Chương 1 - NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ ĐÀO TẠO NGHỀ.5 CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN. Lý luận cơ bản về lao động nông thôn và đào tạo nghề. Lao động nông thôn và đặc điểm của lao động nông thôn:.5 Nguồn LĐNT: Là một bộ phận của nguồn LĐ xã hội bao gồm toàn bộ những người LĐ đang làm việc trong nền KT quốc dân và những người có khả năng LĐ nhưng chưa tham gia hoạt động trong nền KT quốc dân thuộc khu vực NT. Cụ thể hơn, nguồn LĐNT bao gồm những người từ đủ 15 tuổi trở lên sống ở NT đang làm việc trong các ngành, lĩnh vực như: nông, lâm, ngư nghiệp, CN, xây dựng, dịch vụ, hoặc các ngành phi NN khác; và những người trong độ tuổi có khả năng LĐ nhưng hiện tại chưa tham gia hoạt động KT [13] .5 Luan van Đặc trưng chung nhất của LĐNT ở hầu hết các nước kém phát triển và đang phát triển, là dân số thường tăng nhanh do quản lý lỏng lẻo, không gắn với phát triển kinh tế, dẫn tới tỷ lệ tăng dân số cao, không được kiểm soát, lực lượng LĐ tăng nhanh hơn so với khả năng tạo việc làm của nền KT đã tạo ra sức ép nặng nề về việc làm và ĐTN ở khu vực NT.
Trẻ em chưa đến tuổi LĐ ở NT thường phải tham gia làm việc trong gia đình từ rất sớm, kể cả việc làm có thu nhập và không có thu nhập. Trong khi đó, tư liệu sản xuất cơ bản trong NN là đất đai thì có hạn. Nhiều thập kỷ qua chỉ số đất canh tác bình quân mỗi LĐ không những không tăng lên mà còn giảm đi rất nhanh. Hai khuynh hướng chính làm cho đất đai trong NN ngày càng ít đi là tăng dân số và quá trình CNH, HĐH đất nước, trong đó có cả yếu tố đô thị hoá.
Ở hầu hết các nước, trong quá trình đô thị hoá và CN hoá, xu hướng chung có tính quy luật là tỷ trọng dân số NN, NT giảm dần. Tuy vậy, ở các nước đang và kém phát triển, tốc độ giảm vẫn còn chậm, dân số và LĐNT vẫn chiếm đại đa số trong tổng nguồn lực xã hội. Nếu xem xét tỷ trọng LĐ NN trong toàn bộ LĐ xã hội, có thể thấy sự gia tăng dân số trong NN, NT đang là là yếu tố chính bổ sung LLLĐ hàng năm cho xã hội. Sự tăng lên về tỷ trọng LĐ NN còn thể hiện mức độ thu hút LĐ vào KCN và thành thị chưa thực sự đủ lớn để có thể làm thay đổi một cách căn bản cơ cấu LĐ xã hội.6 Chất lượng nguồn LĐNT thấp hơn rất nhiều so với các vùng đô thị, tỷ lệ chưa qua đào tạo cao.
LĐNT lệ thuộc nặng nề vào mùa vụ, chưa có việc làm thường xuyên dẫn đến tình trạng di cư tự do đặc biệt là di cư theo mùa vụ, LĐ phổ thông ở NT đi làm thuê ở các đô thị tăng lên khá nhanh. Thu nhập và thù lao LĐNT thuộc vào loại thấp nhất so với các lĩnh vực khác trong nền KT quốc dân. Mức sống của LĐ và dân cư NT thấp hơn nhiều so với thành thị.6 Sự cách biệt giữa thành thị và NT, người giàu và người nghèo đang ngày càng gia tăng. Khi nghiên cứu tìm nguyên nhân chính đưa đến sự phân hoá giàu nghèo, sự cách biệt thu nhập giữa thành thị và NT, thì đại đa số đều tập trung ở vấn đề thời gian sử dụng LĐ hữu ích, điều đó đúng cả về lý luận và thực tiễn.
