CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CHUNG VỀ TRÀN.1 Tổng quan về tràn xả lũ ở Việt Nam: Trong cụm công trình đầu mối, tràn xả lũ có nhiệm vụ xả nước thừa về mùa lũ, để khống chế mực nước thượng lưu không cho vượt quá mức cho phép. Tràn xả lũ ở các hồ chứa đã xây dựng tại Việt Nam cho thấy rất đa dạng về chủng loại, quy mô, kích thước.1 Phân loại tràn xả lũ: 1.1 Theo hình thức có hay không có cửa van: • Tràn xả lũ không có cửa van (tràn tự động). Định nghĩa: Cao trình ngưỡng tràn bằng mực nước dâng bình thường. Lúc mực nước trong hồ bắt đầu dâng lên và cao hơn ngưỡng tràn thì nước trong hồ tự động chảy xuống hạ lưu.
1: Tràn xả lũ không có cửa van (tràn tự động) Ưu điểm: Tự động tháo lũ, quản lý vận hành thuận tiện, chi phí quản lý nhỏ. Về giá thành xây dựng thì tràn không có cửa van rẻ hơn loại có cửa van. Nhược điểm: Bề rộng tràn lớn, diện tích ngập lụt lớn, cột nước tràn thấp nên khả năng thoát lũ không lớn, không chủ động trong điều tiết lưu lượng xả lũ. 5 Điều kiện áp dụng: Loại tràn này thường được áp dụng cho các hồ chứa nước vừa và nhỏ.
• Tràn xả lũ có cửa van: Định nghĩa: Cao trình ngưỡng tràn thấp hơn mực nước dâng bình thường trên đỉnh ngưỡng tràn có bố trí cửa van. Cửa van phẳng và cửa van cung là hai loại được sử dụng chủ yếu. 2: Tràn xả lũ có cửa van cung Ưu điểm: Giảm chiều cao ngưỡng tràn, giảm chiều rộng tràn nước; lợi dụng một phần dung tích hữu ích làm nhiệm vụ cắt lũ; chủ động tốt trong việc hạ thấp mực nước hồ khi cần, tăng tỷ lưu qua tràn. Nhược điểm: Do có cột nước tràn và lưu lượng đơn vị lớn nên công trình nối tiếp tiêu năng phức tạp hơn; quản lý, bảo dưỡng, vận hành khó khăn hơn và chi phí quản lý lớn.
Điều kiện áp dụng: Với hệ thống công trình tương đối lớn, dung tích phòng lũ lớn, khu vực ngập ở thượng lưu rộng. Loại tràn này đang được ưu tiên khi thiết kế xây dựng mới.2 Theo hình thức ngưỡng tràn: • Tràn xả lũ có ngưỡng đỉnh rộng: Định nghĩa: Có hình dạng tùy ý, nhưng đỉnh đập tràn phải nằm ngang, chiều dày đỉnh đập (δ) phải thỏa mãn điều kiện sau đây: (8÷10)H > δ > (2÷3)H Hình 1. 3:Mặt cắt ngang tràn xả lũ có ngưỡng đỉnh rộng Ưu điểm: Thi công dễ dàng. Đỉnh tràn rộng thuận lợi cho việc nâng cấp cải tạo nếu có sau này.
Nhược điểm: Lưu lượng tháo nhỏ hơn so với đập tràn thực dụng, trong trường hợp chảy ngập, khả năng tháo giảm đi rất nhiều. Điều kiện áp dụng: Loại này thường dùng khi địa hình tuyến tràn đủ rộng, cao trình tự nhiên lớn hơn cao trình ngưỡng tràn; không yêu cầu hệ số lưu lượng lớn. • Tràn xả lũ có ngưỡng thực dụng: Định nghĩa: Mặt cắt có thể là hình thang hoặc hình cong có đỉnh đập và mái hạ lưu lượn theo làn nước tràn. Đập tràn thực dụng có hai loại: có chân không và không có chân không.
4: Mặt cắt ngang tràn xả lũ có ngưỡng thực dụng 7 - Loại đập tràn thực dụng không có chân không là loại đập tràn có dòng chảy trên đập có áp suất dọc theo mặt đập là dương. - Loại đập tràn thực dụng có chân không là loại đập tràn có áp lực chân không ở đỉnh đập. Tọa độ đỉnh tràn có dạng elíp hoặc hình tròn (dạng cơ-ri-ghe Ô-phi-xê-rôp có chân không của Liên xô cũ) hoặc dạng Wes của Mỹ. Ưu điểm: dòng chảy trên tràn được thuận, hệ số lưu lượng lớn, dễ tháo các vật trôi trong nước.
