phần mở đầu của Công ước về ĐDSH, bao gồm các giá trị: nội tại, sinh thái, di truyền, xã hội, kinh tế, giá trị khoa học, giáo dục, văn hóa, giải trí và thẩm mỹ. Khi đó thuật ngữ về giá trị ĐDSH bắt đầu được chú ý đến và có những hướng nghiên cứu nổi bật sau: (1) Giá trị ĐDSH theo hướng bảo tồn (giá trị bảo tồn): đây cũng là hướng nghiên cứu của các nhà sinh thái, động vật học, tiếp nối quan điểm của Dasmann. Hướng nghiên cứu này thường được thực hiện tại các VQG, khu bảo tồn thiên nhiên, khu di sản (KDS), công viên tự nhiên,…và được phát triển mạnh mẽ cho đến hiện nay. Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu của ETFRN NEWS (2010), Mukrimah Abdullaha và cộng sự (2015), Richard A.
Các công trình nghiên cứu kể trên đã sử dụng phương pháp từ định tính đến định lượng để nghiên cứu ĐDSH ở các khu rừng từ Brazil, Lebanon đến Malaysia, giá trị của ĐDSH với công tác bảo tồn nhằm hướng tới sự phát triển bền vững. (2) Giá trị ĐDSH theo hướng kinh tế (giá trị kinh tế): giá trị ĐDSH được quan tâm theo giá trị sử dụng. Nó có thể được chia thành giá trị sử dụng trực tiếp và giá trị sử dụng gián tiếp. Giá trị sử dụng trực tiếp có được từ việc sử e 11 dụng thực tế tài nguyên theo cách tiêu thụ hoặc không tiêu thụ (ví dụ: gỗ rừng, giải trí, đánh bắt cá); giá trị sử dụng gián tiếp đề cập đến những lợi ích thu được từ các chức năng của hệ sinh thái (ví dụ, bảo vệ đầu nguồn hoặc hấp thụ carbon của rừng).
Tiêu biểu cho hướng đi này là Desaigues và Ami (2001), Marianne Kettunen và Patrick ten Brink (2006), Peter và cộng sự (2007), Nick Hanley và Charles Perrings (2019). Theo hướng nghiên cứu này, giá trị nội tại của ĐDSH đã không được coi trọng và điều này đã gây ra sự bất đồng quan điểm với các nhà bảo tồn, sinh thái và động vật. (3) Giá trị ĐDSH theo hướng giao hòa giữa bảo tồn, kinh tế và xã hội. Có thể kể đến các công trình nghiên cứu của Peter J.
Edwards và Cyrus Abivardi (1998), Alho (2008). Đây là hướng nghiên cứu khó, cần có những nghiên cứu dưới góc nhìn đa ngành. Tuy nhiên, việc suy giảm của tài nguyên (bao gồm suy giảm ĐDSH) trong thực tế đã thay đổi cách nhìn của các nhà kinh tế và thu hút họ theo hướng nghiên cứu này hướng tới sự phát triển bền vững. Điều này đã làm xuất hiện khái niệm mới trong nghiên cứu giá trị ĐDSH: dịch vụ hệ sinh thái.
Có thể kể đến các công trình nghiên cứu của Partha Dasgupta và cộng sự (2011), John M. Việc khai thác các giá trị ĐDSH phục vụ công tác giảng dạy nằm trong hướng nghiên cứu thứ 3. “Giáo dục trải nghiệm” được ra đời từ những năm đầu thế kỉ XX. Ban đầu, chỉ là các hình thức học tập mang tính thực hành (chẳng hạn, ở Mỹ, năm 1902 hình thành các “câu lạc bộ trồng ngô” dành cho trẻ em, có mục đích dạy các em thực hành ứng dụng những kiến thức học được về khoa học, kĩ thuật vào sản xuất nông nghiệp).
