Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu động từ trải nghiệm trong tiếng Anh Động từ được tìm thấy ở hầu hết các ngôn ngữ trên thế giới (Allerton [32, tr.429]) và trong lịch sử nghiên cứu nhiều nhà ngữ pháp học đã quan tâm đến những thuộc tính ngữ nghĩa và cấu trúc của chúng. Theo Aarts & Meyer [31, tr.1], trong khoảng năm thứ 100 trước Công nguyên, nhà ngữ pháp học Dionysius Thrax đã nhấn mạnh tầm quan trọng của động từ (the verb) như là “một phạm trù từ loại không thay đổi về cách mà có sự thay đổi về thì, giống, và số, chỉ một hoạt động hay một quá trình được thực hiện hay đã trải qua.” Các tác giả còn nhận xét thêm: Định nghĩa này đã cho thấy rằng những nhà ngữ pháp thời kỳ đầu đã quan tâm đến cả mặt hình thức lẫn mặt ngữ nghĩa của các lớp từ loại. Những nhà ngữ pháp sau này như Appolonius Dyscolus vào thế kỷ thứ 2 sau Công nguyên quan tâm nhiều hơn đến thuộc tính phân bố của lớp từ loại [31, tr.
Như vậy, có thể nói rằng việc nghiên cứu về động từ đã được quan tâm từ rất sớm. Động từ trải nghiệm đã ít nhiều được đề cập trong nhiều công trình nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Anh, hoặc các công trình nghiên cứu sâu về động từ trong tiếng Anh và được phân tích về một hay nhiều phương diện nhất định. Theo khảo sát của chúng tôi, khi mô tả và phân tích về động từ nói chung hay động từ trải nghiệm nói riêng, các tác giả nghiên cứu động từ theo hướng là một phạm trù từ loại và nghiên cứu động từ theo hướng là phạm trù chức năng. Động từ trải nghiệm được nghiên cứu theo hướng là một phạm trù từ loại Tiêu biểu cho hướng nghiên cứu động từ trải nghiệm là một phạm trù từ loại là Alsagoff [33], Biber et al [35], Dixon [43], Evans & Wilkins [49], Leech [64], Leech & Svartvik [65, 66], Nelson [75], Quirk et al [79, 80], Sweetser [84], Viberg [93], v.
Theo hướng nghiên cứu này, động từ được nghiên cứu trong sự phân biệt với danh từ, tính từ, trạng từ, v. Động từ trải nghiệm trong các công trình nghiên cứu được thể hiện ở một số tiểu lớp với những đặc điểm cơ bản như sau. (a) Động từ tri giác tĩnh, động từ tri nhận tĩnh, động từ chỉ trạng thái cơ thể Tiêu biểu là quan niệm của Leech [64, tr.23-26] và Quirk et al [79, 80]. Động từ tri giác tĩnh (verbs of inert perception)1 là những động từ như feel (cảm thấy), hear (nghe thấy), see (nhìn thấy), smell (ngửi thấy), taste (nếm thấy), sound (nghe có vẻ), look (trông có vẻ); động từ tri nhận tĩnh (verbs of inert cognition) là những 1 Leech & Svartvik [65] bàn luận đến động từ tri giác nói chung.
Nhóm động từ còn lại ông sử dụng thuật ngữ khác. 6 động từ think (nghĩ), feel (thấy), believe (tin), forget (quên), hope (hi vọng), know (biết), suppose (cho rằng), understand (hiểu); và động từ chỉ cảm giác cơ thể (verbs of bodily sensation) là những động từ ache (đau), feel (cảm nhận), hurt (đau), itch (ngứa), tingle (u lên). Hầu hết các nhóm động từ này có nghĩa tĩnh và chỉ sử dụng với thể đơn. Tác giả cũng bàn luận đến một số trường hợp ngoại lệ: cùng một động từ tri giác nhưng nó có ít nhất hai nghĩa (tĩnh và động).
Động từ tri giác tĩnh Động từ tri giác động (1) I (can) smell the perfume. I’m smelling the perfume. Tôi (có thể) ngửi thấy mùi nước hoa. Tôi đang ngửi nước hoa.
