CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ THOÁT NƯỚC VÀ NGHIÊN CỨU THOÁT NƯỚC CHO LƯU VỰC SÔNG TÔ LỊCH 1.1 Mô tả khu vực nghiên cứu 1.1 Điều kiện tự nhiên: Vị trí địa lý: Lưu vực hệ thống sông Tô Lịch nằm trong địa phận thành phố Hà Nội, kẹp giữa sông Nhuệ và sông Hồng, có diện tích 77,5km2, diện tích cụ thể của từng lưu vực như sau: sông Tô Lịch (20 Km2), sông Sét (7,1Km2), sông Lừ (10,2 Km2), sông Kim Ngưu (17,3 Km2), hồ Tây (9,3 Km2), lưu vực Hoàng Liệt (8,1 Km2), lưu vực Yên Sở (5,5 Km2). Hình 1: Bản đồ hệ thống thoát nước lưu vực Sông Tô Lịch 3 Địa hình, địa lý, địa mạo: Địa hình tự nhiên lưu vực hệ thống sông Tô Lịch khu vực nội thành được chia làm ba bậc địa hình chính: Bề mặt >8 m; bề mặt 5 - 8 m; bề mặt cao dưới 5 m. Trên cơ sở phân tích bản đồ địa hình, kết quả khảo sát thực tế và các tài liệu tham khảo khác của các diện tích bộ phận, xác định được quan hệ độ cao mặt đất - diện tích - dung tích trữ nước (HFW) của các diện tích bộ phận trên lưu vực sông Tô Lịch. Nhìn chung độ cao mặt đất trên toàn lưu vực sông Tô Lịch > 4,0 m.
Khu vực hạ lưu sông Tô Lịch, sông Lừ, sông Sét và lưu vực Yên Sở có nhiều điểm độ cao mặt đất < 4,5 m. Các ô tiêu của lưu vực đều có điểm có cao độ <6,0 m. Khí hậu: Hệ thống thoát nước nằm giữa vùng đồng bằng Bắc Bộ; nó mang đặc trưng của khí hậu vùng đồng bằng. Đó là loại khí hậu nhiệt đới gió mùa với mùa đông lạnh, ẩm ướt, một cơn mưa phùn, vào mùa hè, trời nóng và mưa.
Hình 2: Trạm khí tượng Láng & Vân Hồ trong khu vực thoát nước lưu vực sông Tô Lịch 4 Nhiệt độ: Nhiệt độ trung bình là khoảng 230C ÷ 240C năm. Tổng nhiệt độ cả năm khoảng 8. Mỗi năm, có 3 tháng (từ tháng đến tháng Hai) nhiệt độ trung bình giảm xuống dưới 200C. Nhiệt độ trung bình tháng lạnh nhất, tháng Giêng, là trên 160C.
Vào mùa hè, nhiệt độ tương đối nhẹ hơn. Có 5 tháng (từ tháng Năm đến tháng Chín), nhiệt độ trung bình là trên 250C. Trong tháng Bảy, nó là các loài sâu bướm nóng nhất, với nhiệt độ trung bình khoảng 290C. Bảng 1: Nhiệt độ trung bình tháng ở Hà Nội (0C) tại trạm láng Tháng I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII t (0C) 16.1 Độ ẩm: Độ ẩm tương đối trung bình hàng năm khoảng 81%.
Ba tháng mùa xuân là thời gian ẩm ướt nhất trong năm. độ ẩm trung bình hàng tháng đạt 88-90% hoặc cao hơn. Tháng vào cuối mùa thu và đầu mùa đông là thời gian khô hạn nhất trong năm. Độ ẩm trung bình hàng tháng có thể giảm xuống dưới 80%.
