LỜI MỞ ĐẦU Trong các thập ky gần đây, cùng với sự phát triển của nền công nghiệp va sự gia tăng dân số một cách nhanh chóng, nhu cầu về năng lượng ngày càng tăng cao. Trong đó, các nguồn năng lượng hóa thạch bao gồm than đá, dầu mỏ và khí đốt van là nguén cung cấp chính cho các hoạt động sản xuất công nghiệp, giao thông vận tải và đời sống hăng ngày. Việc sử dụng nguồn năng lượng nay ngày càng gia tăng dẫn đến làm tăng lượng phát thải CO2 vào khí quyền, một trong những nguyên nhân chủ yếu gây nên hiệu ứng nhà kính. Phản ứng reforming CH¿ là một trong những phương pháp được sử dụng pho biến hiện nay dé sản xuất khí tong hợp.
Trong đó, phan ứng reforming CHx bang CO: hiện dang được thu hút nhiều sự quan tâm từ các nhà khoa học, nhờ việc sử dụng nguồn khí thiên nhiên (với thành phan chủ yếu là CH¿) giàu CO> làm nguyên liệu chuyển đổi thành nguén khí tổng hợp có giá trị kinh tế cao. Công nghệ dry reforming methane (DRM) là công nghệ không quá phức tap, có chi phí vận hành thấp và giải pháp thân thiện với môi trường. Tuy nhiên, quá trình này vẫn còn tôn tại một số hạn chế nhất định như phản ứng diễn ra ở nhiệt độ cao và sự hình thành cốc trên bé mặt xúc tác dẫn đến hoạt tính xúc tác giảm nhanh trong quá trình phản ứng. Các hệ xúc tác kim loại quý (Rh, Pd, Ru, Pt, .) được đánh giá là có kha năng kháng cốc, hoạt tính và độ ôn định cao.
Tuy nhiên, các hệ xúc tác này có giá thành cao cũng như trữ lượng thấp nên việc ứng dụng của các hệ xúc tác kim loại quý trong quy mô công nghiệp còn hạn chế. Trong khi đó, các kim loại chuyền tiếp như Ni, Fe, Co,. được quan tâm nghiên cứu và ứng dụng nhiều hơn do có giá thành thấp và có trữ lượng dồi dào. Các nghiên cứu gần đây cho thấy xúc tác reforming CH4 bang CO2 dựa trên kim loại Ni đang được quan tam do xúc tác dựa trên Ni có hoạt tính và độ chọn lọc cao, giá thành thấp hơn so với các xúc tác kim loại quý.
Tuy nhiên, việc sử dụng xúc tác dựa trên Ni trong phản ứng dry reforming methane thường kèm theo quá trình tạo cốc và sự thiêu kết các tinh thé Ni, dẫn đến làm mất hoạt tinh xúc tác. Dé giải quyết van dé nay, việc nghiên cứu tối ưu điều kiện phản ứng, phương pháp điều chế xúc tác, các chất mang, phụ gia, biến tính Ni với các kim loại khác cần được quan tâm. Trong đó, xúc tác NiO trên chất mang CeO; và biến tính MgO trên xúc tác NiO/œ-AlaOa được quan tâm nghiên cứu, cho thấy khả năng nổi trội trong việc phân tán tốt pha kim loại hoạt động | Luận văn thạc sĩ HVTH: Nguyễn Xuân Linh trên bề mặt chất mang và giảm khả năng hình thành cặn carbon trên bề mặt xúc tác. Theo các nghiên cứu trước đây tại Viện Công nghệ Hóa học, xúc tác Ni/a-Al2O3 được biến tính MgO đã cho thấy có hoạt tính cao và khả năng kháng cốc hiệu quả trong phản ứng dry reforming CHa trong vùng nhiệt độ phản ứng thấp (600 — 750 °C) nhờ vào sự hình thành các spinel và sự tương tác mạnh giữa chất mang và pha hoạt động.
