Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ mang tên Đối chiếu động từ trải nghiệm trong tiếng Anh và tiếng Việt được tác giả Lại Thị Phương Thảo thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Lâm Quang Đông, bảo vệ tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam vào năm 2016, thuộc chuyên ngành Ngôn ngữ học so sánh, đối chiếu (mã số: 62.41).
Về tính cấp thiết, tác giả dẫn luận điểm của Verhoeven (2007) khẳng định trải nghiệm là hiện tượng cơ bản của đời sống con người, xuất hiện ở mọi ngôn ngữ thông qua hoạt động xử lý kích thích bên trong và bên ngoài của hệ thần kinh, bao gồm các lĩnh vực: cảm giác cơ thể, tình cảm, tri nhận, mong muốn và tri giác. Để biểu thị các sự tình trải nghiệm, động từ trải nghiệm giữ vị trí trung tâm nhằm kiến tạo cấu trúc phát ngôn. Tuy nhiên, khoảng trống nghiên cứu đặt ra là trong các công trình ngữ pháp tiếng Anh và Việt ngữ học trước đó, động từ trải nghiệm phần lớn chỉ được khảo sát phân tán như một tiểu lớp từ loại nhỏ lẻ hoặc được đề cập khái lược trong các công trình ngữ pháp miêu tả chung; chưa có công trình chuyên biệt nào nghiên cứu đối chiếu toàn diện hệ thống động từ trải nghiệm giữa hai ngôn ngữ trong sự hành chức của câu trên cả bình diện ngữ nghĩa và bình diện ngữ pháp theo đường hướng ngữ pháp chức năng.
Mục đích nghiên cứu của luận án được văn bản xác định cụ thể như sau:
- Xác định cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu với động từ trải nghiệm trong tiếng Anh và đối chiếu với tiếng Việt để tìm ra điểm tương đồng và dị biệt;
- Thiết lập được cấu trúc cú pháp của câu với động từ trải nghiệm trong tiếng Anh và đối chiếu với tiếng Việt để tìm ra điểm tương đồng và dị biệt.
Để thực hiện hai mục đích trên, luận án giải quyết bốn nhiệm vụ nghiên cứu:
- Xác lập cơ sở lí luận liên quan đến ngữ pháp chức năng ở bình diện ngữ nghĩa và ngữ pháp, quan niệm về nghĩa biểu hiện, phân loại sự tình với các tham số nghĩa và vai nghĩa, cấu trúc nghĩa của một sự tình;
- Xác lập cơ sở lí luận liên quan đến bình diện ngữ pháp như khái niệm thành phần câu, các kiểu cấu tạo ngữ pháp của câu; mối quan hệ giữa hai bình diện ngữ nghĩa và ngữ pháp trong câu;
- Xác định lĩnh vực trải nghiệm, cấu trúc nghĩa của sự tình trải nghiệm, các thành phần tham gia vào sự tình trải nghiệm và đặc điểm ngữ nghĩa của chúng; tiêu chí nhận diện và phân loại các động từ trải nghiệm trong tiếng Anh và tiếng Việt; cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu với mỗi tiểu lớp động từ trải nghiệm trong tiếng Anh, đối chiếu với tiếng Việt;
- Phân tích sự hiện thực hóa các thành tố nghĩa trong cấu trúc nghĩa biểu hiện của sự tình trải nghiệm trong câu, cấu trúc cú pháp của câu với mỗi tiểu lớp động từ trải nghiệm trong tiếng Anh, và đối chiếu với tiếng Việt.
Đối tượng nghiên cứu là động từ trải nghiệm trong tiếng Anh và tiếng Việt, được phân chia thành bốn tiểu lớp:
- Động từ tri giác (perception verbs): như see - nhìn thấy, hear - nghe thấy;
- Động từ tri nhận (cognition verbs): như know - biết, understand - hiểu;
- Động từ tình cảm (emotion verbs): như like - thích, fear - sợ hãi;
- Động từ mong muốn (volition verbs): như want - muốn, wish - mong ước, desire - khao khát, hope - hi vọng, decide - quyết định.
