chương 1 sẽ làm cơ sở cho việc nghiên cứu ở các chương tiếp theo. Phân loại theo nguồn gốc ngôn ngữ và đặc điểm cấu tạo của địa danh hành chính châu Hồng Hà (Vân Nam, Trung Quốc) Trên cơ sở khảo sát, chương nay trình bày hướng thu thập tư liệu và đi vào nhận diện các đơn vi địa danh, phân loại các địa danh trên địa ban, trình bay cầu trúc địa danh hành chính châu Hồng Hà. Nội dung của chương 2 sẽ đi sâu tìm hiểu nguồn sốc, đặc điểm cấu tạo và phương thức định danh các đơn vi địa danh hành chính châu Hồng Hà. Phương thức định danh và đặc điểm ngữ nghĩa của địa danh hành chính châu Hồng Hà Chương này khảo sát về phương diện ngữ nghĩa và biểu hiện địa văn hóa nhân văn châu Hồng Hà, đi sâu tìm hiểu ý nghĩa của các yếu tố cấu tạo nên địa danh.
Tìm hiểu những ảnh hưởng của địa lý, lịch sử, văn hoá, dân tộc, khí hậu đối với một số địa danh trong địa bàn. Qua đó thấy được đặc điểm của địa danh hành chính châu Hồng Hà. Ngoài các chương chình, luận án còn có báo cáo kèm theo phần phụ lục tập hợp các địa danh hành chính châu Hồng Hà tỉnh Vân Nam Trung Quốc. TONG QUAN TINH HÌNH NGHIÊN CỨU VA CƠ SỞ LÝ THUYÉT, KHÁI QUÁT ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1.
Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Tình hình nghiên cứu địa danh trên thế giới Nhìn dưới góc độ khoa học liên ngành, địa danh học là khoa học mới mẻ, có liên quan mật thiết với các môn học như địa lý, lịch sử, ngôn ngữ, dân tộc v. Vấn đề nghiên cứu địa danh được phát triển từ lâu trên thế giới. Địa danh học là một môn học riêng được phát triển ở phương Tây vào cuối thế kỷ XIX.
Là một bộ môn trong ngôn ngữ học, mục đích của địa danh học là giải quyết các vấn đề liên quan đến nguồn gốc, lich sử, văn hóa, ngôn ngữ và sự biến đổi về mặt ngữ nghĩa qua không gian và thời gian. Đã có rất nhiều đầu sách được xuất bản về nghiên cứu địa danh học. Giai đoạn này có những thành quả nghiên cứu tiêu biểu ở châu Âu như: Địa lí học từ nguyên; hướng đến một danh sách phân loại về các từ ngữ thường gặp, như tiền tố hoặc hậu tố, trong các phức thé của tên địa lí (T. Egi (Thuy sĩ) viết Dia danh hoc, năm 1876-1881, nhà ngôn ngữ học Đức vẽ 6 bức bản đồ phương ngữ Đức, năm 1903 J.
Nagl (Áo) viết Dia danh học. Những sách nghiên cứu địa danh học ở thời kỳ đầu chủ yếu hướng về miêu tả địa danh và khảo sát nguồn ngữ liệu. Bên cạnh đó, địa danh học còn là lĩnh vực được nhiều tổ chức và quốc gia quan tâm. Băng chứng cho việc này là nhiều tổ chức nghiên cứu về địa danh được thành lập.
Năm 1890 thành lập Uỷ ban Địa danh Mỹ, đồng thời thành lập cơ quan nghiên cứu địa danh. Năm 1902 thành lập Uỷ ban Địa danh Thuy Điển, năm 1919 thành lập Uỷ ban thường trực Dia danh Anh v. Một loạt các cuộc hội thảo về địa danh có quy mô quốc tế được tô chức (Hội thảo African ethononyms and toponyms do UNESCO tô chức năm 1984, Manual for the national standardization of geographical names năm 2006 của United Nations), có cả tạp chí chuyên ngành Nghiên cứu địa danh của Đức (1925). Ở châu Á, có các nhà nghiên cứu Nhật Bản như Kinđaichi Kyôsưkê Kanazawa v.
