Đặt vấn đề Việc sử dụng kháng sinh trong phòng ngừa và điều trị nhiễm trùng do vi khuẩn trong nhân y và thú y đã tạo áp lực chọn lọc trên vi khuẩn gây bệnh và vi khuẩn sống thường trú. Vi khuẩn thường trú đề kháng với kháng sinh có thé là nguồn tích trữ tính trạng đề kháng kháng sinh trong hệ thống di truyền và truyền gene dé kháng của chúng cho vi khuẩn gây bệnh khác. Sự gia tăng đề kháng kháng sinh ở vi khuẩn gây bệnh là mối lo ngại rất lớn trên thế giới vì làm hạn chế sự thành công trong điều trị. Hiểu biết đúng đắn về tình hình đề kháng kháng sinh của vi khuân là cần thiết để góp phần xây dựng chương trình kiểm soát và quản lý việc sử dụng kháng sinh.
Trong các cơ chế đề kháng với nhiều loại kháng sinh của vi khuẩn, các nhà khoa học đã phát hiện integron. Integron là một hệ thống bẫy bắt gene, chủ yếu là các gene đề kháng kháng sinh. Integron được tìm thấy trong plasmid và trong nhiễm sắc thé. Integron đi kèm với yêu t6 có khả năng đổi chỗ như transposon hay các plasmid có khả năng tiếp hợp.
Như vậy, integron đóng vai trò quan trọng trong sự lan tràn của đề kháng kháng sinh hiện nay. Chúng có thể mang các gene cassette và chèn vào gene của vi khuẩn. Gene cassette là một yếu tố di truyền, có khả năng chuyền vị. Cấu trúc của gene cassette gồm một gene mã hóa cho một kiểu hình nhất định, thường là đề kháng kháng sinh.
Đã có 4 loại integron được phát hiện. Tuy nhiên, integron lớp 1 (class 1 integron) được cho là phổ biến nhất và là yếu tố chính tạo nên đa đề kháng kháng sinh của họ vi khuẩn đường ruột (Hall và cs, 2003). coli) là vi khuẩn thuộc ho Enterobacteriaceae. coli vừa là vi khuân thường trú cua hệ vi sinh vật đường ruột, vừa là vi khuân gây bệnh.
Phan lớn các chủng vi khuân £. coli không gây bệnh, nhưng một số chủng có thé gây bệnh trên nhiều cơ quan của cơ thể như tuyến vú, tử cung, đường ruột. phd biến nhất là bệnh tiêu chảy trên thú và người. Hiện nay, kháng sinh đang được sử dụng một cách tự do trong ngành thú y.
Trong chăn nuôi, đặc biệt là chăn nuôi heo hàng ngày sử dụng một lượng lớn thuốc kháng sinh. Ngay từ khi còn theo mẹ, heo con đã được tiếp xúc với kháng sinh từ việc điều trị cho heo mẹ, phòng ngừa cho heo con. cứ theo tiễn trình đó thì thời gian tiếp xúc với kháng sinh của E. coli và sự đề kháng kháng sinh của vi khuẩn cũng tăng theo.
Sẽ rất nguy hiểm cho sức khỏe của cộng đồng khi các chủng vi khuân nay vay nhiễm vào quay thịt, thực phẩm và nhiễm cho người tiêu dùng. Ở Việt Nam, hiện nay kháng sinh không chỉ được bán một cách tự do trong thú y mà còn cả trong nhân y (hầu như không cần có sự kê toa của bác sĩ điều trị). Vấn đề sử dụng kháng sinh không hợp lý thường xảy ra khi bệnh nhân tự ý ngưng thuốc khi triệu chứng thuyên giảm, hoặc dùng không đúng liều. Đã có nghiên cứu về E.coli trên trẻ em tiêu chảy ở Hà Nội, Việt Nam cho thấy E.
coli đề kháng đến 88,3 % với sulfamethazole/trimethoprim, 86,4 % với ampicillin, hơn 77 % với chlo- ramphenicol (Nguyen và cs, 2005). Điều này cho thay kha năng đề kháng khang sinh của vi khuẩn ở người cũng rất cao. Các nghiên cứu về đề kháng kháng sinh của vi khuẩn Z. coli ở Việt Nam đa số là xác định kiểu hình, ít đi sâu vào xác định kiểu gene dé kháng.
Với mục tiêu xác định kiểu hình và kiểu gene đề kháng kháng sinh của vi khuẩn Z. coli, chúng tôi tiến hành thực hiện dé tài: “Dé kháng khang sinh của vi khuẩn Escherichia coli” dưới sự hướng dẫn của PGS. Nguyễn Ngoc Tuân và TS. Võ Thị Trà An.
Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần làm tăng sự hiểu biết về đề kháng kháng sinh của vi khuẩn E. coli ở Việt Nam. Dữ liệu sẽ cung cấp thông tin và phương hướng cho sự lựa chọn trong việc sử dụng kháng sinh.2 Mục tiêu Xác định kiểu hình đề kháng với các loại kháng sinh phô biến của vi khuẩn E. coli phan lập được từ người bệnh và từ thịt heo, xác định kiểu gene đề kháng có liên quan đến integron lớp 1.3 Yêu cầu Phân lập các gốc E.
coli từ người bệnh và từ thịt heo. Thử kháng sinh đồ để xác định kiểu hình đề kháng kháng sinh của các gốc E.coli phan lập được. Xác định sự hiện diện enzyme Ø-lacfamase bằng double disk test và AmpC disk test cho các gốc đề kháng với ceftazidime. Thực hiện PCR xác định sự hiện diện của integron lớp 1 va gene cassette.
Thực hiện RFLP dé phân loại các gene cassette trong integron lớp 1. Giải trình tự đoạn nucleotide của các gene cassette đại diện để xác định kiểu gene đề kháng kháng sinh. Chương 2 TỎNG QUAN 2.1 Kháng sinh, đề kháng kháng sinh và integron 2.1 Kháng sinh Kháng sinh là tất cả những chất hóa học, không kể nguồn gốc (chiết xuất từ môi trường nuôi cay vi sinh vật, bán tong hợp hay tong hợp) có kha năng kìm hãm sự phát triển của vi khuân hoặc tiêu diệt vi khuân bằng cách tác động chuyên biệt trên một giai đoạn chuyên hóa cần thiết của vi sinh vật. Với định nghĩa này, nhiều chất trước đây xếp vào nhóm chất kháng khuẩn tổng hợp (như sulfonamide, quino- lone) bây giờ cũng được xếp loại là kháng sinh (Võ Thị Trà An, 2007).
Kháng sinh là những chất có khả năng tiêu diệt hoặc kìm hãm sự phát triển của vi sinh vật nhưng không nguy hại hoặc nguy hại rất ít đến cơ thể con người. Hiện tượng này gọi là sự lựa chọn đặc tính độc dựa trên sự khác nhau về cau trúc và biến dưỡng giữa tế bào vật chủ và vi sinh vật. Kháng sinh tác động lên vi trí dich va vị trí này chỉ có trên vi sinh vật mà không có trên tế bào vật chủ (Yao và Moelle- ring, 2005). Những kháng sinh đầu tiên được mô ta và giới thiệu vào điều trị lâm sàng là những hợp chất được chiết xuất từ vi sinh vật như penicillin và aminoglycoside.
Ngày nay, số lượng và chủng loại kháng sinh rất nhiều và đa dạng. Có nhiều cách phân loại kháng sinh: phân loại theo cấu trúc hóa học, theo cơ chế tác động và theo tác động kháng khuẩn. Theo cấu trúc hóa học thì kháng sinh được phân loại thành các nhóm sau: nhóm ÿ-lactam (penicillin, ampicillin, amoxicillin,.), nhóm amino- glycoside (streptomycin, gentamicin, kanamycin, neomycin.), nhóm polypeptide (colistin, bacitracin, polymycin.), nhóm tetracycline (tetracycline, oxytetracycline, chlotetracycline, doxycycline.), nhóm phenicol (chloramphenicol, thiamphenicol, florphenicol.), nhóm macrolide (erythromycin, spiramycin, tulathromycin, josamy- cin, tylosin.), nhom sulfonamide (sulfaguanidin, sulfacetamid, sulfamethoxa- zole.), nhóm diaminopyrimidine (trimethoprim, diaveridin.), nhóm quinolone (acid nalidixic, flumequin, norfloxacin, ciprofloxacin.), và các nhóm khác (glycopeptide, nitrofurane, pleuromutilin, polyetherionophore.1: Cấu trúc tế bao eukaryote (nhân thực) va prokaryote (nhân so) (Phạm Thành Hồ, 1996) 2.2 Cơ chế tác động của kháng sinh Dé hiểu rõ cơ chế đề kháng kháng sinh thì sự hiểu biết về cơ chế tác động của kháng sinh là rất quan trọng. Cho đến nay, con người đã tìm ra rất nhiều nhóm kháng sinh với những cơ chế tác động khác nhau nhưng nhìn chung gồm có các cơ chế sau: Uc chế tổng hợp thành tế bào; Uc chế chức năng ribosome; Uc chế tổng hợp acid nucleic; Uc chế biến dưỡng folate; Uc chế chức năng màng tế bao (Byarugaba, 2010).