Về phạm vi nghiên cứu, luận án lấy ngữ liệu tiếng Anh làm gốc rồi đối chiếu sang tiếng Việt. Tác giả không đi sâu miêu tả nét nghĩa vi mô của từng từ vựng riêng lẻ mà khảo sát các tiểu lớp động từ trong cấu trúc nghĩa biểu hiện và cấu trúc cú pháp của câu. Tổng số lượng đơn vị từ vựng được khảo sát gồm 301 động từ tiếng Anh và khoảng 301 động từ tương đương trong tiếng Việt. Khảo sát cú pháp tập trung vào câu đơn và một số trường hợp câu phức diễn đạt sự tình trải nghiệm, loại trừ các thành phần phụ ngoại vi của câu như định ngữ, liên tố, biệt tố, khởi ngữ.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Trong lịch sử nghiên cứu Anh ngữ học, tác giả điểm lại hai khuynh hướng tiếp cận chính đối với động từ trải nghiệm:
Khuynh hướng tiếp cận động từ như một phạm trù từ loại gồm các công trình của Leech (1971), Leech & Svartvik (1975, 2002), Quirk et al. (1972, 1985), Biber et al. (1999), Dixon (1991, 2005), Evans & Wilkins (2000), Sweetser (1990), Viberg (1983), Alsagoff (1998), Nelson (2001). Ở hướng này, các tác giả tập trung phân loại động từ trải nghiệm thành: động từ tri giác tĩnh (verbs of inert perception), động từ tri nhận tĩnh (verbs of inert cognition), động từ chỉ cảm giác cơ thể (verbs of bodily sensation), và động từ trạng thái tinh thần hoặc cảm nghĩ (verbs referring to a state of mind or feeling). Đặc trưng ngữ pháp được chú ý nhiều nhất là tính tương thích với thời-thể: các động từ biểu thị trạng thái tĩnh thường không kết hợp với thể tiếp diễn, trừ khi chúng chuyển đổi nghĩa sang chỉ hoạt động có chủ ý. Biber et al. (1999) phân loại nhóm động từ tinh thần (mental verbs) thành các phân nhóm biểu thị quá trình nhận thức, tình cảm, tri giác và tiếp nhận lời nói.
Khuynh hướng tiếp cận chức năng xem động từ trải nghiệm là lõi vị ngữ của sự tình, chi phối các tham thể tham gia. Vendler (1967), Kenny (1963) và Dowty (1979) phân loại sự tình thành bốn kiểu: trạng thái, hoạt động, kết quả và hoàn thành dựa trên các tham số thể tính ([±telic], [±stages] theo Rothstein, 2004). Chafe (1970) xác định động từ trải nghiệm là các vị từ chỉ trạng thái hoặc quá trình không mang tính hành động, bắt buộc kết hợp với một danh từ mang vai Nghiệm thể (Experiencer). Dik (1978) xây dựng bảng phân loại sự tình dựa trên hai thông số cơ bản là [động] và [kiểm soát]. Halliday (1985, 1994), Downing & Locke (1992, 2006), Lock (1996) và Thompson (1996) xếp các vị từ này vào cú tinh thần (mental clauses), xác lập hai vai nghĩa cốt lõi là Cảm thể (Sensor) hoặc Nghiệm thể (Experiencer) và Hiện tượng (Phenomenon).
Trong Việt ngữ học, động từ trải nghiệm được khảo sát với nhiều tên gọi và tiêu chí phân loại khác nhau:
- Nguyễn Kim Thản (1977) phân loại động từ theo khả năng chi phối của hư từ, xác lập nhóm động từ tình cảm và nhóm động từ tri giác;
- Nhóm tác giả Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam (1983) và Nguyễn Chí Hòa (2005) căn cứ vào khả năng kết hợp với phụ tố chỉ sự vật và phụ tố mức độ để phân lập nhóm động từ cảm nghĩ và động từ ý chí;
- Cao Xuân Hạo (1991) khảo sát câu chỉ trạng thái tâm lý với các vị từ song trị (thích, yêu, thương, ghét, sợ...), xác định hai diễn tố bắt buộc là Nghiệm thể (experiencer) và đối tượng gây nên tình cảm;
- Hoàng Văn Vân (2002, 2012) vận dụng lý thuyết ngữ pháp chức năng hệ thống của Halliday để miêu tả hệ thống quá trình tinh thần trong tiếng Việt gồm bốn tiểu loại: tri giác, tri nhận, mong muốn và tình cảm, chỉ rõ các đặc trưng cú pháp - từ vựng như khả năng phóng chiếu ý tưởng hay hạn chế kết hợp cấu trúc cú;
- Hoàng Thị Hòa (2012) áp dụng lý thuyết điển dạng để phân loại động từ tri giác tiếng Việt thành tiểu nhóm trải nghiệm và tri nhận.
