ĐẶT VẤN ĐỀ Trong nhiều năm gần đây, tài nguyên rừng nhiệt đới ngày càng bị suy giảm. Trên thế giới trung bình hàng năm rừng nhiệt đới mất đi khoảng 11 triệu ha. Năm 1943 nước ta có khoảng 14,3 triệu ha nhưng đến nay chỉ còn khoảng 13,4 triệu ha rừng (Bộ NN & PTNT, 2010). Mất rừng đã ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của nhân dân, nhất là đồng bào các dân tộc ít người ở miền núi và trung du.
Một trong những nguyên nhân chính dẫn đến sự mất rừng là do chúng ta chưa gắn lợi ích của người dân với tài nguyên rừng. Nhằm đẩy nhanh tốc độ phục hồi rừng, Chính phủ Việt Nam đã ban hành nhiều chính sách, áp dụng nhiều giải pháp, đầu tư nhiều chương trình, dự án trồng rừng. Kết quả diện tích rừng ở nước ta đã tăng lên, đáp ứng nhu cầu về lâm sản, môi trường sinh thái và cảnh quan du lịch. Tuy nhiên, sự quan tâm của chúng ta trong thời gian qua tập trung nhiều vào 2 đối tượng là rừng phòng hộ và rừng đặc dụng, rừng trồng sản xuất chưa được quan tâm chú ý nhiều và thực tiễn sản xuất hiện nay đang đặt ra rất nhiều vấn đề cần phải có lời giải đáp, cả về kỹ thuật, kinh tế, chính sách và thị trường, gây ảnh hưởng trực tiếp tới người trồng rừng, theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp & PTNT do Bộ trưởng Cao Đức Phát trình bày tại hội nghị tổng kết dự án trồng mới 5 triệu ha rừng cho biết: Qua 13 năm thực hiện dự án (1998-2010), cả nước đã trồng được hơn 2,45 triệu ha rừng, nếu tính cả 1,28 triệu ha rừng khoanh nuôi tái sinh thì tổng diện tích gây rừng đạt trên 3,73 triệu ha (đạt 74,6% dự án).
Sản lượng khai thác rừng trồng hàng năm tăng nhanh, đạt 4,5 triệu m3 năm 2010 Mặc dù dự án chưa đạt được mục tiêu ban đầu về chỉ tiêu trồng mới 5 triệu ha rừng nhưng đã có hiệu quả lớn về môi trường, xã hội và kinh tế. Dự án đã tạo việc làm và thu nhập cho hơn 4,6 triệu lao động nông thôn. Tỷ lệ che phủ rừng của cả nước từ 32% năm 1998 đã tăng lên 39,5% cuối năm 2010. Chính phủ đã chỉ đạo trong thời gian tới cần tập trung đẩy mạnh phát triển trồng rừng sản xuất.
n 2 Yên Thế là một huyện miền núi của tỉnh Bắc Giang - nơi có khá nhiều diện tích rừng trồng sản xuất được xây dựng trong thời gian qua. Theo số liệu thống kê của tỉnh đầu năm 2010 thì diện tích tự nhiên huyện Yên Thế là 30.101,5ha, trong đó diện tích đất có rừng là 14.117 ha, độ che phủ 41,8%. Điều rất đáng chú ý là diện tích rừng trồng ở huyện Yên Thế lại đứng thứ 3 toàn tỉnh (12.248,5 ha), chiếm 15,03% diện tích rừng trồng toàn tỉnh. Tại đây các mô hình rừng trồng sản xuất cũng đã hình thành và khá đa dạng, thu hút được nhiều hộ dân tham gia vào công tác bảo vệ và phát triển rừng, góp phần xoá đói giảm nghèo và giải quyết các vấn đề xã hội của huyện.
Công ty đã có nhiều bài học và kinh nghiệm thực tiễn trong việc tổ chức trồng rừng sản xuất. Tuy nhiên, cho đến nay chưa có một công trình đánh giá có hệ thống nào về rừng trồng sản xuất ở công ty lâm nghiệp Yên Thế. Việc đánh giá kết quả trồng rừng sản xuất nhằm rút ra được các kinh nghiệm, mô hình có triển vọng,… là rất cần thiết. Đây chính là lý do tác giả thực hiện đề tài: “Nghiên cứu hiện trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả trồng rừng kinh doanh gỗ trụ mỏ ở công ty lâm nghiệp Yên Thế tỉnh Bắc Giang”.
