Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ CÁC PHÔNG LƯU TRỮ CÁ NHÂN TẠI TRUNG TÂM LƯU TRỮ QUỐC GIA III 1. Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III và các phông lưu trữ cá nhân Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III là một trong 4 trung tâm lưu trữ quốc gia trực thuộc Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước; có trụ sở tại số 34, Phan Kế Bính, Ba Đình, Hà Nội. Trung tâm được thành lập theo Quyết định số 118/QĐ - BTTCBCP ngày 10/6/1995 của Bộ trưởng, Trưởng ban Tổ chức - Cán bộ Chính phủ (nay là Bộ Nội vụ). Trung tâm có chức năng thu thập, bảo quản an toàn và tổ chức sử dụng có hiệu quả tài liệu lưu trữ có ý nghĩa toàn quốc từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay.
Có thể nói, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III là nơi lưu giữ những kỷ vật quá giá, bảo quản an toàn và trưng bày những tài liệu quý hiếm của quốc gia; từ tài liệu của những cá nhân nổi tiếng hoạt động trong các lĩnh vực chính trị, văn hóa, xã hội đến những công trình toàn quốc. Hiện tại, Trung tâm có 12 phòng chức năng và nghiệp vụ, hơn 100 viên chức. Trung tâm đang bảo quản hơn mười lăm ngàn mét giá tài liệu (tương đương hơn 15 cây số tài liệu) của gần 300 cơ quan nhà nước, tổ chức đoàn thể trung ương và các nhân vật tiêu biểu, bao gồm 4 khối tài liệu. Đó là tài liệu hành chính, tài liệu khoa học kỹ thuật, tài liệu nghe nhìn và tài liệu xuất xứ cá nhân.
Khối tài liệu hành chính hình thành trong quá trình hoạt động của gần 300 cơ quan nhà nước ở trung ương như: Quốc hội, Chính phủ, các Bộ và ủy ban hành chính các khu, liên khu đã giải thể. có thời gian từ năm 1945 đến nay. Khối tài liệu khoa học kỹ thuật bao gồm tài liệu thiết kế, thi công các công trình trọng điểm như Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh và Quảng trường Ba Đình, Nhà máy thủy điện Hòa Bình, đường dây 500KV Bắc Nam, cầu Thăng Long; hồ sơ bản đồ, địa giới hành chính các cấp. Khối tài liệu nghe nhìn 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com gồm khoảng trên 4000 cuộn băng ghi âm, hơn 150000 ảnh phi âm.
Đặc biệt trong khối tài liệu này có khối tài liệu về Paris với khoảng 4.000 giờ chưa công bố. Khối tài liệu xuất xứ cá nhân gồm các tài liệu tiểu sử, tài liệu riêng của cá nhân, bản thảo các công trình nghiên cứu, sáng tác của các nhà khoa học, văn nghệ sỹ, các nhà hoạt động chính trị, xã hội nổi tiếng. Khối tài liệu cá nhân, gia đình, dòng họ nổi tiếng này do Trung tâm sưu tầm hoặc do cá nhân tự nguyện hiến tặng. Bên cạnh đó, Trung tâm còn lưu giữ hơn 7 vạn hồ sơ cá nhân cùng một số kỷ vật của các cán bộ đi B trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ.
Theo Giáo trình Lý luận và thực tiễn công tác lưu trữ thì Phông lưu trữ cá nhân được định nghĩa là: “Toàn bộ tài liệu hình thành trong quá trình sống và hoạt động của một nhân vật riêng biệt được đưa vào bảo quản trong một kho lưu trữ nhất định” [75, tr. Hiện nay, Nhà nước vẫn chưa có một quy định cụ thể về việc thành lập phông lưu trữ cá nhân. Tuy nhiên, các cơ quan lưu trữ đang rất chú ý đến việc thu thập và chỉnh lý khối tài liệu hình thành trong quá trình sống và hoạt động của những nhà hoạt động chính trị, xã hội, khoa học kỹ thuật nổi tiếng. Sau khi Luật Lưu trữ được Quốc hội ban hành ngày 11/11/2011, việc quản lý tài liệu của cá nhân, gia đình dòng họ đã được quy định.