(2) I (can) see a bus in the distance. I’m looking at a bus in the distance. Tôi (có thể) nhìn thấy một chiếc xe Tôi đang nhìn chiếc xe buýt ở đằng xa. buýt ở đằng xa.
(3) I (can) hear what he is saying. I’m listening to what he is saying. Tôi (có thể) nghe thấy anh ấy nói gì. Tôi đang nghe anh ấy nói.
[28:26]2 Tuy nhiên, Quirk et al [79, tr.47] cụ thể hơn Leech khi chỉ rõ nhóm nào có tính [+động] (dynamic) và nhóm nàocó tính [+tĩnh] (stative). Nhóm động từ cảm giác cơ thể (verbs of bodily sensations): ache, feel, hurt, itch là nhóm động; Nhóm tĩnh (stative) gồm động từ tri giác và tri nhận tĩnh (verbs of inert perception and cognition) như: abhor (ghê tởm, ghét cay ghét đắng), adore (say mê), astonish (làm ngạc nhiên), believe (tin tưởng), desire (ước muốn), detest (ghét), dislike (không thích), doubt (nghi ngờ), feel (cảm thấy), forgive (tha thứ), guess (đoán), hate (ghét), hear (nghe thấy), imagine (tưởng tượng), impress (làm/gây ấn tượng), intend (dự định), know (biết), like (thích), love (yêu), mean (ý định), mind (ngại), perceive (hiểu được), please (làm hài lòng), prefer (thích), presuppose (giả định), realize (nhận ra), recall (gợi lại, nhắc lại), recognize (nhận thức), regard (coi là), remember (nhớ), satisfy (làm thỏa mãn), see (nhìn thấy), smell (ngửi), suppose (giả sử), taste (nếm có vị), think (nghĩ), understand (hiểu), want (muốn), wish (ước), v. Ví dụ: (4) (a) I think you are right. [nhóm B – động từ tri nhận tĩnh] Tôi nghĩ anh đúng.
(b) I am thinking of you all the time. [nhóm A – động từ tri nhận động] Lúc nào tôi cũng nghĩ đến anh. [34:47] Năm 1985, trong công trình nghiên cứu A Comprehensive Grammar of the English Language, Quirk cùng với cộng sự của mình [80] đã chia nhóm động từ chỉ trạng 2 Trên thực tế mỗi một động từ có thể có nhiều nghĩa khác nhau. Ở đây chúng tôi chỉ dịch nghĩa cơ bản nhất của từng động từ tiếng Anh sang tiếng Việt để tiện trình bày.
Những câu ví dụ được dịch sang tiếng Việt với động từ có ý nghĩa tương đương. 7 thái tĩnh thành: (i) động từ chỉ trạng thái trí tuệ (intellectual states)3, như know (biết), believe (tin), think (nghĩ), wonder (tự hỏi, phân vân), suppose (giả sử, cho rằng), imagine (tưởng tượng), realize (nhận ra), understand (hiểu); (ii) động từ chỉ trạng thái tình cảm hay thái độ (states of emotion or attitude) như intend (dự định), wish (ước), want (muốn), like (thích), dislike (ghét), disagree (không đồng ý), pity (tiếc); (iii) động từ chỉ trạng thái tri giác (states of perception) như see (nhìn thấy), hear (nghe thấy), feel (cảm thấy), smell (ngửi thấy), taste (nếm thấy); và (iv) động từ chỉ trạng thái cảm giác cơ thể (states of bodily sensation) như hurt (đau), ache (đau), tickle (cảm thấy ngưa ngứa/buồn buồn), itch (ngứa), feel cold (cảm thấy lạnh). Đến năm 2002, hai tác giả [66] đã bổ sung thêm một số nhóm động từ trải nghiệm như động từ tri giác (verbs of perceiving) như see (nhìn thấy), hear (nghe thấy), feel (cảm thấy), smell (ngửi thấy), taste (nếm thấy); những động từ như believe (tin), adore (say mê), desire (ước muốn), detest (ghét), dislike (không thích), doubt (nghi ngờ), forget (quên), hope (hi vọng), know (biết), like (thích), love (yêu), mean (có ý định), prefer (thích), remember (nhớ), suppose (giả sử, cho rằng), understand (hiểu), want (muốn), seem/appear (dường như), v. được các tác giả xếp chung vào nhóm động từ đề cập đến trạng thái tinh thần hay cảm nghĩ (verbs referring to a state of mind or feeling).