Nhược điểm: Thiết kế và thi công phức tạp hơn so với đập tràn đỉnh rộng. Với đập tràn thực dụng có mặt cắt chân không, lúc chân không lớn có thể sinh ra hiện tượng khí thực. Điều kiện áp dụng: Dùng khi địa hình không rộng hoặc cần hệ số lưu lượng lớn. 1: Tổng hợp một số tràn xả lũ ở Việt Nam Tràn tự động TT Tên công trình Hình thức ngưỡng tràn hay tràn có cửa van 1 Hồ chứa nước núi Cốc Ngưỡng tràn đỉnh rộng Có cửa van Hồ chứa nước Cấm 2 Ngưỡng tràn thực dụng Có cửa van Sơn Hồ chứa nước Suối 3 Ngưỡng tràn thực dụng Có cửa van Đuốc Hồ chứa nước tuyền 4 Ngưỡng tràn đỉnh rộng Tràn tự động lâm Hồ chứa nước Xạ 5 Ngưỡng tràn thực dụng Có cửa van Hương Hồ chứa nước Vực 6 Ngưỡng tràn thực dụng Có cửa van Mấu 7 Hồ chứa nước Kẻ Gỗ Ngưỡng tràn thực dụng Có cửa van 8 Tràn sông Trí Ngưỡng tràn thực dụng Tràn tự động 9 Hồ chứa nước Phú Ngưỡng tràn thực dụng Có cửa van 8 Tràn tự động TT Tên công trình Hình thức ngưỡng tràn hay tràn có cửa van Vinh 10 Hồ chứa nước An Mã Ngưỡng tràn thực dụng Có cửa van 11 Tràn xả lũ Nước Trong Ngưỡng tràn thực dụng Tràn tự động Hồ chứa nước Thuận 12 Ngưỡng tràn thực dụng Có cửa van Ninh Hồ chứa nước Ayun 13 Ngưỡng tràn thực dụng Có cửa van Hạ Hồ chứa 14 Ngưỡng tràn thực dụng Có cửa van nước Camranh 15 Hồ chứa nước Đạ Tẻh Ngưỡng tràn thực dụng Tràn tự động Hồ chứa nước Tuyền 16 Ngưỡng tràn đỉnh rộng Tràn tự động Lâm Hồ chứa nước Sông 17 Ngưỡng tràn thực dụng Có cửa van Quao Hồ chứa nước Dầu 18 Ngưỡng tràn thực dụng Có cửa van Tiếng 19 Hồ Krong buk hạ Ngưỡng tràn thực dụng Có cửa van 20 Hồ Iamơ Ngưỡng tràn thực dụng Có cửa van 21 Hồ Iam'lá Ngưỡng tràn thực dụng Có cửa van 22 Thủy Điện Bắc Hà Ngưỡng tràn thực dụng Có cửa van Ngưỡng tràn thực dụng dạng 23 Hồ cửa đạt Có cửa van WES Thủy điện Sông Tranh Ngưỡng tràn thực dụng dạng 24 Có cửa van 2 WES 25 Thủy điện Bình Điền Ngưỡng tràn thực dụng Có cửa van 26 Hồ chứa Tân Giang Ngưỡng tràn thực dụng Có cửa van 27 Thác Bà Ngưỡng tràn thực dụng Có cửa van 9 Tràn tự động TT Tên công trình Hình thức ngưỡng tràn hay tràn có cửa van Ngưỡng tràn thực dụng dạng 28 Kanak Có cửa van WES Ngưỡng tràn thực dụng dạng 29 Thủy Điện Sơn La Có cửa van WES 30 Thủy điện Hòa Bình Ngưỡng tràn thực dụng Có cửa van 31 Thủy điện Trị An Ngưỡng tràn thực dụng Có cửa van 32 Thủy điện Ialy Ngưỡng tràn thực dụng Có cửa van 33 Thủy điện Thác mơ Ngưỡng tràn thực dụng Có cửa van Tràn tự động, labyrinth dạng 34 Thủy lợi Phước hòa Labyrinth dạng mỏ mỏ kết hợp tràn có cửa van Ngưỡng tràn thực dụng hình 35 Hồ chứa Bỉ Tràn tự động thang Ngưỡng tràn 36 Thủy điện Hàm thuận Đập Đá đổ có lõi chống thấm thực dụng, có cửa van 37 Thủy điện Đồng Nai 3 Ngưỡng tràn thực dụng Có cửa van 38 Thủy điện Đồng Nai 4 Ngưỡng tràn thực dụng Có cửa van 39 Hồ chứa nước Phú Hà Ngưỡng tràn thực dụng Có cửa van Tràn tự động 40 Hồ chứa sông Móng Tràn labyrinth labyrinth kết hợp tràn có cửa van 41 Hồ chứa Định Bình Tràn kiểu phím đàn piano Tràn tự động 42 Thủy điện Dakrong 3 Tràn kiểu phím đàn piano Tràn tự động 10 1.2 Một số sự cố hư hỏng tràn ở Việt Nam: Sự cố đập do nguyên nhân hư hỏng tràn chiếm tỉ lệ đáng kể và hầu hết là sự cố lớn.