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Trên thế giới Phát huy hiệu quả rừng trồng nói chung và rừng trồng sản xuất nói riêng là vấn đề mà các nhà khoa học luôn quan tâm nghiên cứu. Cơ sở khoa học cho việc phát triển trồng rừng sản xuất ở các nước phát triển đã tương đối hoàn thiện từ công tác giống tới các biện pháp tác động, phục vụ đắc lực cho sản xuất lâm nghiệp. Công tác nghiên cứu giống cây rừng Có thể nói, công tác nghiên cứu giống cây rừng góp phần quan trọng vào thành công của công tác trồng rừng sản xuất.
Từ thế kỷ 18, 19, những ý tưởng về công tác lai giống, sản xuất hạt giống và nhân giống sinh dưỡng cây rừng đã thu được một số thành tựu nhất định: Syrach Larsen đã sản xuất được một số cây lai có hình dáng đẹp và có ưu thế về sinh trưởng. Nilsson - Ehle (1973 - 1949) đã phát hiện ra Dương núi tam bội có sinh trưởng tốt hơn so với cây nhị bội. Các chương trình chọn giống được bắt đầu ở nhiều nước và tập trung cho nhiều loài sinh trưởng nhanh, trong đó có Bạch đàn. Tại Braxin đã tiến hành chọn cây trội, xây dựng vườn giống thụ phấn tự do cho loài E.
maculata ngay từ những năm 1952; tại Mỹ là loài E. Trong 3 năm (1970 - 1973), Úc đã chọn cây trội thành công cho loài E. regnans và loài E. diversicolor ở Úc và loài E.
deglupta ở Papua New Guinea cũng được tiến hành chọn cây trội ở rừng tự nhiên (dẫn theo [28]). Cho tới nay, ở nhiều nước trên thế giới đã có những giống cây trồng rừng cho năng suất rất cao nhờ những chương trình nghiên cứu chọn tạo giống mới như tại Brazil, những khu thí nghiệm Bạch đàn lai E. urophylla năng suất đạt 100m3/năm (Kageyama, 1984). Ở Công gô, năng suất rừng cũng đạt 40-50m3/ha/ năm.
Theo Covin (1990) tại Pháp và Ý, với năng suất rừng đạt 40-50m3/ha/năm đã thu hút sự chuyển đổi hàng ngàn ha đất nông nghiệp thành n 4 rừng cung cấp nguyên liệu giấy cho hiệu quả kinh tế cao. Tại Thái Lan rừng Tếch cũng đã đạt sản lượng 15-20 m3/ha/năm (dẫn theo [69]),. Cesar Nuevo (2000) [61] đã có những khảo nghiệm về Keo có xuất xứ từ Úc và Papua New Guinea, các giống Lõi thọ ở các địa phương khác nhau thuộc Mindanao; trên cơ sở đó lựa chọn những xuất xứ tốt nhất để xây dựng vùng sản xuất giống. Chọn giống kháng bệnh cũng là hướng nghiên cứu được nhiều tác giả quan tâm.
Tại Braxin, Ken Old, Alffenas và các cộng sự từ năm 2000-2003 đã thực hiện một chương trình chọn giống kháng bệnh cho các loài Bạch đàn chống bệnh gỉ sắt Puccinia. Các công trình nghiên cứu về lai giống cũng đã mang lại nhiều kết quả tốt phục vụ trồng rừng sản xuất (Assis, 2000), (Paramathma, Surendran, 2000), (FAO, 1979),… 1. Những nghiên cứu về lâm sinh Để thực hiện thành công việc tạo ra những sản phẩm cây rừng một cách nhanh nhất và rẻ nhất, bên cạnh công tác giống, các biện pháp kỹ thuật trong tạo rừng cũng rất được quan tâm nghiên cứu.B Ball, Tj Wormald, L Russo (1995) [63] khi nghiên cứu tính bền vững của rừng trồng đã đặc biệt lưu ý đến cấu trúc tầng tán của rừng hỗn loại. Matthew, J Kelty (1995) (dẫn theo [67]) đã nghiên cứu xây dựng mô hình rừng trồng hỗn loài giữa cây gỗ và cây họ đậu.