Theo Điều 5 của Luật Lưu trữ, những tài liệu sau đây của cá nhân, gia đình, dòng họ có giá trị phục vụ hoạt động thực tiễn, nghiên cứu khoa học, lịch sử đối với quốc gia, xã hội được đăng ký thuộc Phông lưu trữ quốc gia Việt Nam: Gia phả, tộc phả, bằng, sắc phong, tài liệu về tiểu sử; bản thảo viết tay, bản in có bút tích, công trình nghiên cứu khoa học, sáng tác, thư từ trao đổi; phim ảnh, băng, đĩa ghi âm, ghi hình, tài liệu điện tử; công trình, bài viết về cá nhân; ấn phẩm, tài liệu do cá nhân sưu tầm được. Đối với phông lưu trữ cơ quan, các yếu tố dùng để xác định giới hạn thời gian của Phông như: sự thay đổi về chế độ chính trị, sự thay đổi về chức 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com năng và nhiệm vụ của cơ quan, sự thay đổi địa giới hành chính. Khác với phông lưu trữ cơ quan, giới hạn của phông lưu trữ cá nhân lại không hề bị ảnh hưởng bởi các yếu tố trên. Tài liệu trong phông lưu trữ cá nhân có thể kéo dài từ thời kỳ lịch sử này sang thời kỳ lịch sử khác, tùy thuộc vào quá trình sống và hoạt động của người hình thành phông.
Vì thế, khi chúng ta xác định giới hạn thời gian phông lưu trữ cá nhân thì chủ yếu là xác định thời gian sống và hoạt động của cá nhân ấy. Trong thành phần của phông lưu trữ cá nhân, còn bao gồm cả những tài liệu nói về người hình thành phông sau khi người đó đã qua đời như: tài liệu tang lễ, các bài báo, bản nhạc, hồi ký. Tài liệu trong các phông lưu trữ cá nhân là những khối tài liệu đa dạng về thành phần và phong phú về nội dung. Những khối tài liệu này được chỉnh lý, sắp xếp theo những nguyên tắc nghiệp vụ cơ bản được áp dụng cho phông lưu trữ có xuất xứ cá nhân.
Cụ thể, tài liệu được phân loại và hệ thống hóa theo các nhóm chủ yếu phản ánh được các mặt đời sống riêng tư và các hoạt động chính trong cuộc đời của các cá nhân. Hiện nay, gần 70 phông lưu trữ cá nhân, chủ yếu là của các văn nghệ sĩ và một số nhà hoạt động trên các lĩnh vực khoa học, xã hội khác đang được bảo quản tại Trung tâm Lưu trữ Quốc gia III như: nhạc sỹ Văn Cao, nhà nghiên cứu văn học Hoài Thanh, đồng chí Tôn Quang Phiệt, GS.VS Nguyễn Khánh Toàn, GS nghiên cứu văn học Đặng Thai Mai, GS.VS lịch sử - xã hội học Phạm Huy Thông, nhà nghiên cứu lịch sử Trần Văn Giáp, nhà văn Tô Hoài, Sơn Tùng, nhà thơ Xuân Diệu, Lưu Trọng Lư, Tế Hanh. Khối tài liệu này đã góp phần làm phong phú thêm Phông Lưu trữ Quốc gia Việt Nam 1. Thân thế và sự nghiệp của GS nghiên cứu văn học Đặng Thai Mai Giáo sư nghiên cứu văn học Đặng Thai Mai sinh ngày 25 tháng 12 năm 1902 tại làng Lương Điền (nay là Thanh Xuân), huyện Thanh Chương, tỉnh 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nghệ An.
Ông sinh ra trong một gia đình có truyền thống cách mạng, có lòng yêu nước tha thiết. Thân phụ ông là cụ phó bảng Đặng Nguyên Cẩn, làm Đốc học, tham gia phong trào Duy Tân cùng với Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh nên đã bị thực dân Pháp bắt đày đi Côn Đảo. Sau khi phụ thân bị bắt, ông về quê nội sống từ năm sáu tuổi và được bà nội nuôi giáo dục lòng yêu nước, học chữ Hán và chữ quốc ngữ theo chương trình Đông Kinh nghĩa thục. Năm 1925, khi đang theo học tại trường Cao đẳng sư phạm Đông Dương tại Hà Nội, ông tham gia các phong trào yêu nước của sinh viên như đòi ân xá Phan Bội Châu, truy điệu Phan Chu Trinh, đồng thời gia nhập Đảng Tân Việt.