Do khẩu diện tràn xả lũ không thoát được lũ thực tế dẫn đến nước trong hồ chứa dâng cao hơn mực nước thiết kế và phá hủy đập. Một số ví dụ cụ thể về các sự cố này như sau [8]: Hồ chứa Buôn Komleo (Buôn Mê Thuật) đã bị vỡ đập do xuất hiện mưa lũ vượt tần suất thiết kế dẫn đến khả năng tháo của tràn không đảm bảo làm cho mực nước hồ cao hơn thiết kế, vượt qua đỉnh đập 0,58m năm 1992. Khu vực nhà máy thủy điện Bình Điền (Thừa Thiên Huế) bị ngập nước dẫn đến thiệt hại máy móc thiết bị hàng chục tỷ đồng năm 2009 do sự cố hư hỏng 2 trong số 5 cửa van dẫn đến không thoát được đủ lưu lượng theo thiết kế. Đập tràn Dầu Tiếng (Tây Ninh) do có sự cố xảy ra ở cửa số 3 và số 4 khi đang vận hành bộ phận đòn gánh đỡ càng bị đứt nước cuốn trôi 2 cửa van và hai nhịp cầu công tác gây ngập lụt ở hạ lưu với thiệt hại khá lớn.
Đập dâng nhà máy thủy điện Hố Hô bị vỡ (2010) mà nguyên nhân chính là do mưa lũ quá lớn, quá đột ngột và kéo dài, đỉnh lũ xuất hiện bất ngờ, tăng lên 6m chỉ trong hai tiếng đồng hồ. Do mất điện trên diện rộng nên công tác vận hành mở cửa van cung xả lũ không thể thực hiện dẫn đến nước tràn qua đập, gây thiệt hại hư hỏng toàn bộ nhà máy cuốn trôi hết thiết bị. Sự cố hư hỏng tràn xả lũ đã xảy ra ở nước ta là không nhỏ và liên quan tới các sự cố này có nhiều nguyên nhân khác nhau. Qua nghiên cứu cho thấy có 4 nguyên nhân chính sau: - Một là, do tính toán thủy văn trước đây không phù hợp với thực tế, do ảnh hưởng bất lợi của biến đổi khí hậu nên tràn không đủ năng lực làm việc, phải khắc phục bằng cách cải tạo tràn, làm thêm tràn phụ, tràn sự cố như hồ Phú Ninh (Quảng Nam), hồ Núi Cốc (Thái Nguyên), hồ Vệ Vừng (Nghệ An), hồ Vực Tròn (Quảng Bình), hồ Tà Kèo (Lạng Sơn), hồ Núi Một (Bình Định), hồ Liệt Sơn (Quảng Ngãi).
Xu thế chung hiện nay là ở các hồ lớn đều chú trọng tính toán lại thuỷ văn để xem xét bổ sung khẩu độ 11 thoát lũ. Còn đối với các hồ loại nhỏ, một điều hết sức đáng lo ngại hiện nay là hầu hết các tràn không đủ năng lực xả lũ nên dễ dẫn đến vỡ đập. - Hai là, do cửa van hoặc thiết bị đóng mở tắc kẹt, gãy. Ví dụ như tràn hồ Yên Lập trong lũ 1994 cả 03 cửa van bị kẹt; Dầu Tiếng: Lũ 1986, 2 cửa van giữa bị đứt vỡ tai cửa; Vực Tròn: Đứt cáp, gãy cửa van; XạHương: Cửa van bị nứt gãy.
- Ba là, do tính toán thuỷ lực không chuẩn xác, dẫn đến có sự sai khác lớn giữa cột nước thiết kế và thực tế, hậu quả là tràn bị hư hỏng. Ví dụ ở công trình Nam Thạch Hãn (Quảng Trị), mực nước trong thực tế lũ năm 1983 là 8,10m, trong khi đó số liệu tính toán thiết kế là 2,55m, chỉ bằng 31,5% cột nước thực tế.