Úc chế tổng hợp thành tế bào: khác với té bào động vật hữu nhũ, tế bào vi khuẩn có áp suất thâm thấu bên trong tế bào cao hơn nên chúng có thành (vách) bên ngoài màng tế bào (Hình 2. Thành tế bào có cấu tạo từ peptidogycan (muco- peptid; murein) gồm nhiều dây polysaccharide thăng dọc và những đoạn ngang penta-peptide. Polysaccharide gồm nhiều phân tử đường chứa gốc amin: N-acetyl- gluco-samine và N-acetyl-muramic (chỉ có ở tế bào vi khuẩn). Tiến trình hình thành thành tế bào bắt đầu bằng sự chuyền đối L-alanin thành D-alanin.
Sau đó 2 D-alanin kết hợp với nhau. Cyscloserin ức chế giai đoạn này nên nó tác động trên ca vi khuan G+ và G-. Tác động lên thành tế bào Cycloserine a Vancomycin, Teichoplanin Thanh té bao Bacitracin Penicillins Cephalesporins - Monobactams DNA Gyrase Quinilones Carbapenems RRR 7“ DNA,RNA polymerase mRNA’ s = oA ae Rifampin KG en 3 Biến dưỡng ấn ˆ_ˆTđ tổng hợp Protein acid Folic ae Ribosomes ~ ( Ứcchế50S ) Erythromycin (Macrolides) Trimethoprim. Chloramphenicol Sulfonamides Clindamycin Td tống hợp protein ( Ucché30S ) Tetracycline Mang té bao | Spectinomycin Polymyxins Streptomycin Gentamicin, Tobramycin (aminoglycosides) Amikacin Hình 2.2: Dich tác động của kháng sinh trên tế bao vi khuan (Andersson, 2004) Tiếp đến D-alanin dipeptide nối với 3 acid amine khác va N-acetyl muramic acid dé tạo thành đường pentapeptide.
Sau đó, pentapeptide lại cặp đôi với một đường mang amine khác là N-etylglucosamine. Toàn bộ cấu trúc này lại kết hợp với một phân tử isoprenyl phosphate rồi di chuyền từ tế bào chất ra ngoài màng tế bào. Tại đây chúng kết hợp với nhau để kéo dài thành chuỗi peptidoglycan. Bacitracin ngăn cản tiến trình này bằng cách gắn với isoprenyl phosphate tạo phức hợp vô dung.
Vancomycin ngăn can sự di chuyển đường pentapeptide thành chuỗi đa phân tử bên ngoài màng tế bào. Giai đoạn cuối là hình thành chuỗi ngang giữa các chuỗi peptidoglycan bằng cách nôi D-alanin của một chuỗi với diaminopimelic acid của chuôi kê cận nhờ enzyme transpeptidase. Penicillin ức chế giai đoạn này do cau trúc của nó giống D- alanyalanin (1 vị trí trên peptidoglycan mà enzyme gắn vào) (Võ Thi Trà An, 2007). Úc chế chức năng màng tế bào: màng tế bào có nhiệm vụ bao bọc và ngăn cách dich tương bao với vỏ tế bào.
Nó có tính thấm chọn lọc, điều hòa sự trao đổi với môi trường bên ngoài. Cả tế bào động vật và tế bào vi khuẩn đều có các yếu tố như protein, lipid nhưng lipid của vi khuẩn là phospholipid còn nắm mốc là sterol. Kháng sinh thuộc nhóm polypeptide (colistin, polymycin) và polyen (chất kháng nắm) gắn kết trên các chất hóa học riêng biệt làm xáo trộn chức năng thâm thấu làm cho các chất trong bào tương như Mg””, K*, Ca”” thoát ra ngoài (Võ Thị Trà An, 2007). Úc chế tong hợp acid nucleic: sự nhân đôi DNA bắt đầu bằng phản ứng tách chuỗi DNA ra làm hai, mỗi bên là một khuôn để gắn nucleotid thích hợp theo nguyên tắt bỗ sung.
DNA polymerase xúc tác sự tông hợp các liên kết giữa các nucleotid; DNA gyrase nối các DNA trong quá trình tổng hợp và tạo thành các vòng xoắn. Sự sao mã là quá trình tổng hợp RNA do DNA làm khuôn theo nguyên tắc bổ sung nhờ enzyme RNA polymerase và ion Mg””. Quinolone (acid nalidixic và các fluoroquinolone) ức chế mạnh sự tổng hop DNA trong giai đoạn nhân đôi do ức chế DNA gyrase.