Thực tế cho thấy thời gian sử dụng LĐ hữu ích mỗi nơi một khác, ở đâu có thời gian sử dụng LĐ hữu ích cao hơn thường có mức sống cao hơn. Ngoài ra số tiền công cho LĐ ở khu vực thành thị cũng cao hơn ở khu vực NT.7 Thị trường LĐ ở NT chưa phát triển, sức cạnh tranh của hàng hoá sức LĐ ở NT còn yếu. Nguyên nhân có nhiều nhưng chủ yêu vẫn là do phương thức LĐ ở NT chưa vươn lên sản xuất hàng hoá một cách đồng đều. Nhiều nơi trong một thời dài vẫn duy trì lối đổi công dựa vào các quan hệ thân quen dòng họ.
Sức cạnh tranh yếu của thị trường LĐ NT còn xuất phát từ đặc thù của lĩnh vực sản xuất là NN, mang nặng tính chất thời vụ, việc làm không thường xuyên.7 Ở Việt Nam, LĐNT chiếm đại đa số về mặt số lượng trong nguồn lực LĐ xã hội, sức ép việc làm và Luan van ĐTN của LĐNT đang ngày một lớn do xu thế phát triển của xã hội. LĐNT là một lực lượng rất đông đảo, chiếm vị trí quan trọng ở NT, LĐNT là chủ thể của quá trình phát triển NN, NT. (Năm 2010, cả nước có 50,5 triệu LĐ, trong đó lực lượng LĐ tại NT có 36,4 triệu người chiếm 72,04% lực lượng LĐ cả nước.7 Đặc điểm người nông dân và LĐNT nước ta là cần cù, chịu khó, sẵn sàng tiếp thu kiến thức mới để cải tạo thiên nhiên, giúp ích cho hoạt động NN của mình. Trong thời gian qua, dưới tác động của các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước, một bộ phận LĐNT đã tỏ ra năng động, sáng tạo, thích ứng nhanh với cơ chế mới đã vươn lên trở thành các chủ nhân, sản xuất giỏi, có ý thức về nghề nghiệp tạo việc làm cho bản thân góp phần làm thay đổi bộ mặt của NT.
Tuy nhiên, một trong những nhược điểm của LĐNT trong giai đoạn hiện nay là làm việc manh mún, do tập quán làm việc theo cảm tính dẫn đến người nông dân không có định hướng phát triển hoạt động NN rõ ràng, nếu như không có sự tư vấn chi tiết của các cơ quan chuyên môn, của những người có kinh nghiệm. Hình thức tổ chức LĐ ở NT còn mang tính tự phát, vai trò và vị trí của LĐNT trong KT NT chưa được phát huy mạnh mẽ. Đặc biệt trong nền KT hiện nay, số đông LĐNT bước vào cơ chế mới tỏ ra lúng túng, thiếu kinh nghiệm, thiếu thông tin, thiếu vốn, thiếu kiến thức về KT thị trường, thị trường LĐ và nghề nghiệp…,[10] .8 Dưới tác động của cơ chế chính sách mới, nhiều ngành nghề thủ công mỹ nghệ truyền thống, dịch vụ, phát triển ở NT, làm cho cơ cấu LĐNT thay đổi, tỷ lệ cơ cấu LĐ trong các ngành NN, lâm nghiệp và thủy sản năm 2005 chiếm 56% đến năm 2010 còn 48,2% [26]. LĐ phi NN có xu hướng tăng lên, đặc biệt ở những địa phương có tốc độ đô thị hóa và CN hóa diễn ra nhanh chóng.