Khoảng trống nghiên cứu được luận án lựa chọn giải quyết là: các công trình trước đây tại Việt Nam mới chỉ dừng lại ở việc miêu tả từng khía cạnh từ vựng, ngữ nghĩa hoặc phân loại quá trình tinh thần như một phần của ngữ pháp cú nói chung; chưa có công trình nào đối chiếu trực tiếp giữa tiếng Anh và tiếng Việt nhằm thiết lập mô hình cấu trúc nghĩa biểu hiện của bốn tiểu lớp động từ trải nghiệm và phân tích quy luật ánh xạ của các vai nghĩa này lên cấu trúc cú pháp của câu.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án dựa trên nền tảng lý thuyết của Ngữ pháp chức năng (Functional Grammar), xem ngôn ngữ là công cụ tương tác xã hội phục vụ mục đích giao tiếp, phân biệt với cách tiếp cận hình thức ngữ pháp tạo sinh của Chomsky vốn xem cú pháp có tính tự trị và tách rời ngữ nghĩa. Trong ngữ pháp chức năng, bình diện ngữ nghĩa và ngữ pháp có sự tương tác chặt chẽ; trong đó dụng học và nghĩa học được ưu tiên trước kết học.
Khung phân tích ngữ nghĩa của luận án tập trung vào nghĩa biểu hiện (experiential meaning), tức thành phần nghĩa phản ánh cấu trúc kinh nghiệm của con người về các sự tình khách quan. Một sự tình được tạo thành từ lõi sự tình (State of Affairs core) và các vai nghĩa. Lõi sự tình do động từ trải nghiệm đảm nhiệm quy định các vai nghĩa diễn tố bắt buộc gồm:
- Nghiệm thể (Experiencer) hoặc Cảm thể (Sensor): thực thể có ý thức trải qua quá trình tâm lý, tri giác;
- Hiện tượng (Phenomenon): đối tượng, sự việc hoặc ý tưởng được tri giác, tri nhận, mong muốn hay hướng tới bởi tình cảm.
Bên cạnh đó là các vai phi diễn tố (chu cảnh) tùy nghi như thời gian, địa điểm, phương thức, lý do.
Khung phân tích ngữ pháp dựa trên các chức vụ cú pháp trong nòng cốt câu: Vị ngữ (Predicate - thành phần trung tâm của câu), Chủ ngữ (Subject), Tân ngữ (Object gồm tân ngữ trực tiếp và tân ngữ gián tiếp), và Bổ ngữ (Complement). Cơ chế liên kết giữa hai bình diện là quy luật ánh xạ (mapping) từ cấu trúc tham tố ngữ nghĩa lên các chức vụ cú pháp, có tham chiếu đến tôn ti chức năng ngữ nghĩa (Semantic Function Hierarchy) của Dik: Tác thể > Bị thể > Tiếp thể > Lợi thể > Công cụ > Vị trí > Thời gian, cùng đặc trưng hình loại học giữa tiếng Anh (ngôn ngữ hòa kết, biến đổi hình thái) và tiếng Việt (ngôn ngữ đơn lập, không biến hình).
Phương pháp nghiên cứu thực tế gồm hai phương pháp cơ bản:
- Phương pháp phân tích - miêu tả: Dùng để phân tích các đặc trưng ngữ nghĩa và cấu trúc cú pháp của các phát ngôn chứa động từ trải nghiệm trong từng ngôn ngữ;
- Phương pháp so sánh - đối chiếu: Lấy các cấu trúc tiếng Anh làm điểm tựa đối chiếu với các biểu đạt tương đương trong tiếng Việt để làm sáng tỏ các điểm tương đồng và dị biệt.