Năm 1928, ông trở thành giáo sư trường Quốc học Huế. Năm 1929, khi Đảng Tân Việt tan vỡ, ông bị kết án một năm tù treo. Năm 1930, ông lại bị bắt vì tham gia phong trào Cứu tế đỏ ở Huế và bị tù một năm. Năm 1932, Đặng Thai Mai ra Hà Nội sống và dạy học tại Trường tư thục Gia Long.
Đến năm 1935, Đặng Thai Mai cùng với các bạn là Phan Thanh, Hoàng Minh Giám, Võ Nguyên Giáp… lập ra Trường Tư thục Thăng Long. Năm 1936, ông cùng một số trí sỹ yêu nước thành lập ra hội truyền bá chữ Quốc ngữ. Trong thời kỳ Mặt trận Dân chủ Đông Dương (1936 - 1939), ông bắt đầu hoạt động văn hóa công khai, viết bài cho các báo Le travail (Lao động), En avant (Tiến lên); viết một số truyện ngắn bằng tiếng Pháp để tố cáo tội ác của đế quốc thực dân và nêu gương các chiến sĩ cách mạng. Năm 1939, Ông ứng cử Viện Dân biểu Trung Kỳ và đã trúng cử.
Năm 1944, ông cho ra đời tác phẩm Văn học khái luận. Đây là cuốn sách đầu tiên trình bày có hệ thống nhiều vấn đề lý luận văn học theo quan điểm tiến bộ, như điển hình và cá tính, nội dung và hình thức, truyền thống và hiện đại. Đặng Thai Mai cũng là người có công giới thiệu văn học hiện đại Trung Quốc qua các công trình Lỗ Tấn (1944), Tạp văn Trung Quốc (1944), các bản dịch kịch Lôi Vũ, Nhật Xuất của Tào Ngu. 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Sau cách mạng tháng Tám năm 1945, ông giảng dạy ở bậc đại học và nghiên cứu phê bình văn học.
Năm 1946, ông gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương; được bầu làm đại biểu quốc hội khóa I, Bộ trưởng Bộ giáo dục trong Chính phủ liên hiệp kháng chiến thành lập năm 1946. Trong các giai đoạn về sau, ông lần lượt giữ nhiều chức vụ khác nhau trong lĩnh vực văn hóa và giáo dục như Chủ tịch Ủy ban kháng chiến Hành chính tỉnh Thanh Hóa; Hội trưởng Hội văn hóa Việt Nam, Giám đốc Trường dự bị đại học và sư phạm cao cấp Liên khu IV; Giám đốc trường đại học sư phạm Hà Nội; Viện trưởng Viện văn học; Chủ tịch Hội liên hiệp Văn học nghệ thuật Việt Nam. Trong suốt thời gian này, Đặng Thai Mai cũng dành nhiều tâm huyết nghiên cứu phê bình văn học. Ông tiếp tục nghiên cứu thơ văn Lý - Trần, Văn thơ cách mạng đầu thế kỷ XX, Văn thơ Phan Bội Châu, Hồ Chí Minh và giới thiệu văn học nước ngoài vào Việt Nam.
Giáo sư Đặng Thai Mai mất ngày 25/9/1984 tại Hà Nội, thọ 82 tuổi. Đặng Thai Mai là một nhà văn hóa, một người thầy giáo tâm huyết, một nhà nghiên cứu văn học xuất sắc. Những thế hệ học trò đều có chung tình cảm kính yêu trân trọng đối với ông. Ông là một thầy giáo có kiến thức sâu rộng, dạy học với tấm lòng say mê và tình yêu với học trò.
Ông là một tấm gương sáng về người thầy giáo và đã được nhiều thế hệ tôn vinh là “bậc sư biểu quốc gia”.