Đặt vấn đề: Theo tài liệu thống kê của tổ chức sông ngoài quốc tế vào tháng 10 năm 2007, trên toàn thế giới có hơn 800.000 đập chắn nước, trong đó số lượng đập lớn vào khoảng hơn 40.000 đập, và có khoảng hơn 5000 đập tuổi thọ hơn 50 năm. Tỉ lệ đập xây dựng sau năm 1950 bị sự cố ước chừng 0,5% trên toàn thế giới (riêng Trung Quốc là 4%), số người bị thiệt mạng đo vỡ đập trong thế kỷ XX vào khoảng 13. Một số sự cố vỡ đập trong quá khứ như đập Köprü – Thổ Nhĩ Kỳ vào tháng 2/2012 làm 10 công nhân thiệt mạng, đập Ivanovo – Bulgaria vào tháng 01/2012 làm 8 người thiệt mạng, đập Zeyzoun – Syria vào năm 2002 làm 22 người thiệt mạng, đập Bangiao & Shimantan – Trung Quốc vào năm 1975 làm thiệt mạng hơn 90,000 người, đập St. Francis – Hoa Kỳ vào năm 1928 làm hơn 500 người bị thiệt mạng… Ở Việt Nam cũng có một số sự cố vỡ đập như đập Quán Hài – Nghệ An xảy ra năm 1978 làm chết 27 người, đập Buôn Bông – Đăk Lăk xảy ra năm 1990 làm thiệt mạng 22 người và các trường hợp khác nữa [10].
Sự cố đập do nhiều nguyên nhân như động đất, thi công không đảm bảo chất lượng, quá trình vận hành hệ thống công trình đầu mối hợp lý, nước tràn qua đỉnh đập đất, nền móng đập bê tông không đảm bảo sự ổn định,… Theo thống kê thì số lượng đập xảy ra sự cố không nhiều nhưng hậu quả để lại thì rất lớn về con người, kinh tế, môi trường, an ninh xã hội, do đó công tác dự báo các tình huống xấu nhất xảy ra cần được nghiên cứu đánh giá và đề xuất những kế hoạch giảm thiểu tối đa thiệt hại. Có nhiều hướng nghiên cứu tính toán cho mô hình vỡ đập như mô phỏng theo tỉ lệ nhỏ trong phòng thí nghiệm, phương pháp thống kê, phương pháp giải tích,… Với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học máy tính trong những năm cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX thì việc ứng dụng công nghệ thông tin để giải quyết các bài toán theo phương pháp số là một hướng nghiên cứu hiệu quả, nhanh chóng và có chi phí thấp. Trang 8 Theo thống kê sơ bộ tại Việt Nam có khoảng 750 đập trung bình và lớn và hàng ngàn đập nhỏ phục vụ nhu cầu tưới tiêu trong nông nghiệp, nguồn nước cho công nghiệp, sinh hoạt… và phát triển thủy điện. Việt Nam cũng là một trong những nước có hệ thống đập lớn nhất thế giới cùng với Trung Quốc và Hoa Kỳ [8].
Trong đó các đập đa phần là đập đất được xây dựng trong thời gian chiến tranh với công nghệ thi công lạc hậu [10] và đã được sử dụng trong thời gian dài mà công tác bảo trì, tái đầu tư không đầy đủ. Nhìn chung, rủi ro vỡ đập đang ở mức cao, an toàn đập là vấn đề cấp thiết cần phải tính toán để dự đoán các sự cố có thể xảy ra và xây dựng kế hoạch phòng tránh thảm họa đảm bảo an toàn cho người và tài sản. Sự cố của hồ chứa nước sẽ có thiệt hại to lớn không chỉ trong phạm vi công trình mà còn cả một vùng hạ lưu, sự cố vỡ đập sẽ ảnh hưởng đến sinh mạng người dân, nền kinh tế địa phương, an ninh xã hội trong khu vực rộng lớn. Các tình huống sự cố do vỡ đập phải được tính toán để đưa ra các kịch bản cụ thể cho chính quyền và người dân trong khu vực, từ đó có kế hoạch bảo vệ sinh mạng, tài sản,.
