chức năng ghi hình cho phép người dùng xem lại chương trình đã phát sóng ở một thời điểm khác trước đây. Cải thiện trải nghiệm riêng biệt khi xem truyền hình: nhờ tương tác 2 chiều với nhà cung cấp dịch vụ thông qua STB, người dùng có thể chọn lựa kênh muốn xem và thời gian xem cho phù hợp với thị hiếu của mình.
Sử dụng băng thông một cách hiệu quả: công nghệ IPTV bảo đảm chỉ phát kênh lên hạ tầng truyền dẫn khi có người yêu cầu. Chính thế dù có khả năng cung cấp rất nhiều chương trình cùng một thời điểm, băng thông của hạ tầng cũng được sử dụng một cách hợp lý. Giải trí thư giãn xem truyền hình qua nhiều thiết bị đầu cuối, hệ thống IPTV cung cấp nội dung không chỉ trên TV mà còn có thể trên PC hay trên điện thoại thông minh kết nối trực tiếp với mạng nội bộ của STB.2 Kiến trúc cơ bản của hệ thống IPTV Super head-end (đầu nạp tải trung tâm): nơi tập trung các kênh mà dịch vụ IPTV muốn cung cấp cho khách hàng. Core network (mạng lưới trung tâm): tốc độ mạng cao, truyền tải các kênh đến các đầu nạp tải khu vực.
Access network (mạng lưới thuê bao) bảo đảm kết nối từ đầu nạp khu vực đến người dùng đầu cuối. Regional head-end (đầu nạp khu vực): có thêm các kênh khu vực được đưa vào gói kênh phát cho người dùng đầu cuối. 8 Customer premises (thiết bị người dùng đầu cuối): là hệ thống mạng nội bộ cài ở người dùng, nơi luồng IPTV kết thúc và được trình chiếu.1: Các thành phần cơ bản của hệ thống IPTV 1.3 Sự phát triển của IPTV trong giai đoạn hiện tại Mặc dù IPTV tồn tại trên nền tảng Internet, nhưng không có nghĩa là dịch vụ này sẽ khả thi với mọi chất lượng Intenet. Chỉ khi Internet với băng thông rộng được phổ cập, IPTV mới được đưa vào ứng dụng rộng rãi vì bản chất tiêu thụ nhiều băng thông của tín hiệu hình ảnh.
Hiện tại có 2 dạng để xem IPTV: qua STB hay qua PC được trang bị ứng dụng phù hợp. Nhiều nhà cung cấp IPTV cũng phục vụ luôn dịch vụ điện thoại và truy cập Internet, tạo nên gói dịch vụ đồng thời có 3 tiện ích (tripple play) trên hạ tầng mạng tốc độ cao. [9] 9 Nhu cầu tăng vọt của Internet trong đời sống hàng ngày và cả trong công việc đã làm cho hạ tầng Internet phát triển nhanh cả về phạm vi phủ mạng lưới, cả về chất lượng mạng. Tận dụng được nền tảng này, IPTV đã dễ dàng hơn trong việc phát triển thị trường mà không cần thêm đầu tư quan trọng cho các hạ tầng chuyên biệt chỉ cho truyền hình.
Đấy là lý do mà giai đoạn trước 2010, đánh giá là thời kỳ hoàng kim của IPTV. Giai đoạn này được coi là làn sóng thứ 2 trong ngành công nghiệp truyền hình. Làn sóng thứ nhất là giai đoạn chuyển đổi từ đồng dạng sang số hóa của truyền hình đại chúng.3 Các khó khăn thách thức trong dịch vụ truyền hình Internet Các nhà cung cấp truyền hình lớn như VTV, VTC, K+, SCTC hoặc các doanh nghiệp trong và ngoài nước như FPT, VNPT, iFlix, Netflix điều tham gia vào cuộc canh tranh cung cấp các gói sản phẩm truyền hình OTT nhằm để đáp ứng được nhu cầu cần thiết của người tiêu dùng. Trong thực tế, những thách thức lớn cho các nhà mạng cung cấp dịch vụ truyền hình OTT hiện nay đó chính sự thay đổi thói quen hành vi của người dùng và sự phát triển của thiết bị công nghệ.
Truyền hình OTT là lĩnh vực được ứng dụng nhiều nhất bởi việc cung cấp các nội dung truyền hình trực tuyến và các Video. Ưu thế lớn nhất của công nghệ OTT là việc cho phép cung cấp các nguồn nội dung phong phú và đa dạng theo nhu cầu của người dùng. Trong cuộc sống hiện đại ngày nay, người dùng thường thích được xem Truyền hình mọi lúc mọi nơi, theo mong muốn và sở thích, chứ không muốn phụ thuộc vào khung giờ cố định như xem truyền hình như trên TV truyền thốn. [10] Với những tính năng trên, cùng với những nhu cầu cao của người dùng, mô hình OTT luôn nâng cao chất lượng hình ảnh truyền dẫn, thời gian lựa chọn thay đổi nội dung với băng thông có độ trễ nhỏ hơn 10 giây.
Hình ảnh không bị đứng khi thiết bị đầu cuối bị giảm đột ngột. Giao diện hiển thị danh sách kênh được nhóm lại thành các nội dung yêu thích của người dùng, để tiết kiệm thời gian. Kênh đang trình chiếu sẽ nhóm lại thành chủ đề đang chiếu và gợi ý cho người dùng những nội dung tương tự tiếp theo. 10 Các bước kỹ thuật cũng như dịch vụ kinh doanh chính của một mô hình OTT tiêu biểu.
Với bất cứ mô hình nào, các đặc điểm chính của việc triển khai OTT luôn đòi hỏi giải pháp cho các vấn đề sau: Số lượng truy cập lớn: không quá bất thường là hiện tượng các gói OTT tạo ra hơn 2,5 triệu người xem trong những tuần đầu triển khai. Mô hình mua bản quyền xem truyền hình: có thể mua bản quyền xem phim trên truyền hình tại 1 thiết bị và xem phim đấy qua các thiết bị khác trong nhà. Mô hinh OTT theo cơ chế bảo mật, chỉ cho phép người dùng đã có bản quyền xem có thể tận hưởng các phim có trong chương trình TV.