Hơn 100 năm sau, hệ thống các câu lạc bộ này trở thành tổ chức phát triển thanh thiếu niên lớn nhất của Mĩ, tiên phong trong ứng dụng học tập qua lao động, trải nghiệm. Năm 1907, một viên tướng trong quân đội Anh đã tổ chức một cuộc cắm trại hướng đạo đầu tiên. Hoạt động này sau phát triển thành phong trào hướng đạo sinh rộng khắp toàn e 12 cầu. Hướng đạo là một loại hình giáo dục trải nghiệm, chú ý đặc biệt vào các hoạt động thực hành ngoài trời, bao gồm: cắm trại, kĩ năng sống trong rừng, kĩ năng sinh tồn, lửa trại, các trò chơi tập thể và các môn thể thao.
Cho đến năm 1977, với sự thành lập của “Hiệp hội Giáo dục trải nghiệm” (Association for Experiential Education - AEE), “Giáo dục trải nghiệm” đã chính thức được thừa nhận bằng văn bản và được tuyên bố rộng rãi. Tại Hội nghị thượng đỉnh Liên Hiệp quốc về phát triển bền vững (2002), chương trình “Dạy và học vì một tương lai bền vững” đã được UNESCO thông qua, trong đó có học phần quan trọng về “Giáo dục trải nghiệm” được giới thiệu, phổ biến và phát triển sâu rộng. Quan điểm học qua trải nghiệm đã trở thành tư tưởng giáo dục chính thống khi gắn liền với các nhà tâm lí học, giáo dục học như John Dewey, Kurt Lewin, Jean Piaget, Lev Vygotsky, David Kolb, William James, Carl Jung, Paulo Freire, CarlRogers… và hiện nay, tư tưởng “Học thông qua làm, học qua trải nghiệm” vẫn là một trong triết lí giáo dục điển hình của nước Mĩ. Tại Việt Nam và khu vực nghiên cứu Việt Nam nằm ở phần đông bán đảo Đông Dương, trong vành đai nhiệt đới bắc bán cầu tiếp cận với xích đạo, có cả khí hậu nhiệt đới gió mùa, khí hậu á nhiệt đới và ôn đới núi cao.
Sự đa dạng về địa hình, kiểu đất, cảnh quan và khí hậu đã tạo nên tính ĐDSH vô cùng phong phú và đặc sắc của Việt Nam, bao gồm đa dạng các hệ sinh thái, loài và nguồn gen. Việt Nam được xếp hạng 16 trên thế giới về đa dạng nguồn gen. Trong đó có rất nhiều nguồn gen được ứng dụng trong nông nghiệp, công nghiệp và y tế.000 nguồn gen cây trồng, vật nuôi được bảo tồn và lưu giữ phục vụ cho bảo tồn và phát triển kinh tế. Tính đến tháng 5 năm 2018, Việt Nam đã được công nhận 9 khu Dự trữ sinh quyển thế giới, 2 khu Di sản thiên nhiên thế giới, 8 khu đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế (khu Ramsar) và 6 Vườn Di sản ASEAN.
Mặc dù chưa được thường xuyên ghi nhận nhưng ĐDSH Việt Nam đã đóng e 13 góp giá trị quan trọng cho nền kinh tế quốc gia, đặc biệt trong các lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, dịch vụ, thủy sản và y tế. ĐDSH là cơ sở bảo đảm an ninh lương thực của đất nước; duy trì nguồn gen, tạo giống vật nuôi, cây trồng; cung cấp các vật liệu xây dựng và các nguồn nguyên liệu, dược liệu. Bên cạnh đó, các loài đặc hữu, các hệ sinh thái độc đáo của Việt Nam mặc dù có giá trị cho khoa học và chứa đựng lợi thế đặc biệt cho phát triển du lịch, nhưng lại chưa được đánh giá và khai thác đúng mức. Các hệ sinh thái còn có vai trò quan trọng trong điều hòa khí hậu thông qua lưu trữ các-bon và kiểm soát lượng mưa, lọc không khí và nước, phân hủy các chất thải trong môi trường, giảm nhẹ những tác hại của thiên tai, như lở đất hay bão lũ.