của nhân dân trong phạm vi bị ảnh hưởng. Hồ Chí Minh, trung tâm kinh tế-khoa học-kỹ thuật của Việt Nam với diện tích khoảng 2000 km2 và dân số khoảng 8 triệu người (đông dân nhất Việt Nam). Thành phố được xây dựng ven sông Sài Gòn mà ở phía thượng lưu sông là hồ chứa nước Dầu Tiếng với dung tích 1,58 tỉ m3 nước, là hồ cung cấp nước tưới lớn nhất Việt Nam được hoàn thành và đưa vào khai thác từ đầu năm 1985. Sự cố vỡ đập là điều không ai mong muốn, nhưng về mặt khoa học và quản lý thì luôn phải dự báo để biết mức độ và phạm vi ngập lụt do vỡ đập gây ra nhằm có biện pháp chuẩn bị đối phó giảm thiểu tối đa thiệt hại về nhân mạng và tài sản, … Trang 9 Hình 1.1: Khu vực nghiên cứu ( hình từ Google Maps) Trang 10 1.2 Một số nghiên cứu trong và ngoài nước: Có khá nhiều nghiên cứu về hiện tượng vỡ đập trên thế giới.
Dưới đây là một số nghiên cứu tiêu biểu. a) Jeff Jorgeson: Mô hình hai chiều của lũ do vỡ đập Tác giả: Jeff Jorgeson, Xinya Ying và Woodman Wardlaw Bài báo sử dụng mô hình hai chiều CCHE2D-DAMBREAK để mô phỏng lũ do vỡ đập bằng cách giải hệ phương trình dòng chảy nước nông cũng như vài ứng dụng khác của phần mềm này. Mô hình được ứng dụng để mô phỏng lũ do vỡ đập tại Iraq và đập Falcom trên sông Rio Grande dọc theo biên giới Hoa Kỳ và Mexico. b) Công ty Solid Enegy New Zealand: đánh giá sự cố vỡ đập Darcy Tác giả: Tập thể Công ty TNHH Solid Enegy New Zealand Tính toán đánh giả mức độ ảnh hưởng của vỡ đập Darcy lên khu vực hầm mỏ Stockton, phía Tây New Zealand.
Nhóm tác giả sử dụng phần mềm MIKE21 để tính toán mô phỏng quá trình lũ. Wahl: Mô hình vỡ đập – Tổng quan về phương pháp phân tích Tác giả: Tony L.Wahl Bài báo trình bày tổng quan các phương pháp xác định các thông số liên quan đến sự cố vỡ đập như: phương pháp phân tích để xác định đỉnh lũ, phương pháp hồi qui cho các thông số lỗ vỡ, mô hình xói mòn để mô tả quá trình phát sinh lỗ vỡ… d) Sharghi: Mô hình dòng chảy vỡ đập hai chiều e) Nguyễn Văn Hạnh; Nghiên cứu lũ và lũ do vỡ đập trên hệ thống sông Hồng – Thái Bình ( 2003 – 2004) Tác giả: Nguyễn Văn Hạnh Trang 11 Nghiên cứu mô hình lũ một chiều và giả hai chiều trên hệ thống sông Hồng – sông Thái Bình. Sử dụng họ phần mềm MIKE để mô phỏng, công cụ MIKE 11 và MIKE 11 GIS dùng để tính toán, phân chia lưu vực bằng công cụ MIKE BASIN từ bản đồ số. Dùng mô hình này để nghiên cứu ảnh hưởng lũ gây ra do vỡ đập các hồ Sơn La, Hòa Bình lên khu vực hạ lưu, đặc biệt là Thủ đô Hà Nội.
f) Đỗ Đức Dũng: Nghiên cứu, đánh giá mô hình vỡ đập Hàm Thuận – Đa Mi đến hạ lưu sông La Ngà, đề xuất biện pháp phòng tránh, giảm thiểu thiệt hại Tác giả: Đỗ Đức Dũng Tác giả sử dụng họ phần mềm MIKE để tính toán mô phỏng bài toán truyền lũ do vỡ đập, kết hợp với phần mềm GIS để xây dựng bản đồ ngập lụt trên hạ lưu sông La Ngà do vỡ đập Hàm Thuận – Đa Mi. Từ đó đề xuất biện pháp phòng tránh, giảm thiểu thiệt hại. g) Nguyễn Chiến – Hồ Sỹ Tâm: phân tích nguyên nhân vỡ đập KE 2/20 REC Hà Tĩnh ( 2009) Trong bài báo trình bày quá trình thu thập tài liệu hiện trường, cũng như hồ sơ lưu trữ về công trình để tìm nguyên nhân gây ra sự cố. Tính toán phân tích thấm, ổn định, ứng suất biến dạng của thân đập, công trình lấy nước, nền móng cùng với tài liệu thu thập được đưa ra kết luận về nguyên nhân và diễn biến vỡ đập.