Giai đoạn này, các công trình nghiên cứu bat dau vận dụng nhiêu lí thuyét và kêt quả nghiên cứu của ngôn ngữ học so sánh 11 lịch sử, những thành quả nghiên cứu địa danh không còn chỉ xét về góc độ ngữ nghĩa của địa danh mà còn xác lập được cơ sở lý thuyết. Sau thế kỷ XX, dần dần bước vào giai đoạn nghiên cứu địa danh tông hợp. Gilliron xuất bản Atldt ngôn ngữ Pháp, sách đã nêu ra quy luật phân bố của ngôn ngữ theo khu vực, tính hạn chế giữa ngôn ngữ và địa lý, sách đã thúc đây nghiên cứu địa danh theo hướng phát triển địa lý học. Dauzat (Pháp) viết Nguồn gốc và sự phát triển địa danh, nêu ra nghiên cứu tầng lớp niên đại của địa danh qua phương pháp văn hoá địa lý học, tác giả cho rằng văn hoá cô đại như phát triển kinh tế, chiến tranh, di chuyên dân tộc v.
luôn được lưu dấu lại trong địa danh, thông qua những đặc trưng lịch sử của địa danh địa phương, có thé chia ra được tầng lớp niên đại của địa danh. Mỹ, Anh, Pháp, Nga, Nhật là năm nước hàng đầu về việc nghiên cứu địa danh học. Có rất nhiều sách chuyên ngành và nhiều hướng nghiên cứu về nguồn gốc địa danh, góp phần vào việc nghiên cứu thay đổi địa danh. Có hàng loạt công trình nghiên cứu như: năm 1941, E.Murzaev viết Những khuynh hướng nghiên cứu địa danh học; năm 1953, Alan Gardiner viết The Theory of Proper Names, tac giả lý giải địa danh trong hệ thống các tên riêng về các mặt ý nghĩa, nguồn gốc ra đời của chúng; năm 1958, George R.Stewart viết Các tên gọi, một khảo sát về việc đặt tên địa điểm; năm 1963, A.Dauzsat và Ch.Rostaing viết ra cuén Tir điển ngữ nguyên học các địa danh ở Pháp: năm 1965, Ch.Rostaing viết Les noms de lieux; năm 1965, V.N Nhikonov viết Dan luận địa danh học; Ch.Rostaing quan điểm rằng phải tìm ra hình thức cô của các từ cau tạo địa danh, phải dựa trên ngữ âm học địa phương mà nghiên cứu từ nguyên của địa danh.Raper viết Thực hành địa danh học; năm 1979, E.Muzaev viết Môn địa lý trong các tên gọi; năm 1984, Dauzsat xuất bản tiếp cuốn Địa danh học Pháp; năm 1985, A.Superanskaia viết Địa danh là gì.Murzaev có quan tâm đến vấn đề khuynh hướng nghiên cứu.
Nhất là quan điểm của A.Superanskaia có tính tổng hợp cao, trình bày toàn diện những kết quả nghiên cứu địa danh. “Đây là công trình lớn có giá trị tổng kết các kết quả nghiên cứu mới, làm cơ sở vững chắc cho việc nghiên cứu địa danh tiếp theo ở Liên bang Xô Viết trước đây” [55,tr. 12 Ở châu Á, việc nghiên cứu địa danh học của Nhật đứng ở vi trí đầu giữa các nước châu Á. Trước Minh Trị duy tân, việc nghiên cứu Nhật Bản chủ yếu khảo sát lịch sử địa danh đất đai, tên nước, quận, vi du: Oa danh loại tu sao (914) cua Minamoto no Shitago, Dia danh khảo (1803) của Uchiyama Matatsu, Nhật Ban châu danh giải (1852) của Abe Kando v.
sau khi Minh Trị duy tân, lý thuyết và phương pháp nghiên cứu địa danh được vào Nhật Bản, việc nghiên cứu địa danh trở thành đề tải nghiên cứu chung của các ngành như lịch sử học, địa lý học, ngôn ngữ học. Cuốn từ điển Đại Nhật Bản địa danh từ thư do Yoshida Togo biên soạn đến nay vẫn có giá trị khoa học rất cao. Thành quả nghiên cứu của Nhà dân học Yanagita Kunio được biên soạn nên cuốn Nghiên cứu địa danh (1936), đặt cơ sở cho địa danh học Nhật Bản. Năm 1942, Nakano Fumihiko bắt đầu lập ra Viện nghiên cứu địa danh Yamato, mười năm sau đôi tên là Viện nghiên cứu địa danh học Nhật Bản.
