CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ BỒN TRŨNG NAM CÔN SƠN 1.1 Đặc điểm tự nhiên Bể Nam Côn Sơn có diện tích gần 100.000 km2, nằm trong khoảng giữa 6o00’ đến 9o45’ vĩ độ Bắc và 106o00’ đến 109o00’ kinh độ Đông. Ranh giới phía Bắc của bể là đới nâng Côn Sơn, phía Tây và Nam là đới nâng Khorat - Natuna, còn phía Đông là bể Tư Chính - Vũng Mây và phía Đông Bắc là bể Phú Khánh (Hình 1. Độ sâu nước biển trong phạm vi của bể thay đổi rất lớn, từ vài chục mét ở phía Tây đến hơn 1000m ở phía Đông. Sơ đồ vị trí các phát hiện dầu khí bể Nam Côn Sơn (VPI-Labs) Các tích tụ hiện đại trên đáy biển được thành tạo chủ yếu do tác động của dòng chảy thủy triều cũng như dòng đối lưu mà hướng và tốc độ của chúng phụ thuộc vào hai hệ gió mùa chính: hệ gió mùa Tây Nam từ cuối tháng 5 đến cuối tháng 9 và hệ gió mùa Đông Bắc từ đầu tháng 11 năm trước đến cuối tháng 3 năm sau.
Cao triều trong kỳ nước cường khoảng 2-3,5m. Sóng biển trung bình trong năm là 0,8-1m, cao nhất trong những đợt gió mùa Đông - Bắc là 3-3,5m. Nhìn chung từ tháng 3 đến tháng 5 hàng năm là thời kỳ tốt nhất cho các hoạt động trên mặt biển. Luận văn Thạc Sĩ Học viên: Phan Mỹ Linh 4 1.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu tìm kiếm thăm dò dầu khí Hoạt động tìm kiếm thăm dò dầu khí ở đây bắt đầu từ những năm 70 của thế kỷ XX.
Đã có 26 nhà thầu dầu khí nước ngoài tiến hành khảo sát gần 80.000 km tuyến địa chấn 2D và gần 7000 km² địa chấn 3D, khoan 68 giếng khoan thăm dò, hàng chục giếng thẩm lượng và khai thác, xác lập được 5 mỏ và 17 phát hiện dầu khí.3 Đặc điểm địa tầng trầm tích 1.1 Thành tạo trước Kainozoi Trong phạm vi bể Nam Côn Sơn đã gặp các đá móng chủ yếu là granodiorit, một phần nhỏ là diorit thạch anh (cấu tạo Mía), gabbro (Nam Đại Hùng) có tuổi Jura Muộn- Creta. Ngoài ra còn gặp các đá biến chất như sét phiến, amphibolit, phyllit và rhyolit.2 Các thành tạo Kainozoi Nằm không chỉnh hợp trên móng không đồng nhất là lớp phủ trầm tích Kainozoi có chiều dày biến đổi từ hàng trăm đến hàng nghìn mét. Hệ Paleogen Thống Oligocen - Hệ tầng Cau (E3C) Hệ tầng Cau có thể xem tương đương với hệ tầng Bawah, Keras và Gabus thuộc bể Đông Natuna. Hệ tầng Cau vắng mặt trên phần lớn các đới nâng như Nâng Mãng Cầu, nâng Dừa, phần Tây lô 04, phần lớn lô 10, 11-1, 28, 29 và một số diện tích ở phần Tây, Tây Nam của bể.
Hệ tầng Cau được hình thành trong giai đoạn đầu tạo bể. Ở thời kỳ đầu, phát triển trầm tích tướng lục địa bao gồm các thành tạo lũ tích xen trầm tích đầm hồ, tam giác châu trên cạn, nhiều khu vực xảy ra các hoạt động núi lửa tạo nên một số lớp phun trào andesit, bazalt, diabas và tuf. Vào giai đoạn sau trầm lắng các thành tạo có xu hướng mịn dần; đôi nơi cát kết có chứa glauconit và hoá thạch biển. Trầm tích được lắng đọng trong môi trường tam giác châu.
Trầm tích hệ tầng Cau bao gồm chủ yếu các lớp cát kết có màu xám xen các lớp sét bột kết màu nâu. Cát kết thạch anh hạt thô đến mịn, độ lựa chọn kém, xi măng sét, cacbonat. Sét kết hệ tầng này thường giàu vật chất hữu cơ nên được coi là tầng sinh dầu khí, đồng thời nhiều nơi cũng được coi là tầng chắn tốt. Cát kết của hệ tầng này có hạt mịn đến nhỏ (ở phần trên) hoặc hạt vừa đến thô, đôi khi rất thô (ở phần dưới), độ lựa chọn kém đến trung bình, hạt bán tròn cạnh đến góc cạnh.