Các thủ pháp hỗ trợ được sử dụng gồm:
- Thủ pháp thống kê: Thu thập, phân loại ngữ liệu và lập danh sách các tiểu lớp động từ;
- Thủ pháp mô hình hóa: Thiết lập các khung cấu trúc ngữ nghĩa và cấu trúc cú pháp chuẩn hóa;
- Thủ pháp đối lập và loại suy: Phân định ranh giới giữa các phạm trù có hoặc không có thuộc tính đang xét;
- Thủ pháp nội quan: Đưa ra các phán đoán ngữ pháp dựa trên năng lực ngôn ngữ tự nhiên.
Nguồn tư liệu khảo sát của luận án được trích xuất từ các tác phẩm văn học Anh - Mỹ và các bản dịch tiếng Việt tương ứng, các công trình khảo cứu ngữ pháp chuẩn, cùng các nguồn văn bản đăng tải trên trang thông tin điện tử theo danh mục tài liệu trích dẫn của luận án.
Bảng tổng hợp số lượng động từ khảo sát theo từng tiểu lớp trong luận án:
| Tiểu lớp động từ trải nghiệm |
Số lượng động từ tiếng Anh |
Số lượng động từ tiếng Việt tương đương |
Ví dụ minh họa tiêu biểu |
| Động từ tri giác (Perception) |
64 |
~64 |
see - nhìn thấy, hear - nghe thấy, smell - ngửi thấy |
| Động từ tri nhận (Cognition) |
98 |
~98 |
know - biết, understand - hiểu, think - nghĩ |
| Động từ tình cảm (Emotion) |
98 |
~98 |
like - thích, love - yêu, fear - sợ hãi, hate - ghét |
| Động từ mong muốn (Volition) |
41 |
~41 |
want - muốn, wish - mong ước, hope - hi vọng |
| Tổng cộng |
301 |
~301 |
|
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương 1 trình bày chi tiết lịch sử nghiên cứu động từ trải nghiệm trong tiếng Anh và tiếng Việt. Trong tiếng Anh, tác giả hệ thống hóa các quan điểm ngữ pháp truyền thống và hiện đại khi tiếp cận động từ trải nghiệm dưới góc độ từ loại (Leech, Quirk, Biber, Dixon) và góc độ ngữ pháp chức năng (Chafe, Dik, Halliday, Downing & Locke). Tác giả làm rõ các tiêu chí nhận diện động từ trải nghiệm như đặc trưng thể tính không biến chuyển ở thể tiếp diễn và sự hiện diện bắt buộc của tham thể mang ý thức. Trong tiếng Việt, chương này phân tích các cách phân loại của Nguyễn Kim Thản, nhóm tác giả Ngữ pháp tiếng Việt (1983), Cao Xuân Hạo và Hoàng Văn Vân. Tác giả chỉ ra rằng các công trình trước đây tại Việt Nam chủ yếu nghiên cứu động từ trải nghiệm lồng ghép trong các hệ thống phân loại ngữ pháp rộng hơn, khẳng định sự cần thiết phải có một công trình đối chiếu độc lập trên hai bình diện nghĩa biểu hiện và cú pháp.
Chương 2: Cơ sở lí luận
Chương 2 thiết lập khung lý luận vận hành của đề tài dựa trên ngữ pháp chức năng. Tác giả phân tích tính ưu việt của cách tiếp cận chức năng so với ngữ pháp hình thức, luận giải nghĩa biểu hiện như sự phản ánh các mẫu thức kinh nghiệm của con người về thế giới khách quan. Chương này phân tích hệ thống tham số ngữ nghĩa dùng để nhận diện và phân loại sự tình gồm: [±động], [±hữu kết], [±nhất thời], [±kiểm soát], [±trải nghiệm], [±giai đoạn]. Tác giả xác lập cấu trúc sự tình gồm lõi vị từ và hệ thống các vai nghĩa diễn tố bắt buộc (Nghiệm thể, Hiện tượng) cùng các vai phi diễn tố (chu cảnh). Về bình diện ngữ pháp, chương luận giải các thành phần câu gồm Vị ngữ, Chủ ngữ, Tân ngữ, Bổ ngữ và mối quan hệ ánh xạ giữa vai nghĩa với chức vụ cú pháp, phân tích thang bậc tôn ti ngữ nghĩa và ảnh hưởng của đặc trưng loại hình ngôn ngữ (hòa kết so với đơn lập) tới sự biểu hiện cú pháp.
