MỞ ĐẦU 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực đề tài Sự phát triển trong lĩnh vực khoa học polymer trong những năm gần đã có những bước tiến mạnh mẽ, đã tạo ra những vật liệu mới có tiềm năng thương mại rất lớn. Nhu cầu về các loại vật liệu ngày càng được đòi hỏi cao như về độ bền, giá thành, hiệu suất và có tính công nghệ cao điều này đã dẫn đến việc sản xuất các sản phẩm mới ngày càng được mở rộng. Vật liệu Polyme ngày càng giữ vai trò quan trọng trong sản xuất và có vị trí đứng trong các loại vật liệu hiện nay, giờ đây polyme đã có thể thay thế nhiều vật liệu kỹ thuật thông thường như thép, đá và gỗ trong các lĩnh vực ứng dụng khác nhau, ngoài ra giá thành của vật liệu Polyme cũng thấp hơn so với các loại vật liệu khác.
Qua đó, vật liệu polyme tự nhiên và tổng hợp đều quan trọng đối với con người và nhu cầu sử dụng ngày càng tăng. Nghiên cứu vật liệu polyme ngày nay đã có nhiều cải tiến hơn để có thể thay thế các vật liệu hiện có, và các mô hình nghiên cứu đã được thực thiện trong các đề tài nghiên cứu trong nước nói chung và thế giới nói riêng, điều đó đã thể hiện tầm quan trọng của vật liệu polyme trong lĩnh vực này. Lý do chọn đề tài Do nhu cầu sử dụng nhựa nói riêng hay vật liệu tổng hợp nói chung trong nhiều lĩnh vực sản xuất cũng như đời sống. Vật liệu tổng hợp là vật liệu được tạo thành từ hai hoặc nhiều chất với các tính chất vật lý hoặc hóa học khác nhau, khi kết hợp lại, tạo ra vật liệu với các đặc điểm khác nhau từ các thành phần riêng lẻ, có những đặc điểm vượt trội hơn so với vật liệu đơn lẻ.
PBT và TPU là hai loại nhựa được sử dụng phổ biến, rộng rãi trong đời sống hiện nay, ứng dụng vào một số lĩnh vực như: sản xuất đồ gia dụng, linh kiện máy móc, linh kiện điện tử,. PBT là một trong những polyme nhiệt dẻo kỹ thuật bán tinh thể quan trọng nhất được sử dụng rộng rãi trong các ngành công nghiệp. Mặc dù có những ưu điểm vượt trội như vậy nhưng PBT lại có nhược điểm là giòn, độ dai va đập kém nên khi có các vết nứt vi mô sẽ dẫn đến gãy giòn. Vì vậy cần phải khắc phục độ dai vập kém của PBT để có thể ứng dụng được nhiều trong các lĩnh vực đời sống.
Nhựa TPU là loại nhựa nhiệt dẻo, có độ đàn hồi tốt, khả năng chống mài mòn vượt trội, có độ bền cao và có thể sử dụng trong thời gian lâu dài. 1 Luan van Hiểu được đặc tính của PBT và TPU, việc kết hợp chúng lại tạo ra một loại vật liệu mới với mong muốn có được những đặc tính có lợi của cả hai và tận dụng chúng vào các lĩnh vực trong sản xuất và đời sống. Mục tiêu đề tài Cải thiện độ dai va đập của PBT, xem xét tính hiệu quả và nhược điểm của việc trộn PBT với Polymer khác có độ dai va đập cao. Trong nghiên cứu này, chọn vật liệu PBT và TPU trộn với nhau để nghiên cứu về các đặc tính của cả hai loại nhựa: − So sánh cơ tính của hỗn hợp PBT/TPU trước và sau khi thêm TPU.
− Lựa chọn tỉ lệ thích hợp của TPU khi thêm vào hỗn hợp PBT/TPU để cải thiện cơ tính. Phương pháp nghiên cứu Phương pháp chính là dựa trên cơ sở lý thuyết, tiến hành triển khai thực nghiệm, lấy mẫu nghiên cứu. Phân tích, so sánh, đối chiếu kết hợp với các phương pháp phân tích, thu thập thông tin để đánh giá kết quả. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Các vấn đề và lĩnh vực liên quan đến nhựa PBT, TPU, nhựa nhiệt dẻo.