Nghiên cứu đã xác định xúc tác có thành phan tối ưu 10O%NiO + 10%MgO/œ-AlzOa. Trong khi đó, xúc tác NiO/CeO2 đã được nghiên cứu cho thấy, với hàm lượng NiO 10 %kl mang trên chất mang CeOa dạng nanorods thể hiện hoạt tính cao và khả năng kháng cốc hiệu quả trong phan ứng dry reforming CH4 ở vùng nhiệt độ phản ứng thấp do chất mang CeO? có khả năng lưu trữ và cung cấp một lượng lớn oxy mang, giúp oxy hóa cốc giảm sự hình thành cặn carbon trên bề mặt xúc tác, đồng thời hình thành tương tác mạnh với pha kim loại hoạt động ngăn chặn quá trình thiêu kết tâm kim loại hoạt động ở nhiệt độ cao. Qua đó thay được tiềm năng ứng dụng trong quy mô công nghiệp. Tuy nhiên, nghiên cứu động học của phản ứng dry reforming methane trên các hệ xúc tác dựa trên Ni vẫn chưa được tiến hành day đủ dé xây dựng mô hình động học.
Kế thừa các nghiên cứu trước đây, dé tai này tiến hành nghiên cứu sâu hơn về ảnh hưởng của nhiệt độ, tác chất (CO2 và CHa) va sản phẩm (CO và H›) đến tốc độ phản ứng reforming CH4 bang CO2 trên hai hệ xúc tác NiO/CeO2 và NiO-MgO/a-Al203 dé từ đó có thể đưa ra mô hình động học cho phan ứng dry reforming CHa. Dé tài tập trung vào nghiên cứu các mục tiêu sau: (1) Đề xuất được phương trình động hoc phan ứng dry reforming CHa trên hai hệ xúc tác NiO/CeO2 và NiO-MgO/a-Al203. (2) Làm sáng tỏ ảnh hưởng của chất mang đến quy luật động học phản ứng dry reforming CH¿ trên hai hệ xúc tác NiO/CeO› và NIO-MgO/ơ-AlaOa. Đề đạt được các mục tiêu trên, các nội dung nghiên cứu của đề tài được đưa ra cụ thể như sau: (1) Điều chế hai hệ xúc tác NiO/CeO2 và NiO-MgO/œ-AlaOa băng phương pháp tâm.
Luận văn thạc sĩ HVTH: Nguyễn Xuân Linh (2) Nghiên cứu các đặc trưng lý hóa của các xúc tac: BET, XRD, SEM, TEM, Ha — TPR, CO2—TPD. (3) Khao sát anh hưởng cua nhiệt độ phan ứng, áp suất riêng phân của các tác chất (CH¿ và CO2) va áp suất riêng phan của các sản phẩm (CO và Ha) đến tốc độ phản ứng reforming CH bằng CO; trên hai hệ xúc tác đã điều chế. (4) Sử dụng công cụ Solver trong phần mém Excel dé tính toán và dé xuất phương trình động học phản ứng bằng phương pháp bình phương cực tiểu. Luận văn này được thực hiện tại Phòng Dầu khí - Xúc tác, Viện Công nghệ Hóa học, Viện Hàn lâm Khoa học va Công nghệ Việt Nam, 01 Mac Dinh Chi, Q1, Tp.HCM và được tài trợ bởi Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ Quốc gia (NAFOSTED) trong dé tài mã số 104.
Luận văn thạc sĩ HVTH: Nguyễn Xuân Linh CHƯƠNG 2: TONG QUAN 2. TONG QUAN VE CHa, CO; VÀ KHÍ TONG HOP Việc tiêu thụ các nhiên liệu ngày cang gia tang như hiện nay, đặc biệt là các nhiên liệu hóa thạch như dầu mỏ, than đá và khí thiên nhiên đã thải vào khí quyền hàng triệu tan khí thải, điển hình như COa, CHa, NOx, SOx,. Các khí thai nhà kính này là nguyên nhân chính gây ra hiện tượng nóng lên toàn cau va biến đổi khí hậu. Trong đó, COa và CH¿ là hai khí nhà kính được phát thải nhiều nhất, lượng phát thải hai loại khí này tăng nhanh theo từng năm.
Chính vì lẽ đó, nhiệt độ vỏ trái đất không ngừng gia tăng và đã dẫn đến khí hậu ngày càng diễn biến phức tạp gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của nhân loại. Vì vậy, việc tim ra các phương pháp dé giảm thiêu đến mức thấp nhất các khí nhà kính này là yêu câu cần thiết [1]. Carbon dioxide (CO2) Carbondioxide (CO2) là khí gây ra hiệu ứng nhà kính chủ yếu do nó chiếm tỷ lệ lớn hơn so với các khí gây hiệu ứng nhà kính khác trong khí quyền. Nồng độ CO2 đã tăng lên đáng kế (khoảng 280 ppm) so với thời kỳ tiền công nghiệp.