Những nhóm động từ với nghĩa trên không thể sử dụng với thể tiếp diễn, nhưng vẫn có những trường hợp sử dụng với thể tiếp diễn nếu chúng là động từ động. Cô ấy đang lục tìm chiếc khăn tay trong túi. (6) She felt tired after a long journey (Động từ trạng thái) Cô ấy cảm thấy mệt sau chuyến đi dài. (7) We are tasting the soup.
(Động từ động) Chúng tôi đang nếm món xúp. (8) It really tastes delicious. (Động từ trạng thái) Nó thực sự có vị ngon. [27] Biber et al [35, tr.103-140], dựa trên phạm trù ngữ nghĩa của động từ có ý nghĩa từ vựng, đã phân chia loại động từ này thành bảy nhóm và một trong số những nhóm 3 Ở công trình A University Grammar of English (1973), nhóm động từ này gọi là động từ tri nhận tĩnh (verbs of inert cognition) 8 này là động từ tinh thần (mental verbs).
Nhóm tác giả chia nhỏ nhóm động từ tinh thần thành: động từ chỉ trạng thái hoặc quá trình tinh thần như think (nghĩ), know (biết); động từ chỉ tình cảm, thái độ hay ước muốn như love (yêu), want (muốn); động từ tri giác như see (nhìn thấy), taste (nếm thấy); và động từ chỉ hoạt động tiếp nhận lời nói như read (đọc), hear (nghe thấy). Tác giả chỉ ra đặc điểm của động từ tinh thần - đó là động từ tinh thần có nghĩa động và động từ tinh thần biểu thị trạng thái tĩnh.108] gộp động từ tinh thần (mental verbs/thinking verbs) với nhóm động từ tình cảm (emotion verbs) như need (cần), know (biết), imagine (tưởng tượng), believe (tin), suspect (nghi ngờ), think (nghĩ). Trong khi đó, các động từ chỉ hoạt động của thính giác (“hearing” verbs) được liên hệ với nghĩa tiếp thụ bên trong (internal receptivity) hoặc sự tuân thủ (obedience). Ngoài ra, động từ chỉ hoạt động của vị giác (“taste” verbs) thường được gắn kết với những gì thuộc về bên trong bản thân nó, và được dùng để biểu đạt những sự thích thú hay chán ghét có tính cá nhân của mỗi người (personal likes or dislikes).
Tuy nhiên, các từ chỉ hoạt động của thị giác (seeing) hay của mắt (eye) thì có thể mở rộng ra phạm vi tương tác xã hội, chẳng hạn như: sự ngưỡng mộ và sự hấp dẫn về giới, sự thù địch và quan hệ tương tác xã hội có tính tiêu cực, sự giám sát và sự giám thị, sự gặp mặt và thăm viếng. Evan & Wilkins thừa nhận mối quan hệ ngữ nghĩa từ vựng (lexical semantic association) giữa sự tri giác nhận được từ cơ quan thính giác và sự tri nhận thuộc trí óc và rằng tất cả các ngôn ngữ trên thế giới đều có mối quan hệ qua lại giữa sự tri giác bằng thính giác và tri nhận thuộc trí óc, và chúng là nguồn gốc của việc xuất hiện các từ đa nghĩa, từ đồng âm hoặc sự chuyển nghĩa. Dựa trên tiêu chí nhận diện về nghĩa khái quát, chúng tôi nhận thấy rằng nhóm động từ trải nghiệm (thuộc về động từ chính) tác giả đề cập là nhóm annoying (bực mình) như please (làm hài lòng), satisfy (làm thỏa mãn), amuse (làm vui vẻ), anger (làm tức giận); nhóm attention (chú ý) như see (nhìn), hear (nghe thấy), discover (khám phá), watch (xem); nhóm thinking (suy nghĩ) như think (nghĩ), imagine (tưởng tượng), assume (giả định), know (biết), learn (học); nhóm liking (thích) như like (thích), love (yêu), hate (ghét), envy (ghen tị).