2 Luan van CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2. Giới thiệu nhựa PBT Poly (Polybutylene terephthalate) và TPU 2. Tính chất và ứng dụng của PBT Polybutylene terephthalate (PBT), được sản xuất bằng cách trùng ngưng axit terephthalic hoặc dimethyl terephthalate với 1,4-butanediol sử dụng chất xúc tác đặc biệt, có độ bền kéo và uốn cao, độ lệch nhiệt độ cao, độ hút ẩm thấp và ổn định kích thước tốt. PBT hoạt động tốt với các quy trình ép phun, đúc thổi hoặc đùn.
Các ứng dụng chính của nó bao gồm các bộ phận bên ngoài ô tô, bộ phận dưới mui xe, các bộ phận điện, chẳng hạn như đầu nối và nắp cầu chì, các thiết bị nhỏ và vỏ máy bơm [1]. PBT còn có độ cao cơ học, có thể chịu nhiệt độ cao lên đến 120 độ C. Ngoài ra nó còn có thể xử lý bằng chất chống cháy để không bắt lửa trong quá trình sử dụng. Tuy nhiên, PBT vẫn được coi là vật liệu giòn, thể hiện khả năng chống va đập thấp và không thích hợp cho các ứng dụng cụ thể đòi hỏi độ bền va đập cao.2 Tính chất và ứng dụng của TPU TPU là một nhựa nhiệt dẻo nổi bật để pha trộn với PBT vì nó có độ bền va đập tốt và tính linh hoạt ở nhiệt độ thấp giữa các polyme này.
Cấu trúc vi mô của TPU kết hợp các phân đoạn mềm và cứng. Do đó đặc điểm nổi bật nhất của dòng hạt nhựa này chính là độ đàn hồi, sự trong suốt. Kèm theo đó là khả năng chống dầu, chống mài mòn.Các phân đoạn mềm thường tạo thành một ma trận đàn hồi để đảm bảo tính đàn hồi và hiệu suất ở nhiệt độ thấp của TPU. Ngược lại, các phân đoạn cứng là một điểm liên kết đa chức năng để liên kết chất gia cường và chất độn vật lý [2].
Nhựa TPU được ứng dụng nhiều trong đời sống như: vỏ ngoài của điện thoại, giày thể thao, công cụ điện, bảng điều khiển ô tô, dây bọc cáp, màng chống thấm… 3 Luan van Hình 2. Vật liệu Polyme blend 2. Giới thiệu chung về vật liệu polyme blend Tất cả các polyme đều thiếu sót trong ít nhất một thuộc tính, còn có thể nhiều hơn nữa. Sự pha trộn của hai hay nhiều polyme thường tạo ra một polyme có đặc tính mới mà không có thể đạt được từ bất kỳ thành phần riêng lẻ nào.
Pha trộn là cách của nhựa hiện tại và tương lai. Hỗn hợp polyme đang được sử dụng rộng rãi trong nhiều ứng dựng. Việc sử dụng rộng rãi các đặc tính được chấp nhận trong công nghiệp của những vật liệu này trong cuộc sống hiện đại có thể được chứng minh bằng việc ghi nhận thực tế là hỗn hợp polyme chiếm 36% trọng lượng tổng polyme tiêu thụ và điều này tiếp tục tăng. Một hỗn hợp có thể cung cấp một tập hợp các đặc tính có thể cung cấp cho polyme có tiềm năng xâm nhập vào các lĩnh vực ứng dụng mà một trong hai polyme tạo thành hỗn hợp không thể thực hiện được.