Viện nghiên cứu đã biên soạn Đại từ điển địa danh Yamato, xuất bản tạp chí Nghiên cứu địa danh học (1957-1962, 1972). Thập niên 80 thé kỷ trước là thời kỳ phát triển mạnh nhất của Nhật Bản [95, tr5]. Trong giai đoạn này, các nhà nghiên cứu đã cé gắng trình bày một cách có hệ thong về lí thuyết địa danh học, đi sâu vào hướng nghiên cứu tổng hợp, bám sát lí thuyết địa danh và đã xác định được đối tượng nghiên cứu một cách rõ ràng cũng như vận dụng được những phương pháp nghiên cứu mang tính khoa học. Cùng với việc thu hút được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu trong lĩnh vực địa danh học thì việc tiếp cận địa danh học cũng được mở rộng hơn sang hướng nhân học, văn hóa, đối chiếu.
Địa danh học thật sự đã trở thành một mảnh đất được nhiều nhà nghiên cứu khai phá, đó là các nhà ngôn ngữ học, nhà nghiên cứu về ngôn ngữ dân tộc, những người làm công tác chính sách ngôn ngữ và làm công tác bản đồ. Hướng mở rộng này khiến cho ta thấy được tầm quan trọng của công tác nghiên cứu địa danh và tính sâu rộng của nó trong đời sống. Tương xứng với nó thì hệ thống lý thuyết về địa danh học cũng ngày một được hoàn thiện và phát triển. Những thành quả nghiên cứu địa danh trên thế giới đã xác lập một lý thuyết về địa danh học, có cách phân lọai tương đối hợp lý.
Tình hình nghiên cứu địa danh ở Việt Nam Việt Nam có lịch sử lâu dài về việc nghiên cứu địa danh, bắt đầu từ thế kỷ XV, Việt Nam đã có một số nhà nghiên cứu quan tâm đến vấn đề địa danh. Năm 1333, Lê Trắc viết An Nam chí lược. Năm 1435, Nguyễn Trãi viết Dư Dia Chi. Năm 1821, Phan Huy Chú viết Lịch Ttriéu Hiến Chương.
Năm 1900, Nguyễn Văn Siêu viết Phương đình dự địa chí. Các công trình này chủ yếu nghiên cứu về địa danh theo hướng dia chí lịch sử văn hóa. Những thành quả nghiên cứu ban đầu của Việt Nam có ảnh hưởng sâu sắc đối với công việc nghiên cứu địa danh đời sau, ví dụ Dự Dia Chi được coi là Vii Cong An Nam. Những công trình nghiên cứu ban đầu của Việt Nam đã đặt nền móng cho công việc nghiên cứu địa danh của Việt Nam.
Từ những năm 1960 đến nay, địa danh học ở Việt Nam giành được nhiều thành qua đáng kể. Các công trình nghiên cứu về địa danh của các nhà nghiên cứu luôn tiếp cận địa danh theo hai hướng: địa lí - lịch sử - văn hóa và ngôn ngữ học. - Nghiên cứu địa danh từ cách tiếp cận địa lí - lịch sử - văn hoá Các công trình nghiên cứu địa danh Việt Nam xưa chủ yếu là địa chí theo hướng lịch sử, văn hoá như các công trình được nêu ở phan trên: An Nam chí lược của Lê Trắc (1333), cuốn sách này có giá tri rất cao; Dr địa chí của Nguyễn Trãi (1435), cuốn sách này đã ghi lại tình hình về phong tục, của cải, cảnh vật miền Bắc của Việt Nam, mô phỏng theo Vi Cổng của Trung Quốc, lại có tên An Nam Vũ Cống. Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên (1479), cuốn sách này được viết bang tiếng Hán cô, mô phỏng theo Sw Ký của Trung Quốc, cuốn sách này là nguồn tư liệu quan trọng nhất đề nghiên cứu lịch sử Việt Nam.