CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ SỬ DỤNG ENZYME TRONG SẢN XUẤT BỘT GIẤY 1. Khái quát về enzyme và một số tính chất của chúng Enzyme là các chất xúc tác sinh học cấu tạo từ các phân tử protein, có khả năng hòa tan trong nước và dung dịch muối loãng, phân tử lượng lớn 20.[5] So với các chất xúc tác hoá học, enzyme có những tính chất ưu việt hơn hẳn: - Cường lực xúc tác lớn: trong điều kiện thích hợp các enzyme có khả năng tăng tốc độ của các phản ứng nhanh gấp 108 – 1011 lần so với khi không có xúc tác; - Tính đặc hiệu cao: mỗi enzyme chỉ chuyển hoá một hoặc một số cơ chất nhất định theo một kiểu phản ứng nhất định, do đó không tạo sản phẩm phụ; - Tác dụng trong điều kiện ôn hòa: đa số các enzyme hoạt động ở nhiệt độ 35oC– 40oC, áp suất thường, nồng độ không cần quá cao. Do vậy không đòi hỏi các thiết bị chịu nhiệt, chịu áp… - Không độc hại đối với sức khỏe con người, thân thiện với môi trường; - Dễ kiếm, rẻ tiền. Enzyme có thể thu được từ nhiều nguồn động vật, thực vật, vi sinh vật… Đặc biệt vi sinh vật là nguyên liệu tốt nhất vì có tốc độ sinh trưởng, phát triển nhanh trên các môi trường không đắt tiền.
Hơn nữa, ta có thể chủ động điều khiển quá trình sinh tổng hợp enzyme nhằm nâng cao hàm lượng enzyme trong tế bào một cách dễ dàng. Các loại enzyme sử dụng 14 trong công nghiệp rất đa dạng. Mỗi một ngành lại có sự đặc thù nhất định.Với những ưu điểm vượt trội các chế phẩm enzyme được sản xuất ngày càng nhiều và được sử dụng trong hầu hết các lĩnh vực kinh tế. Enzyme đã góp phần thay đổi và môi trường… đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội.
Hàng năm lượng enzyme nâng cao một số quá trình công nghệ trong chế biến thực phẩm, nông nghiệp, y tế, được sản xuất ra trên thế giới đạt khoảng trên 300.000 tấn với trị giá trên 500 triệu USD được phân bố trong các lĩnh vực khác nhau.[1] Cơ chế tác dụng của enzyme lên các chủ thể được phản ánh tương đối đầy đủ và sâu rộng trong nhiều tài liệu. Có thể tóm tắt cơ chế xúc tác các phản ứng biến đổi các chủ thể như sau:[2] Khi enzyme tác dụng với cơ chất, tạo thành một hợp chất dạng phức, trong đó enzym tham gia vào các phản ứng biến đổi phức này thành sản phẩm và giải phóng enzyme tự do: E+S ES P+E Một phản ứng như vậy diễn ra qua 3 giai đoạn: - Giai đoạn thứ nhất: Enzyme tác dụng với cơ chất bằng liên kết yếu tạo thành phức enzyme - cơ chất (ES) không bền. Phản ứng này diễn ra rất nhanh và đòi hỏi năng lượng hoạt hóa thấp. Liên kết chủ yếu được tạo thành giữa E và S trong phức ES là liên kết tương tác tĩnh điện, liên kết hidro, tương tác Vander waal.
- Giai đoạn thứ hai: Sảy ra sự biến đổi cơ chất dẫn tới sự kéo căng và phá vỡ các liên kết đồng hóa trị. - Giai đoạn thứ ba: Sản phẩm được tạo thành, còn enzyme được giải phóng ra dưới dạng tự do, nguyên dạng. Đây là một quá trình tương đối phức tạp, chịu ảnh hưởng của nhiều yếu 15 tố hóa - lý học. Các yếu tố ảnh hưởng đến các quá trình được xúc tác bởi enzyme [1]: 1.