Một lượng đáng kể hỗn hợp polyme thương mại đã có sẵn, và người ta mong đợi sẽ tiếp tục nỗ lực tạo ra các vật liệu mới với tính năng hóa học hoặc cơ học nâng cao. Ngoài ra, một số sửa đổi về đặc tính xử lý, độ bền và chi phí có thể đạt được thông qua pha trộn polyme. Sự thay đổi hành vi của hệ thống polyme đã là chủ đề của nhiều nghiên cứu. Pha trộn cũng tạo ra vật liệu với sự kết hợp tuyệt vời của các đặc tính cơ học, nhiệt, hóa học, và hình thái học.
Pha trộn cung cấp một phương pháp dễ dàng và chi phí thấp để phát triển các vật liệu cao phân tử với các đặc tính mong muốn.Việc Pha trộn polyme đã được thiết lập như một phương tiện hiệu quả để thay đổi cấu tạo các đặc tính của vật liệu polyme. Trộn polyme cũng cung cấp một phương tiện tái sử dụng và tái chế chất thải polyme dễ dàng và hữu ích. Các lợi ích của việc pha trộn polyme có thể được tóm tắt như sau: 4 Luan van − Tăng cường sử dụng và đa dạng hóa tối đa các polyme hiện có. − Chi phí phát triển rất thấp.
− Khả năng xử lý dễ dàng và phạm vi dịch vụ mở rộng. − Cải thiện các đặc tính so với các homopolyme riêng lẻ. Những yếu tố quyết định đặc tính của vật liệu polyme blend [3, 4, 5]: − Cấu trúc hình thái (thể hiện cấu trúc trên phân tử của vật liệu). − Tính tương hợp (liên quan đến sự tạo thành pha tổ hợp ổn định và đồng thể từ hai hay nhiều loại polyme thành phần).
− Khả năng trộn hợp (liên quan đến khả năng trộn lẫn polyme thành phần trong những điều kiện nhất định tạo thành những tổ hợp đồng thể hoặc dị thể). Trong đó, tính tương hợp của các cấu tử thành phần có vai trò quan trọng trong việc quyết định tính chất của polyme blend. − Ở một số loại polyme blend, các cấu tử có thể tự hòa trộn vào nhau tới mức độ phân tử và cấu trúc này tồn tại ở trạng thái cân bằng, người ta gọi những hệ này là những hệ tương hợp về mặt nhiệt động học. Cũng có những hệ khác mà trong đó tính tương hợp được tạo thành nhờ những biện pháp gia công nhất định, chúng được gọi là những hệ tương hợp về mặt kỹ thuật.
Những tổ hợp polyme trong đó tồn tại những pha khác nhau dù rất nhỏ (micro) gọi là tổ hợp không tương hợp. Phân loại polyme blend Polyme blend có thể chia làm 3 loại theo sự tương hợp của các polyme thành phần [4, 5]: − Polyme blend trộn lẫn và tương hợp hoàn toàn: có entanpy nhỏ hơn không do có các tương tác đặc biệt và sự đồng nhất được quan sát ở mức độ phân tử. Đặc trưng của hệ này là chỉ có một giá trị nhiệt độ hóa thủy tinh (Tg) nằm ở khoảng giữa Tg của hai pha thành phần. Sự có mặt của các chất tương hợp ở bề mặt phân pha có thể ngăn ngừa sự kết tụ của từng polyme thành phần trong quá trình gia công, làm cho polyme này dễ phân tán vào polyme kia nhờ các tương tác đặc biệt [13].
− Polyme blend trộn lẫn và tương hợp một phần: một phần polyme này tan trong polyme kia, ranh giới phân chia pha không rõ ràng. Cả hai pha polyme (một pha giàu 5 Luan van polyme 1, một pha giàu polyme 2) là đồng thể và có hai giá trị Tg. Cả hai giá trị Tg chuyển dịch từ giá trị Tg của polyme thành phần ban đầu về phía polyme kia. − Polyme blend không trộn lẫn và không tương hợp: hình thái pha rất thô, không mịn, ranh giới phân chia pha rõ ràng, bám dính bề mặt hai pha rất tồi, có hai giá trị Tg riêng biệt ứng với giá trị Tg của polyme ban đầu.