Chương 3: Động từ trải nghiệm tiếng Anh và tiếng Việt trong cấu trúc nghĩa biểu hiện của câu
Chương 3 đi sâu nghiên cứu bản chất ngữ nghĩa của sự tình trải nghiệm và phân loại chi tiết bốn tiểu lớp động từ:
- Xác lập đặc điểm ngữ nghĩa của vai Nghiệm thể: là thực thể sống có ý thức tiếp nhận kích thích tâm lý hoặc cảm quan;
- Xác lập đặc điểm của vai Hiện tượng: có thể là một thực thể vật chất, một người, một sự việc, hoặc một mệnh đề trừu tượng (ý tưởng, thực tế);
- Mô hình hóa cấu trúc nghĩa biểu hiện cho từng tiểu lớp:
- Cấu trúc nghĩa biểu hiện câu tri giác: lõi động từ tri giác kết hợp Nghiệm thể và Hiện tượng tri giác trực tiếp hoặc gián tiếp;
- Cấu trúc nghĩa biểu hiện câu tri nhận: lõi động từ tri nhận kết hợp Nghiệm thể và Hiện tượng là các nội dung ý thức, phán đoán, tri thức;
- Cấu trúc nghĩa biểu hiện câu tình cảm: lõi động từ tình cảm kết hợp Nghiệm thể và Hiện tượng gây cảm xúc hoặc tiếp nhận thái độ;
- Cấu trúc nghĩa biểu hiện câu mong muốn: lõi động từ mong muốn kết hợp Nghiệm thể và Hiện tượng là mục tiêu, ước muốn hoặc hành động dự kiến;
- Phân tích đối chiếu giữa tiếng Anh và tiếng Việt: chỉ ra sự tương đồng về mặt khái niệm hóa các vai nghĩa cơ bản, đồng thời làm rõ sự khác biệt trong phương thức biểu đạt ngữ nghĩa (tiếng Anh sử dụng nhiều động từ phân hóa tĩnh/động chuyên biệt, tiếng Việt thường kết hợp các phụ tố hoặc thực từ biểu thị kết quả như thấy, được, ra).
Chương 4: Động từ trải nghiệm tiếng Anh và tiếng Việt trong cấu trúc cú pháp của câu
Chương 4 phân tích sự hiện thực hóa của cấu trúc nghĩa biểu hiện lên cấu trúc cú pháp của câu ở cả hai ngôn ngữ:
- Cơ chế ánh xạ vai nghĩa sang thành phần câu:
- Nghiệm thể được ánh xạ làm Chủ ngữ trong các cấu trúc thông thường (SVO, SVC), hoặc bị đẩy xuống làm Tân ngữ/Bổ ngữ trong các cấu trúc chuyển tác động tâm lý (tác động thể hiện tượng làm chủ ngữ);
- Hiện tượng được ánh xạ làm Tân ngữ trực tiếp, Tân ngữ gián tiếp (cụm giới từ), hoặc mệnh đề phụ giáng cấp (mệnh đề that, danh động từ, to-V trong tiếng Anh; kết cấu cụm vị từ, mệnh đề danh ngữ trong tiếng Việt);
- Khảo sát khả năng hiện diện đầy đủ và tỉnh lược của các thành phần nghĩa trong cấu trúc cú pháp: các trường hợp khuyết Nghiệm thể trong phát ngôn hoặc lược bỏ Hiện tượng khi ngữ cảnh đã rõ;
- Thiết lập các mô hình cú pháp cơ bản cho từng tiểu lớp động từ trải nghiệm trong tiếng Anh và đối chiếu với tiếng Việt:
- Cấu trúc cú pháp với động từ tri giác: khảo sát dạng thức câu có tân ngữ và bổ ngữ chỉ hành vi (V + O + V/V-ing trong tiếng Anh đối chiếu với kết cấu Động từ + Bổ ngữ + Động từ trong tiếng Việt);
- Cấu trúc cú pháp với động từ tri nhận: sự hiện diện của các mệnh đề làm bổ ngữ;
- Cấu trúc cú pháp với động từ tình cảm: phân hóa cấu trúc hai chiều (Nghiệm thể làm chủ ngữ như like/thích đối lập với Hiện tượng làm chủ ngữ gây tác động như please/làm hài lòng);
- Cấu trúc cú pháp với động từ mong muốn: kết cấu hướng tới hành động tương lai;
- Xác định nét tương đồng và dị biệt cú pháp: tiếng Anh có sự chi phối nghiêm ngặt về hình thái học của động từ (chia thì, thể, số) và cấu trúc đảo ngữ/bị động hình thức; tiếng Việt biểu hiện quan hệ ngữ pháp chủ yếu qua trật tự từ, phó từ chỉ thời-thể (đã, đang, sẽ) và cấu trúc đề - thuyết.