Đôi khi trong cát kết có chứa mảnh vụn đá biến Luận văn Thạc Sĩ Học viên: Phan Mỹ Linh 5 chất và magma của các thành tạo móng trước Kainozoi. Các tập cát kết của hệ tầng Cau có khả năng chứa trung bình. Hệ tầng Cau phủ không chỉnh hợp trên móng trước Kainozoi và được định tuổi là Oligocen dựa vào bào tử phấn hoa đới Florschuetza Tribolata và phụ đới Cicatricosisporité dorogensis Ly copodium neogenicus. Hệ Neogen Thống Miocen Phụ thống Miocen dưới - Hệ tầng Dừa (N11d) Hệ tầng Dừa phân bố rộng rãi trong bể Nam Côn Sơn bao gồm chủ yếu cát kết, bột kết màu xám sáng, xám lục xen kẽ với sét kết màu xám, xám đỏ, xám xanh; các lớp sét chứa vôi giàu vật chất hữu cơ có nơi chứa sét than hoặc các lớp than delta mỏng.
Đôi khi có những lớp đá vôi mỏng chứa nhiều hạt vụn hoặc đá vôi màu trắng xen kẽ trong hệ tầng. Tỉ lệ cát/sét trong toàn bộ mặt cắt gần tương đương nhau, tuy nhiên về phía Đông của bể thành phần hạt mịn tăng dần và ngược lại, ở phần rìa phía Tây tỉ lệ cát kết tăng do gần nguồn cung cấp vật liệu. Cát kết hạt nhỏ đến hạt vừa đôi khi hạt thô (ở phần dưới lát cắt) có độ lựa chọn và mài tròn tốt. Đá gắn kết tốt, có chứa nhiều glauconit và hoá thạch sinh vật biển, đặc biệt phong phú trùng lỗ.
Các trầm tích kể trên hầu như mới bị biến đổi thứ sinh ở mức độ thấp, vì vậy đặc tính thấm và chứa nguyên sinh của đá chứa hoặc rất ít bị ảnh hưởng. Một số tập cát kết của hệ tầng được coi là tầng chứa trung bình đến tốt với độ rỗng thay đổi từ 17 - 23% và độ thấm vài chục mD đến vài trăm mD. Sét kết ngoài thành phần khoáng vật chính là 2 nhóm hydromica và kaolinnit còn chứa một lượng đáng kể (5 - 10%) nhóm khoáng vật hỗn hợp của montmorilonit và hydromica có tính trương nở mạnh, do vậy chất lượng chắn có phần tốt hơn. Trầm tích hệ tầng Dừa được thành tạo trong điều kiện địa hình cổ gần như bằng phẳng hoặc có phân cắt không đáng kể.
Chính trong điều kiện này nên thành phần lát cắt khá đồng nhất trong toàn vùng. Trầm tích của hệ tầng được thành tạo trong môi trường từ tam giác châu tới biển nông và biển nông ven bờ. Chiều dày của hệ tầng Dừa thay đổi từ 200m - 800m, cá biệt có nơi dày tới 1. Hệ tầng Dừa nằm phủ không chỉnh hợp trên hệ tầng Cau.
Tuổi Miocen sớm của hệ tầng Dừa được xác định dựa vào Foram đới 6 - N8. Hệ tầng có thể tương đương với phần chính của hệ tầng Barat và một phần của hệ tầng Arang thuộc trũng Đông Natuna. Luận văn Thạc Sĩ Học viên: Phan Mỹ Linh 6 Thống Miocen Phụ thống Miocen giữa - Hệ tầng Thông - Mãng cầu (N12t-mc) Trầm tích của hệ tầng Thông – Mãng Cầu phân bố rộng khắp bể Nam Côn Sơn. Mặt cắt hệ tầng có thể chia thành hai phần chính: phần dưới chủ yếu là cát kết thạch anh hạt mịn đến trung, xi măng cacbonat, chứa glauconit và nhiều hóa thạch sinh vật xen kẹp những lớp mỏng sét kết và sét vôi.