Trong năm 2016, nông độ CO: trung bình (403 ppm) cao hơn khoảng 40 % so với giữa những năm 1800, với mức tăng trung bình 2 ppm/năm trong 10 năm qua [2]. Công nghiệp năng lượng là một trong những nguồn phát thải khí nhà kính lớn hiện nay. Khoảng 95 % các khí phát thai từ ngành công nghiệp năng lượng là CO2, còn lại là CH4 va NOx. Phát thải trong công nghiệp năng lượng chia thành 3 nhóm chính: phát thải do đốt cháy nhiên liệu hóa thạch (sản xuất và năng lượng, hoạt động giao thông vận tải,.); phát thải tức thời (lượng khí, hơi thải ra từ các thiết bị nén rò ri, không mong muốn hoặc không thường xuyên từ quá trình khai thác, chế biến, vận chuyên nhiên liệu.) và hoạt động thu hồi và lưu trữ carbon.
Trong đó, phát thải từ đốt nhiên liệu hóa thạch đóng góp đến 70 % tổng lượng phát thải, điển hình từ các nhà máy điện và nhà máy lọc dầu [3]. Nguồn cung cấp năng lượng của thế giới ngày nay van còn phụ thuộc nhiều vào việc đốt nhiên liệu hóa thạch. Việc gia tăng sử dụng nguồn nhiên liệu này đang làm cho nông độ CO; trong khí quyền tăng lên đáng kể. Các nguồn nhiên liệu hóa thạch được sử Luận văn thạc sĩ HVTH: Nguyễn Xuân Linh dụng nhiều hiện nay là dầu mỏ va than đá.
Việc gia tăng sử dụng những nguồn nhiên liệu này có thể dẫn đến một cuộc khủng hoảng năng lượng kéo dải và gây ra tác động xấu đến môi trường [4]. Do đó, cùng với việc cắt giảm nhiên liệu hóa thạch thì nhu cầu năng lượng sạch, năng lượng thay thế đã trở thành mục tiêu chính của các nghiên cứu trên thê giới nhăm phát triên nguôn năng lượng bên vững. Một trong những giải pháp tiềm năng là chuyển CO> thành các sản phẩm có giá trị như: khí tổng hợp, các loại hóa chất, polyme và methanol, không chỉ tăng thêm giá trị kinh tế mà còn giảm thiểu phát thải vào môi trường [5]. Methane (CHa) Bên cạnh COz, methane (CHa) cũng được xem là một khí nhà kính nguy hiểm đóng góp vào sự nóng lên toàn cầu.
CH4 được phat thải trong các quá trình chế biến dầu mỏ, đốt than đá, các nhà máy xử lý nước thải hay từ các hoạt động sản xuất nông nghiệp [6]. Trong khí quyền, CH, có nông độ thấp hơn CO2 200 lần nhưng có mức độ gây nguy hai hiệu ứng nhà kính cho môi trường gap 25 lần khí CO2 do CH: có khả năng tích lũy bức xạ nhiệt cao hơn CO? và chiếm tới 14 % tổng lượng khí phát thải gây hiệu ứng nhà kính [7. Năm 2010, lượng khí thải CHa trên toàn cầu ước tính tương đương khoảng 6,875 triệu tan COa [8]. Do vay, ngoài COa thi CH, cũng là một khí thải cần giảm thiểu nhằm ngăn chặn những tác hại xâu đên môi trường.
Nguyên nhân chính làm tăng phát thải CH¿ là sự gia tăng sản xuất nông nghiệp với mục đích đáp ứng nhu cầu dân số ngày càng gia tăng nhanh chóng tại các quốc gia trên thé giới. Phát thải khí CH¿ được phát sinh từ chăn nuôi ước tính khoảng 35-40 % [8]. Ngoài ra, phát thai CHa từ các bãi rác, bãi chôn lấp và nhà máy xử lý nước thải cũng góp phan làm gia tăng nồng độ CHa trong khí quyền. Hoạt động khai thác than cũng góp phần không nhỏ vao việc gây phát thải CHa.