Kết quả và những đóng góp mới
Về mặt lý luận, luận án đóng góp các kết quả khoa học cụ thể:
- Là công trình chuyên biệt tại Việt Nam nghiên cứu đối chiếu hệ thống động từ trải nghiệm giữa tiếng Anh và tiếng Việt theo đường hướng tiếp cận của ngữ pháp chức năng;
- Xây dựng khung lý luận hệ thống về lĩnh vực trải nghiệm, phân loại sự tình trải nghiệm và miêu tả chi tiết đặc trưng ngữ nghĩa của các vai nghĩa cốt lõi (Nghiệm thể, Hiện tượng);
- Thiết lập mô hình cấu trúc nghĩa biểu hiện của bốn tiểu lớp động từ trải nghiệm (tri giác, tri nhận, tình cảm, mong muốn) và xác định cơ chế ánh xạ giữa cấu trúc ngữ nghĩa và cấu trúc cú pháp của câu trong hai ngôn ngữ.
Về mặt thực tiễn, luận án cung cấp:
- Hệ thống dữ liệu ngữ liệu gồm 301 cặp động từ trải nghiệm tiếng Anh và tiếng Việt được phân loại tường minh;
- Cung cấp cơ sở tư liệu ứng dụng cho công tác giảng dạy tiếng Anh cho người Việt và giảng dạy tiếng Việt như một ngoại ngữ, giúp người học phân biệt sự khác nhau trong cách thức tổ chức cú pháp diễn đạt trạng thái tâm lý - cảm giác;
- Cung cấp tài liệu tham khảo cho công tác dịch thuật hai chiều Anh - Việt đối với các cấu trúc vị từ tâm lý phức tạp và hỗ trợ công tác biên soạn từ điển song ngữ.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Theo giới hạn phạm vi nghiên cứu được tác giả nêu trong văn bản, luận án có các điểm hạn chế sau:
- Không đi sâu phân tích nét nghĩa chi tiết của từng từ vựng riêng lẻ do số lượng động từ trải nghiệm quá lớn, mà chỉ tập trung khảo sát theo từng tiểu lớp;
- Phạm vi cấu trúc câu mới chỉ tập trung phân tích câu đơn và một số trường hợp câu phức biểu thị sự tình trải nghiệm, chưa bao quát toàn bộ các cấu trúc câu ghép phức tạp trong diễn ngôn;
- Luận án tập trung vào hai bình diện ngữ nghĩa và ngữ pháp trong nòng cốt câu, lược bỏ việc phân tích sâu các thành phần phụ ngoại vi (trạng ngữ, định ngữ, khởi ngữ, liên tố, biệt tố) cũng như bình diện ngữ dụng học.
Các hướng nghiên cứu tiếp được gợi mở từ luận án bao gồm: mở rộng nghiên cứu động từ trải nghiệm trên bình diện ngữ dụng học và phân tích diễn ngôn; khảo sát sâu hơn các kiểu câu ghép chứa nhiều sự tình trải nghiệm đan xen; nghiên cứu hiện tượng chuyển nghĩa và ẩn dụ tri nhận của các động từ tri giác sang tri nhận.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo cho các đối tượng nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên và giảng viên chuyên ngành Ngôn ngữ học so sánh - đối chiếu, Ngôn ngữ Anh và Việt ngữ học.