h) Ban chỉ đạo phòng chống lụt bão Tp. HCM (01/08/2013) Theo kịch bản do Ban chỉ đạo phòng chống lụt bão Tp. HCM đưa ra, nếu có mưa lớn kéo dài, hồ Dầu Tiếng sẽ phải xả lũ với lưu lượng 3.600 m3/giây, thì chỉ cần 6 giờ 34 phút, lũ sẽ về đến cầu Bến Súc, huyện Củ Chi với chiều sâu ngập là 5,71 m. Thời gian lũ về trung tâm TP HCM tại cửa kênh Thị Nghè (khoảng 133 km) là 27 giờ 20 phút với chiều sâu ngập 2,07 m.
Nghiêm trọng nhất là trong trường hợp vỡ đập chính hồ Dầu Tiếng thì chỉ trong vòng 2 giờ Trang 12 8 phút lũ sẽ về đến huyện Củ Chi gây ngập sâu gần 12 m và sau 23 giờ 18 phút lũ sẽ đổ về đến trung tâm TP HCM gây ngập sâu 2,38 m.3 Mục đích nghiên cứu Luận văn tập trung giải bài toán dòng chảy lũ gây ra do vỡ đập Dầu Tiếng và ảnh hưởng của nó đến Tp. HCM bằng các mô hình toán số HEC-RAS và TELEMAC 2D.4 Nội dung nghiên cứu: - Nghiên cứu mô hình toán số TELEMAC 2D (hệ phương trình Saint – Venant 2DH và các phương pháp giải) và mô hình toán số HEC-RAS. - Thu thập và phân tích dữ liệu cho khu vực nghiên cứu bao gồm địa hình lòng sông và ven sông, chế độ thủy văn, các thông số của hồ chứa, chế độ thủy triều ở hạ lưu. - Thiết lập bộ dữ liệu đầu vào cho mô hình bao gồm lưới các phần tử trong khu vực, địa hình, điều kiện ban đầu, điều kiện biên thượng lưu (Q) và biên hạ lưu (Z).
- Kiểm nghiệm và đánh giá mô hình trong điều kiện không có sự cố với nhiều hệ số nhám khác nhau. - Mô hình hóa quá trình ngập lụt do vỡ đập với nhiều hệ số nhám khác nhau với điều kiện ban đầu về mực nước là kết quả từ mô hình kiểm nghiệm.5 Phương pháp nghiên cứu: Dùng các mô hình toán số cùng với việc thu thập phân tích các số liệu về địa hình, thủy văn… Trang 13 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA MÔ HÌNH TOÁN SỐ TELEMAC 2D 2.1 Tổng quan về các mô hình toán số tính dòng chảy 2.1 Hệ phương trình Reynolds [4]] Trong hệ tọa độ Descartes, hệ phương trình (PT) Navier-Stokes đối với chất lưu không nén được bao gồm PT liên tục (2.1) và PT Navier-Stokes (2.2) sau đây: ∂ui =0 (2.1) ∂x i ∂ui ∂ui 1 ∂p ∂ 2 ui + uj =− + gi + ν (2.2) ∂t ∂x j ρ ∂xi ∂x j ∂x j Trong đó i = 1, 2, 3; ui: lưu tốc u1 = u, u2 = v, u3 = w xi: tọa độ x1 = x, x2 = y, x3 = z t: thời gian ρ: KLR của chất lưu, ν: hệ số nhớt động học, p: áp suất, g: gia tốc trọng trường Khi dòng chảy là chảy rối với số Reynolds lớn, có sự hiện diện của vô số xoáy rối đủ kích cỡ thì việc tính toán dòng chảy (nghĩa là giải hệ PT nói trên) sẽ bị hạn chế vì không thể mô phỏng tất cả các xoáy rối.