Phần trên là sự xen kẽ giữa các lớp đá vôi màu xám sáng, màu trắng sữa đôi khi màu nâu bị dolomit hóa với các lớp sét - bột kết, cát kết hạt mịn, xi măng cacbonat màu xám xanh. Các trầm tích lục nguyên, lục nguyên chứa vôi phát triển mạnh dần về phía rìa Bắc và phía Tây - Tây Nam của bể. Trầm tích của hệ tầng Thông - Mãng Cầu mới bị biến đổi thứ sinh ở giai đoạn catagenez sớm nên các tập cát kết có khả năng chứa vào loại tốt. Đá cacbonat phát triển khá rộng rãi tại các vùng nông ở Trung tâm bể, đặc biệt tại các lô phía Đông của bể (các lô 04, 05, 06.
Khả năng chứa của tập đá cacbonat đã được xác định thuộc loại tốt tới rất tốt với độ rỗng trung bình thay đổi từ 10 - 35%, kiểu độ rỗng chủ yếu là độ rỗng giữa hạt (do quá trình dolomit hóa) và độ rỗng hang hốc (do hoà tan, rữa lũa các khoáng vật cacbonat). Ngoài sự khác biệt về các đới cổ sinh thì mức độ tái kết tinh và dolomit hóa của đá cacbonat của hệ tầng Thông - Mãng Cầu mạnh hơn, đây cũng là đặc điểm để phân biệt nó với hệ tầng Nam Côn Sơn nằm trên. Trầm tích của hệ tầng Thông – Mãng Cầu được thành tạo trong môi trường đồng bằng châu thổ đến rìa trước châu thổ chủ yếu ở phía Tây, còn ở phần Trung tâm và phía Đông của bể chủ yếu là biển nông trong thềm đến giữa thềm. Hệ tầng Thông - Mãng Cầu nằm chỉnh hợp trên hệ tầng Dừa.
Tuổi Miocen giữa được xác định dựa vào Foram đới N9 - N15, tảo cacbonat đới NN5 - NN9 và bào tử phấn hoa phụ đới Florschuetzia semilobat ở phần dưới và phụ đới Florschuetzia trilobata ở phần trên. Thống Miocen Phụ thống Miocen trên - Hệ tầng Nam Côn Sơn (N13 Nam Côn Sơn) Hệ tầng Nam Côn Sơn phân bố rộng rãi với tướng đá thay đổi mạnh các khu vực khác nhau. Ở rìa phía Bắc và Tây – Tây Nam trầm tích chủ yếu là lục nguyên gồm sét kết, sét vôi màu xám lục đến xám xanh, gắn kết yếu xen kẽ các lớp cát - bột kết chứa vôi đôi khi gặp một số thấu kính hoặc những lớp đá vôi mỏng chứa nhiều mảnh vụn lục nguyên. Cát kết có độ lựa chọn và mài tròn tốt, chứa hóa thạch động vật biển và glauconit.
Ở vùng Luận văn Thạc Sĩ Học viên: Phan Mỹ Linh 7 Trung tâm bể mặt cắt gồm các trầm tích lục nguyên và cacbonat xen kẽ. Nhưng tại một số vùng nâng ở phía Đông, Đông Nam bể đá cacbonat lại chiếm ưu thế. Theo đặc điểm trầm tích và cổ sinh thì hệ tầng Nam Côn Sơn được hình thành trong môi trường biển nông thuộc đới trong của thềm ở khu vực phía Tây và thuộc đới giữa - ngoài cửa thềm ở khu vực phía Đông. Hệ tầng Nam Côn Sơn có bề dày 200 - 600m và nằm bất chỉnh hợp trên hệ tầng Thông - Mãng Cầu.
Tuổi Miocen muộn của hệ tầng Nam Côn Sơn được xác định dựa vào Foram đới N16-N18, tảo cacbonat đới NN10 - NN11 và bào tử phấn hoa đới Florschuetzia meridionals. Luận văn Thạc Sĩ Học viên: Phan Mỹ Linh 8 Hình 1. Cột địa tầng tổng hợp bể Nam Côn Sơn (VPI-Labs) Luận văn Thạc Sĩ Học viên: Phan Mỹ Linh 9 Hệ Neogen - Đệ Tứ Thống Pliocen - Đệ Tứ - Hệ tầng Biển Đông (N2 bd-Q) Hệ tầng Biển Đông không chỉ phân bố trong bể Nam Côn Sơn mà trong toàn thềm lục địa Việt Nam liên quan đến đợt biển tiến Pliocen khu vực biển Đông.