Kết quả cho thấy cây họ đậu có tác dụng hỗ trợ rất tốt cho cây trồng chính. Qua đó có thể khẳng định việc tạo lập các loài cây hỗ trợ ban đầu cho cây trồng chính trước khi xây dựng các mô hình rừng trồng hỗn loài là rất cần thiết. Những nghiên cứu về phương thức, mật độ và các biện pháp kỹ thuật trồng rừng khác cũng đã được thực hiện ở nhiều nước trên thế giới, tạo cơ sở khoa học cho phát triển trồng rừng sản xuất trong thời gian qua. Tại Malaysia, năm 1999 (theo [65]) người ta đã tiến hành xây dựng rừng nhiều tầng hỗn loài trên 3 đối tượng: rừng tự nhiên, rừng Keo tai tượng và Tếch n 5 với 23 loài bản địa có giá trị trồng theo băng có chiều rộng khác nhau (10m, 20m, 30m, 40m) và phương thức hỗn giao khác nhau.
Kết quả đã cho thấy sinh trưởng chiều cao tốt ở băng 10m và 40m. Những khu đất đã bị thoái hoá mạnh cũng được cải tạo để trồng rừng mang lại hiệu quả cao. Mohamed và Abd. Razak Othman (2003) [58] cho biết ở Malaysia người ta đã sử dụng các loài tre, luồng để phục hồi những lâm phần đã thoái hoá rất có hiệu quả.
Tre luồng có thể trồng ở những khu rừng sau khai thác trắng hoặc ở những khu vực bị khai thác quá mức. Đời sống trước mắt của người dân tham gia phát triển rừng trồng sản xuất cũng là một vấn đề được nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu, nhất là tại những nước nghèo. Phillips (2001)[60], để bảo vệ đất đồng thời phát triển kinh tế cho những hộ gia đình nghèo, ở Fuji người ta trồng một số loài tre luồng trên đồi mang lại hiệu quả cao; ở Indonesia, người ta đã áp dụng phương thức nông lâm kết hợp với cây Tếch,. Đây là một trong những hướng đi rất phù hợp đối với vùng đồi núi ở một số nước khu vực Đông - Nam châu Á, trong đó có nước ta.
Nghiên cứu về chính sách và thị trường Hiệu quả của công tác trồng rừng sản xuất chính là hiệu quả về kinh tế. Sản phẩm rừng trồng phải có được thị trường, phục vụ được cả mục tiêu trước mắt cũng như lâu dài. Đồng thời, phương thức canh tác phải phù hợp với kiến thức bản địa và dễ áp dụng đối với người dân. Theo nghiên cứu của Ianuskơ K (1996), vấn đề thị trường tiêu thụ sản phẩm cho các khu rừng trồng kinh tế có thể giải quyết được thông qua những kế hoạch xây dựng và phát triển các nhà máy chế biến lâm sản với quy mô khác nhau trên cơ sở áp dụng các công cụ chính sách “đòn bẩy” nhằm thu hút các thành phần kinh tế tham gia vào phát triển rừng.
Waggener (2000) (dẫn theo [62]), để phát triển trồng rừng sản xuất đạt hiệu quả kinh tế cao, ngoài sự đầu tư tập trung về kinh tế và kỹ thuật còn phải chú ý nghiên cứu những vấn đề có liên quan đến chính sách và thị n 6 trường. Nhận biết được 2 vấn đề then chốt, đóng vai trò quyết định đối với quá trình sản xuất này nên tại các nước phát triển như Mỹ, Nhật, Canada,. nghiên cứu về kinh tế lâm nghiệp ở cấp quốc gia hiện nay được tập trung vào thị trường và khả năng cạnh tranh của sản phẩm. Trên quan điểm “thị trường là chìa khoá của quá trình sản xuất”, các nhà kinh tế lâm nghiệp phân tích rằng chính thị trường sẽ trả lời câu hỏi sản xuất cái gì và sản xuất cho ai?