Các nội dung có giá trị tham khảo chuyên môn cao gồm:
- Khung lý luận về mối quan hệ giữa nghĩa biểu hiện và cấu trúc cú pháp trong ngữ pháp chức năng;
- Bảng danh mục đối chiếu 301 động từ trải nghiệm thuộc bốn tiểu lớp trong tiếng Anh và tiếng Việt;
- Hệ thống phân tích quy tắc ánh xạ từ vai nghĩa (Nghiệm thể, Hiện tượng) sang các thành phần câu (Chủ ngữ, Tân ngữ, Bổ ngữ).
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án phân chia động từ trải nghiệm thành những tiểu lớp nào và số lượng khảo sát là bao nhiêu?
Luận án phân chia động từ trải nghiệm thành bốn tiểu lớp: động từ tri giác, động từ tri nhận, động từ tình cảm và động từ mong muốn. Tổng số lượng đơn vị được khảo sát gồm 301 động từ tiếng Anh và khoảng 301 động từ tương đương trong tiếng Việt (gồm 64 động từ tri giác, 98 động từ tri nhận, 98 động từ tình cảm và 41 động từ mong muốn).
2. Vai nghĩa trung tâm trong cấu trúc nghĩa biểu hiện của sự tình trải nghiệm là gì?
Theo luận án, cấu trúc nghĩa biểu hiện của sự tình trải nghiệm gồm hai vai nghĩa chính do lõi vị từ quy định: vai Nghiệm thể (Experiencer, hoặc Cảm thể - Sensor) là thực thể có ý thức trải qua cảm giác/tâm lý, và vai Hiện tượng (Phenomenon) là đối tượng, sự việc hoặc ý tưởng được tri giác, nhận thức, yêu ghét hoặc mong muốn.
3. Khác biệt cơ bản về cú pháp giữa tiếng Anh và tiếng Việt khi biểu đạt sự tình trải nghiệm là gì?
Tiếng Anh là ngôn ngữ hòa kết, đòi hỏi động từ làm vị ngữ phải biến đổi hình thái phù hợp với thì, thể và số của chủ ngữ, đồng thời có sự phân định hình thức rõ ràng giữa động từ tĩnh và động; trong khi tiếng Việt là ngôn ngữ đơn lập, không biến đổi hình thái từ, sử dụng trật tự từ và các phó từ thời-thể (đã, đang, sẽ) hoặc các thực từ bổ trợ kết quả để biểu đạt ý nghĩa ngữ pháp.
4. Luận án tiếp cận nghiên cứu động từ trải nghiệm theo lý thuyết nào?
Luận án tiếp cận đối tượng nghiên cứu theo lý thuyết Ngữ pháp chức năng (Functional Grammar), tập trung vào hai bình diện: bình diện ngữ nghĩa (nghĩa biểu hiện của câu và các tham số sự tình) và bình diện ngữ pháp (thành phần câu và cấu trúc cú pháp), khảo sát cơ chế ánh xạ giữa cấu trúc nghĩa và cấu trúc hình thức.
Kết luận
Luận án của tác giả Lại Thị Phương Thảo là công trình ngôn ngữ học đối chiếu nghiên cứu hệ thống động từ trải nghiệm trong tiếng Anh và tiếng Việt trên hai bình diện nghĩa biểu hiện và cú pháp theo khung lý thuyết ngữ pháp chức năng. Thông qua việc khảo sát 301 cặp động từ thuộc bốn tiểu lớp tri giác, tri nhận, tình cảm và mong muốn, công trình đã làm sáng tỏ cấu trúc tham thể ngữ nghĩa và cơ chế ánh xạ của chúng lên các chức vụ cú pháp của câu đơn ở hai ngôn ngữ. Các kết quả nghiên cứu góp phần bổ sung cứ liệu cho ngôn ngữ học đối chiếu Anh - Việt, đồng thời cung cấp nguồn tham khảo cho hoạt động giảng dạy ngoại ngữ, dịch thuật và biên soạn từ điển song ngữ.