Ảnh hưởng của nồng độ enzyme: Trong điều kiện thừa cơ chất, tốc độ phản ứng phụ thuộc tuyến tính vào [E]: v= k.[E] Trong đó: v- vận tốc phản ứng. Trường hợp khi nồng độ enzyme quá lớn thì tốc độ phản ứng có thể bị chậm lại.1: Sự phụ thuộc vận tốc phản ứng vào nồng độ enzyme 1. Ảnh hưởng của nồng độ cơ chất: Cả Henri (1903), Michaelis & Menten (1913) đều đã đưa ra phương trình biểu diễn mối liên hệ giữa vận tốc phản ứng và nồng độ cơ chất ([S]) giống nhau, tuy nhiên Henri nhấn mạnh tầm quan trọng của vận tốc (V), còn Michaelis & Menten lại nhấn mạnh tầm quan trọng của vận tốc ban đầu (V0) của phản ứng, theo đó: 16 V [S ] k vo = ; K s = −1 K s + [S ] k1 Hình 1.2 Biến thiên vận tốc phản ứng theo nồng độ cơ chất. Ảnh hưởng của chất kìm hãm (inhibitor): Các chất kìm hãm (I) hay chất ức chế là những chất làm giảm tốc độ phản ứng do enzyme xúc tác.
Về bản chất, chúng là các ion, các chất vô cơ, chất hữu cơ hoặc có thể là cơ chất hay sản phẩm của phản ứng (E). Về tác dụng, chất ức chế thường đặc hiệu hoặc không đặc hiệu. Chúng có khả năng kìm hãm thuận nghịch hoặc không thuận nghịch (inactivator). Khi có mặt các chất kìm hãm thuận nghịch, chúng kìm hãm enzyme bằng cách kết hơp với nó và làm ảnh hưởng đến sự kết hợp của E & S, tức là ảnh hưởng đến hoạt độ phân tử của nó.
17 Các chất kìm hãm có thể tác dụng theo nhiều kiểu: Cạnh tranh ( một phần hay toàn phần); Không cạnh tranh; 1. Ảnh hưởng của các ion kim loại: Các ion kim loại có thể kìm hãm hoặc kích hoạt quá trình xúc tác của enzyme. Tác dụng của ion kim loại phụ thuộc nhiều vào nồng độ của chúng. Giới hạn nồng độ là khác nhau đối với từng loại ion riêng biệt.
Tác dụng của ion kim loại có mối quan hệ qua lại giữa enzym và cơ chất. Tác dụng kích hoạt của ion kim loại có tính đặc hiệu, mỗi ion kim loại thường kích hoạt một loại enzyme xúc tác cho 1 kiểu phản ứng nhất định và cũng thay đổi tùy dạng ion. Ví dụ: Mg2+ hoạt hóa các enzyme mà cơ chất được phosphoryl hóa như pyrophosphatase (cơ chất là pyrophosphate), adenosintriphosphatase (cơ chất là ATP). Các cation kim loại có thể có tính đặc hiệu, tính đối kháng và tác dụng còn tuỳ thuộc vào nồng độ.
Tính chất hoạt hóa của các cation kim loại: - Mỗi cation kim loại hoạt hóa cho một kiểu phản ứng nhất định. - Cation kim loại có tính đặc hiệu tương đối hay tuyệt đối. - Cation kim loại có thể có sự đối kháng ion. - Phụ thuộc nồng độ cation kim loại.
- Cation kim loại làm thay đổi pH tối thích. - Phụ thuộc bản chất cation kim loại. Ảnh hưởng của pH đến độ bền của enzyme: Sự phân li khác nhau của một phân tử protein ở các giá trị pH khác nhau làm thay đổi tính chất của trung tâm liên kết cơ chất và hoạt động ở phân tử phân tử enzyme, dẩn đến giá trị xúc tác khác nhau phụ thuộc vào giá trị pH. 18 Như đã biết mỗi enzyme có một pH tối thích, mỗi enzyme có đường biểu diễn ảnh hưởng pH lên vận tốc của phản ứng do enzyme xúc tác có dạng như hình 1.
Độ bền của enzyme cũng phụ thuộc vào trạng thái ion hoá của phân tử, phần lớn các enzyme bền trong khoảng 5<pH<9.3 : Ảnh hưởng của pH đến độ bền của enzyme Bản chất hoá học (thành phần hóa học) của dung dịch đệm cũng ảnh hưởng tới độ bền, hoạt độ của enzyme. Ảnh hưởng của nhiệt độ: Vận tốc phản ứng do enzyme xúc tác chỉ tăng lên khi tăng nhiệt độ trong một giới hạn nhất định, chưa ảnh hưởng tới cấu trúc của enzyme. Đại lương đặc trưng cho ảnh hưởng của nhiệt độ đến vận tốc phản ứng là hằng số Q10: 19 k t +10 Q10 = kt. Hệ số này càng lớn thì phản ứng càng khó xảy ra.