Độ ẩm có thể đạt tới một đỉnh cao ở 98% và dưới 64%. Bảng 2: Độ ẩm tương đối trung bình hàng năm (%) tại trạm Láng Tháng I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII Hr (%) 82 85 88 88 84 84 85 87 86 83 81 82 Mưa: Đây là khu vực lượng mưa khá lớn. Tổng khối lượng của những thay đổi lượng mưa 1,554-1,836 mm với số ngày mưa là 130 ÷ 140 ngày mỗi năm. 5 Bảng 3: Lượng mưa 1, 3, 5, 7 ngày max ứng với tần suất P = 5% và 10% (đơn vị: mm) Mưa Tần suất 5% Tần suất 10% Trạm 1 ngmax 3 ngmax 5 ngmax 7 ngmax 1 ngmax 3 ngmax 5 ngmax 7 ngmax Láng 251,83 387,67 434,31 478,65 218,09 338,14 377,28 415,79 Bảng 4: Phân phối trận mưa 3 ngày max ứng với tần suất P= 10% (đơn vị: mm) Ngày thứ 1 2 3 Trạm Láng (mm) 47,53 280,73 9,88 Bảng 5: Lượng mưa 3 ngày của trận mưa đặc biệt lớn năm 2008 (mm) Ngày Hà Nội 31/10 391,2 01/11 91,8 02/11 81,1 Cộng 564,1 Bốc hơi: Lượng bốc hơi bình quân năm ở toàn vùng đạt khoảng 1.
Các tháng đầu mùa mưa (V, VI, VII) lại là các tháng có lượng bốc hơi lớn nhất trong năm. Lượng bốc hơi bình quân tháng V đạt trên 100 mm. Các tháng mùa Xuân (tháng II÷ IV) có lượng bốc hơi nhỏ nhất là những tháng có nhiều mưa phùn và độ ẩm tương đối cao. Bảng 6: Lượng bốc hơi trung bình tháng tại Hà Nội (mm) Tháng I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII Cả năm h (mm) 78,7 62,4 57,4 66,8 101,9 99,4 99,9 84,8 81,5 96,6 89,4 83,2 1.002 6 Gió, bão: Hướng gió thịnh hành trong mùa hè là gió Nam và Đông Nam và mùa đông thường có gió Bắc và Đông Bắc.
Tốc độ gió trung bình khoảng 2÷3 m/s. Tháng VII, IX là những tháng có nhiều bão nhất. Các cơn bão đổ bộ vào vùng này thường gây ra mưa lớn, ảnh hưởng lớn cho sản xuất và đời sống của nhân dân. Tốc độ gió lớn nhất trong cơn bão có thể đạt 40 m/s.
Mây: Lượng mây trung bình năm chiếm 75% bầu trời. Tháng III u ám nhất có lượng mây cực đại, chiếm trên 90% bầu trời còn tháng X trời quang đãng nhất, lượng mây trung bình chỉ chiếm khoảng trên 60% bầu trời. Nắng: Số giờ nắng hàng năm khoảng 1. Các tháng mùa hè từ tháng V đến tháng X có nhiều nắng nhất, trên dưới 200 giờ mỗi tháng.
Tháng II, III trùng khớp với những tháng u ám là tháng rất ít nắng, chỉ đạt 30 ÷ 40 giờ mỗi tháng. Các đặc điểm thủy văn của hệ thống thoát nước sông Tô Lịch: Hệ thống sông Tô Lịch bao gồm bốn con sông chính: Tô Lịch, Lừ, Sét, Kim Ngưu. Đây là hệ thống sông thoát nước chính của thành phố, diện tích lưu vực 77,5 km2, địa hình thấp, trũng, độ dốc nhỏ. Chế độ thủy văn ở đây khá phức tạp: Mưa là nguyên nhân trực tiếp mang tính quyết định đến chế độ thủy văn và mức độ ngập úng của Hà Nội, ngập úng chỉ có thể xảy ra vào mùa mưa lũ và khi có mưa.
Nhưng họat động sinh họat và sản xuất của con người cũng ảnh hưởng mạnh mẽ đến chế độ dòng chảy trên hệ thống. Nguồn cấp nước chủ yếu cho hệ thống sông Tô Lịch là nước mưa và nước thải do sinh hoạt và sản xuất. Mùa mưa, dòng chảy biến động mạnh mẽ theo thời gian và không gian. Khi mưa, nước chảy tràn trên các đường phố ngõ xóm.
Tập trung vào các hệ thống cống, kênh, mương và xả vào sông thoát nước chính, mực nước trong sông dâng lên nhanh chóng sau đó tập trung về hạ lưu. Khi mực nước tại đập Thanh Liệt < 3,5 m, nước theo các sông Tô Lịch, sông Sét, sông Lừ, sông Kim Ngưu thoát nước qua sông Nhuệ. Khi mực nước tại đập Thanh Liệt >= 3,5 m, đập Thanh Liệt đóng lại (theo qui định của Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn), nước không tiêu thoát được, ứ đọng gây ngập úng kéo dài. 7 Hiện nay hệ thống thoát nước sông Tô Lịch có 2 hướng thoát nước chính: chảy ra sông Hồng và chảy ra sông Nhuệ.