Tuy nhiên, ở nhiều địa phương, nhiều vùng KT chưa phát triển, nhất là vùng sâu, vùng xa, miền núi đời sống thu nhập còn nhiều khó khăn. Thiếu việc làm, không tìm được việc làm, thời gian nhàn rỗi, phần lớn chưa có nghề và chưa được ĐTN là những đặc trưng cơ bản của LĐNT.8 Chính những đặc điểm của LĐNT như trên làm cho vai trò ĐTN càng trở nên quan trọng, quyết định sự thành công của việc hiện đại hóa NN, NT nói chung và thành công của xây dựng NT mới nói riêng. Các khái niệm về đào tạo nghề và đặc trưng của đào tạo nghề.9 - Nghề : Có rất nhiều khái niệm về nghề được đưa ra song chưa được thống nhất, chẳng hạn có khái niệm được nêu: "Nghề là một tập hợp LĐ do sự phân công LĐ xã hội quy định mà giá trị của nó trao đổi được". Nghề mang tính tương đối, nó phát sinh, phát triển hay mất đi do trình độ của nền sản xuất và nhu cầu xã hội.
Mặc dù khái niệm nghề được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau song chúng ta có thể nhận thấy một số nét đặc trưng nhất định sau: .9 Luan van + Đó là hoạt động, là công việc về LĐ của con người được lặp đi lặp lại.9 + Là sự phân công LĐ xã hội, phù hợp với yêu cầu xã hội.9 + Là phương tiện để sinh sống.9 + Là LĐ kỹ năng, kỹ xảo chuyên biệt có giá trị trao đổi trong xã hội đòi hỏi phải có một quá trình đào tạo nhất định.9 - ĐTN (Dạy nghề): Hiện nay, thuật ngữ “dạy nghề” hoặc “đào tạo nghề” được dùng rất phổ biến, đã có truyền thống, điều này cũng phù hợp với tình hình thực tế đất nước, xã hội đòi hỏi cần phải nhấn mạnh vai trò to lớn của ĐTN, trước yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực trực tiếp LĐ sản xuất có tay nghề, đáp ứng yêu cầu phát triển KT - XH. Hơn nữa, cụm từ “đào tạo nghề” thực chất là viết gọn của cụm từ “giáo dục kỹ thuật và dạy nghề" đã được sử dụng ở nền giáo dục nước nhà từ lâu đời và rất quen thuộc với nhà giáo trong hệ thống giáo dục.9 Theo Điều 5, Luật dạy nghề thì ĐTN được khái niệm là: “Hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khoá học” [12]. Như vậy, ĐTN có những đặc trưng cơ bản sau:. 9 - ĐTN bao gồm hai quá trình có quan hệ hữu cơ với nhau, đó là: .9 + Dạy nghề: “Là quá trình giáo viên truyền bá những kiến thức về lý thuyết và thực hành để các học viên có được một trình độ, kỹ năng, kỹ xảo, sự khéo léo, thành thục nhất định về nghề nghiệp”.10 + Học nghề: “Là quá trình tiếp thu những kiến thức về lý thuyết và thực hành của người LĐ để đạt được một trình độ nghề nghiệp nhất định”.10 - ĐTN cho người LĐ là giáo dục kỹ thuật sản xuất cho người LĐ để họ nắm vững nghề nghiệp, chuyên môn bao gồm ĐTN mới, ĐTN bổ sung, đào tạo lại nghề, cụ thể như sau:.10 + ĐTN mới: Là đào tạo những người chưa có nghề, gồm những người đến tuổi LĐ chưa được học nghề, hoặc những người trong độ tuổi LĐ nhưng trước đó chưa được học nghề.
Đào tạo mới nhằm đáp ứng tăng thêm LĐ qua ĐTN cho xã hội.10 + Đào tạo lại nghề: Là đào tạo đối với những người đã có nghề, có chuyên môn nhưng do yêu cầu mới của sản xuất và tiến bộ kỹ thuật dẫn đến việc thay đổi cơ cấu ngành nghề, trình độ chuyên môn. Một số công nhân được đào tạo lại cho phù hợp với cơ cấu ngành nghề và trình độ kỹ thuật mới. Đào tạo lại thường được hiểu là quá trình nhằm tạo cho người LĐ có cơ hội để học tập một lĩnh vực chuyên môn mới để thay đổi nghề.