Ở nhiệt độ thường và trong đại đa số các phản ứng của enzyme thì Q10 thường có giá trị là 2. Nhiệt độ hoạt động thích hợp topt của nhiều enzyme vào khoảng 40÷50oC. Trên 50oC hoạt độ thường bị giảm mạnh do làm hỏng cấu trúc phân tử enzyme. Topt của một số vi sinh vật và enzyme có nguốn gốc thưc vật thường cao hơn.
Topt của một enzyme chỉ có nghĩa khi ở điều kiện đó enzyme có hoạt độ cao nhất.4 : Ảnh hưởng của nhiệt độ đến hoạt độ của enzyme Đối với phản ứng do enzyme xúc tác cũng có thể áp dụng được quy luật này nhưng chỉ trong một phạm vi nhất định. Do bản chất enzyme là protein 20 nên khi tăng nhiệt độ lên trên 40-50 0C sẽ xảy ra quá trình phá hủy chất xúc tác. Ngoài khoảng nhiệt độ thích hợp, tốc độ phản ứng do enzyme xúc tác sẽ giảm. Nhờ có sự tồn tại nhiệt độ tối ưu đối với enzyme mà người ta phân biệt được phản ứng hóa sinh với các phản ứng vô cơ thông thường.
Mỗi enzyme có một nhiệt độ thích hợp khác nhau, phần lớn phụ thuộc vào nguồn cung cấp enzyme, thông thường ở trong khoảng từ 40-60 0C. Cũng có enzyme có nhiệt độ thích hợp rất cao như enzyme của những chủng ưa nhiệt. Ảnh hưởng của điều kiện bảo quản đến độ bền của enzyme Ở khoảng 70oC thì phần lớn enzyme bị mất hoàn toàn hoạt tính, gọi là nhiệt độ tới hạn. Trong khoảng tới hạn enzyme bị biến tính hiếm khi hồi phục lại được.
Ngoài ra còn nhiều yếu tố khác như áp suất cao, sự thay đổi mạnh pH của môi trường, phóng xạ,. Chính vì vậy điều kiện bảo quản enzyme khi sử dụng là yếu tố rất quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp tới mức tiêu hao enzyme cho phản ứng. Các yếu tố khác - Ánh sáng: Có ảnh hưởng khác nhau đến từng loại enzyme, các bước sóng khác nhau có ảnh hưởng khác nhau, thường ánh sáng trắng có tác động mạnh nhất, ánh sáng đỏ có tác động yếu nhất. Ánh sáng vùng tử ngoại cũng có thể gây nên những bất lợi, enzyme ở trạng thái dung dịch bền hơn khi được kết tinh ở dạng tinh thể, nồng độ enzyme trong dung dịch càng thấp.
càng kém bền, tác động của tia tử ngoại sẽ tăng lên khi nhiệt độ. Ví dụ: dưới tác động của tia tử ngoại ở nhiệt độ cao, enzyme amylase nhanh chóng mất hoạt tính. - Sự chiếu điện: Điện chiếu với cường độ càng cao thì tác động phá hủy càng mạnh. Tác động sẽ mạnh hơn đối với dịch enzyme có nồng độ thấp.
Có thể do tạo thành những gốc tự do, từ đó tấn công vào phản ứng enzyme. 21 - Sóng siêu âm: Tác động rất khác nhau đối với từng loại enzyme, có enzyme bị mất hoạt tính, có enzyme lại không chịu ảnh hưởng. Độ bền phụ thuộc vào trang thái của tồn tại enzyme, càng tinh khiết thì enzyme càng kém bền, dịch càng loãngng thì độ bền càng kém 1. Các phương pháp xác định hoạt độ của enzyme[3].
Phân tích liên tục: là phương pháp đo cơ chất bị biến đổi hay sản phẩm tạo thành một cách liên tục theo thời gian. Tuy nhiên yêu cầu đối với thiết bị đo là phải có bộ phận ổn định nhiệt.