Giá trị lưu giữ và hấp thụ các-bon của rừng Việt Nam là rất đáng kể, đặc biệt là rừng tự nhiên. Hiện nay, giáo dục trải nghiệm đang phát triển và hình thành mạng lưới rộng lớn những cá nhân, tổ chức giáo dục, trường học trên toàn thế giới cũng như ở Việt Nam. UNESCO cũng nhìn nhận giáo dục trải nghiệm như là một triển vọng tương lai tươi sáng cho giáo dục toàn cầu trong các thập kỉ tới. Theo John Dewey, học tập qua trải nghiệm được thừa nhận là phương pháp cốt lõi của giáo dục trải nghiệm.
Học tập qua trải nghiệm xảy ra khi một người tham gia trải nghiệm nhìn lại và đánh giá, xác định cái gì là hữu ích hoặc quan trọng cần nhớ và sử dụng những điều này để thực hiện các hoạt động khác trong tương lai. Học tập qua trải nghiệm diễn ra theo mô hình 5 bước như sau: Hình 1. Các bước học tập trải nghiệm e 14 Trong sơ đồ trên, mỗi bước bao gồm các câu hỏi mở hay yêu cầu hoạt động được đưa ra để người học trả lời, khiến họ phải thực sự động não, từ đó tự rút ra bài học cho bản thân. Đây cũng là lúc để đánh giá lại quá trình trải nghiệm của người học.
Người học được trải qua quá trình khám phá kiến thức và tìm giải pháp từ đó giúp phát triển năng lực cá nhân. Việc dạy và học trở nên thú vị và mang lại hiệu quả cao hơn trong giáo dục. Bởi vì, khi HS được chủ động tham gia tích cực vào quá trình học họ sẽ có hứng thú và chú ý hơn đến những điều học được và ít gặp vấn đề về tuân thủ kỷ luật. Học sinh có thể học các kĩ năng sống mà được sử dụng lặp đi lặp lại qua các bài tập, hoạt động, từ đó tăng cường khả năng ứng dụng các kĩ năng đó vào thực tế.
Gia Lai được đánh giá là một trong những tỉnh của Tây Nguyên có sự ĐDSH phong phú với nhiều hệ động, thực vật và vi sinh vật quý hiếm thuộc diện Sách đỏ của Thế giới và Việt Nam. Hiện nay, tỉnh Gia Lai đang tận dụng, khai thác những lợi thế mà thiên nhiên ban tặng về ĐDSH để đẩy mạnh khai thác các giá trị về ĐDSH phục vụ cho phát triển kinh tế -xã hội, bảo vệ môi trường và phục vụ vào HĐTN trong dạy học nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục tích cực. Gia Lai có diện tích rừng tự nhiên trên 1.000 ha và là tỉnh có diện tích rừng tự nhiên lớn nhất Tây Nguyên. Trong đó phải kể đến 2 khu rừng đặc dụng lớn là VQG Kon Ka Kinh và khu BTTN Kon Chư Răng có sự đa dạng về sinh học với các hệ động, thực vật và vi sinh vật rất phong phú, có hàng trăm loài nằm trong Sách đỏ của Thế giới và Việt Nam.
Theo nghiên cứu của các nhà khoa khọc trong và ngoài nước thì ở Khu BTTN Kon Chư Răng - một trong hai khu rừng đặc dụng lớn của tỉnh hội tụ đủ các tiêu chí của một di sản thiên nhiên, địa chất và môi trường. Vì vậy các tổ chức chuyên ngành quốc tế và giới khoa học trong và ngoài nước đã và đang nghiên cứu, đưa Kon Chư Răng vào hệ thống khu vực sinh quyển thế giới. Và đây là nền tảng để Gia Lai khai thác các giá trị e 15 sinh thái, kinh tế, giáo dục và thẩm mỹ. Bên cạnh đó An Khê có di sản văn hóa, di sản khảo cổ học; nếu như tỉnh Quảng Nam họ có di sản Hội An, Thánh địa Mỹ Sơn là những di sản lớn thì Gia Lai một vùng có thể nói là trong tương lai nếu chúng ta bảo vệ thành công thì chúng ta cũng sẽ có những di sản rất là độc đáo, khác biệt.