+ Thoát ra sông Hồng: Đến nay hướng thoát nước chính cho lưu vực sông Tô Lịch ra sông Hồng thông qua cụm công trình trạm bơm đầu mối Yên Sở với công suất giai đoạn I là 45 m3/s, giai đoạn II là 90m3/s. Đây là cụm công trình thoát nước Hà Nội giúp tiêu thoát nước của thành phố một cách chủ động trước mắt cũng như lâu dài. + Thoát nước ra sông Nhuệ: Đập Thanh Liệt với công suất thoát nước sau khi đã cải tạo là 45 m3/s. Trước đây là hướng thoát nước chính của nội thành.
Tuy nhiên do mực nước sông Nhuệ thường giữ ở mức cao phục vụ cho tưới tiêu của các tỉnh Hà Tây, Nam Hà, Nam Định. do vậy về lâu dài đây là hướng thoát nước phụ.2 Điều kiện kinh tế - xã hội: Dân số: Khu vực dự án nằm tại Hà Nội. Diện tích tự nhiên là 7536,26 km2. Bảng 7: Tình hình dân cư khu vực nghiên cứu Quận Đơn vị trực thuộc Dân số Ba Đình 14 phường 228,352 Cầu Giấy 12 phường 147,334 Đống ĐA 21 phường 370,117 Hai Bà Trưng 20 phường 295,726 Tây Hồ 8 phường 130,639 Tình hình phát triển kinh tế: Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Hà Nội là 130,100 tỷ đồng (năm 2014), mà chiếm 8,8% tổng GDP của cả nước.
Sau sự bùng nổ của cải cách kinh tế vào năm 1989, nền kinh tế của Hà Nội đã tăng trưởng với tốc độ nhanh chóng hơn bao giờ hết, GDP bình quân của Hà Nội đã tăng 11,8% mỗi năm. 8 Căn cứ quy hoạch tổng thể về phát triển kinh tế - kinh tế đến năm 2020 của thành phố Hà Nội, cơ cấu kinh tế theo hướng phát triển công nghiệp và dịch vụ là chủ yếu (với 34% và 52% GDP). Trong thời gian tới, thành phố Hà Nội sẽ tiếp tục dịch mạnh cơ cấu kinh tế theo hướng dịch vụ - công nghiệp - nông nghiệp, phát triển các ngành và sản phẩm công nghệ cao. Đồng thời, sự phát triển của công nghiệp, lĩnh vực ưu tiên phát triển có chọn lọc như sau: tự động hóa, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới, tập trung vào sự phát triển của các nhóm ngành công nghiệp và sản phẩm có lợi thế, thương hiệu.3 Định hướng phát triển chung không gian của đô thị : Theo “Quy hoạch chung xây dựng Thủ đô Hà Nội đến 2030 và tầm nhìn đến 2050” ban hành theo quyết định 1259/QĐ-TTg ngày 26/7/2011, Hà Nội[13] có đô thị trung tâm từ Vành đai IV trở vào là trung tâm chính trị, văn hóa, dịch vụ, y tế, giáo dục chất lượng cao của cả nước; trung tâm hành chính - chính trị quốc gia đặt tại Ba Đình.
Đô thị trung tâm được phân cách với các đô thị vệ tinh, các thị trấn bằng hành lang xanh. Trong đô thị trung tâm có khu nội đô lịch sử (giới hạn từ phía Nam sông Hồng đến đường Vành đai II), khu nội đô mở rộng (giới hạn từ đường Vành đai II đến sông Nhuệ) bao gồm chuỗi các đô thị Đan Phượng, Hoài Đức, Hà Đông, Thanh Trì. khu vực mở rộng phía Nam sông Hồng (từ sông Nhuệ đến đường Vành đai IV), khu vực mở rộng phía bắc sông Hồng (đến nam sông Cà Lồ). Đô thị trung tâm được phát triển mở rộng từ khu vực nội đô về phía tây, nam đến đường Vành đai 4 và về phía bắc đến khu vực Mê Linh, Đông Anh; phía đông đến khu vực Gia Lâm và Long Biên.4 Định hướng quy hoạch san nền Quy hoạch san đắp nền phải kết hợp chặt chẽ với quy hoạch thoát nước mưa.