Tổng quan nghiên cứu

Đào tạo nghề cho lao động nông thôn là khâu đột phá chiến lược nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng cao năng suất và giải quyết việc làm bền vững. Năm 2010, Việt Nam có 36,4 triệu lao động nông thôn, chiếm 72,04% tổng lực lượng lao động cả nước, trong khi tỷ lệ lao động nông nghiệp vẫn ở mức cao 48,2%. Tại huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam - địa bàn có dân số nông thôn lớn nhất tỉnh với 190.069 người (chiếm 16,4% dân số nông thôn toàn tỉnh) - quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa nhanh chóng đã thu hồi đất sản xuất, đặt ra sức ép giải quyết việc làm cấp bách.

Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Quản lý kinh tế của tác giả Phan Văn Bình tập trung giải quyết vấn đề then chốt: hoàn thiện chính sách và phát triển công tác đào tạo nghề cho lao động nông thôn huyện Điện Bàn. Mục tiêu cụ thể của công trình gồm: hệ thống hóa lý luận về đào tạo nghề và phát triển nguồn nhân lực nông thôn; phân tích thực trạng cung - cầu lao động và hiệu quả triển khai các đề án đào tạo giai đoạn 2006 - 2011; xây dựng mô hình dự báo nhu cầu đào tạo và đề xuất hệ thống giải pháp phát triển đến năm 2020.

Phạm vi nghiên cứu bao quát toàn bộ 19 xã và 01 thị trấn thuộc huyện Điện Bàn, đặt trong mối liên kết vùng kinh tế trọng điểm miền Trung và Khu công nghiệp Điện Nam - Điện Ngọc. Nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn to lớn khi cung cấp luận cứ khoa học để nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo từ mức 26,22% năm 2006 lên 55% vào năm 2020, hỗ trợ chuyển dịch cơ cấu lao động phi nông nghiệp đạt trên 70% và duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế địa phương đạt trên 20%/năm.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết vốn con người (Human Capital Theory) của Theodore Schultz và Gary Becker, khẳng định việc đầu tư vào kỹ năng nghề cho lao động nông thôn là đòn bẩy trực tiếp gia tăng năng suất lao động xã hội và thu nhập cá nhân. Đồng thời, mô hình chuyển dịch cơ cấu hai khu vực của Arthur Lewis được sử dụng để luận giải quy luật chuyển dịch lao động dư thừa từ nông nghiệp năng suất thấp sang khu vực công nghiệp và dịch vụ hiện đại.

Bên cạnh đó, tác giả chuẩn hóa hệ thống khái niệm cốt lõi: Nguồn lao động nông thôn (công dân từ đủ 15 tuổi trở lên sinh sống tại khu vực nông thôn có khả năng lao động), Nghề (tập hợp các hoạt động lao động chuyên biệt được xã hội phân công), và Đào tạo nghề theo Điều 5 Luật Dạy nghề số 76/2006/QH11 (hoạt động trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp). Quá trình đào tạo được phân định rõ thành đào tạo mới, đào tạo lại và bồi dưỡng nâng cao tay nghề qua 3 cấp trình độ chính quy: sơ cấp nghề, trung cấp nghề và cao đẳng nghề.

Khung thể chế nghiên cứu căn cứ trực tiếp vào Nghị quyết số 26/NQ-TW ngày 05/8/2008 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; Quyết định số 1956/QĐ-TTg ngày 27/11/2009 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án Đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020; Quyết định số 81/2005/QĐ-TTg và Kế hoạch số 1755/KH-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập toàn diện từ Niên giám thống kê tỉnh Quảng Nam (2006 - 2010), báo cáo điều tra lao động - việc làm thường niên của Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện Điện Bàn, cùng các số liệu phát triển doanh nghiệp từ Ban Quản lý Khu công nghiệp Điện Nam - Điện Ngọc. Nguồn dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua khảo sát thực địa bằng phiếu điều tra bán cấu trúc.

Cỡ mẫu khảo sát gồm 450 người lao động nông thôn tại các xã đại diện và 30 doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) cùng doanh nghiệp trong nước đang hoạt động tại 11 cụm công nghiệp trên địa bàn huyện. Phương pháp chọn mẫu áp dụng kỹ thuật chọn mẫu ngẫu nhiên phân tầng kết hợp định ngạch theo ngành nghề (may mặc, cơ khí, du lịch, thủ công mỹ nghệ) và địa bàn cư trú (vùng đồng bằng chuyên canh lúa, vùng ven biển và vùng đô thị hóa).

Phương pháp phân tích chủ đạo là thống kê mô tả, so sánh đối chiếu chỉ số chuỗi thời gian giai đoạn 2006 - 2011 và phân tích hồi quy theo mô hình hệ số co giãn kinh tế giữa tăng trưởng giá trị sản xuất với nhu cầu lao động kỹ thuật. Lý do lựa chọn phương pháp phân tích hệ số co giãn vì công cụ này phản ánh chính xác mức độ biến động của cầu lao động khi quy mô kinh tế địa phương tăng trưởng bình quân 20,37%/năm, tạo tiền đề khoa học cho dự báo đào tạo đến năm 2020. Timeline nghiên cứu được thực hiện xuyên suốt giai đoạn 2006 - 2011 và hoàn thiện báo cáo phân tích năm 2012.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, quy mô lực lượng lao động nông thôn Điện Bàn tăng nhanh từ 118.594 người năm 2006 lên 142.535 người năm 2010 (tăng 120,1%), chiếm gần 60% dân số toàn huyện. Tuy nhiên, chất lượng chuyên môn kỹ thuật cải thiện chậm, tỷ lệ qua đào tạo chỉ tăng từ 26,22% (31.097 người) năm 2006 lên gần 30% (42.752 người) năm 2011. Về học vấn, có tới 40% lao động dừng lại ở trình độ tốt nghiệp trung học cơ sở (56.965 người) và 33% tốt nghiệp tiểu học (48.100 người), chỉ 23% tốt nghiệp trung học phổ thông, gây rào cản lớn khi tiếp thu công nghệ phức tạp.

Thứ hai, cơ cấu lao động chuyển dịch tích cực nhưng mang tính bề nổi. Tỷ trọng lao động nông nghiệp giảm từ 69% năm 2005 xuống 41,23% năm 2010; nhóm công nghiệp - thương mại - dịch vụ tăng lên 58,77%. Dù vậy, trong số lao động đang làm việc tại các doanh nghiệp, có hơn 70% chưa qua đào tạo nghề trước khi tuyển dụng. Hình thức đào tạo tại doanh nghiệp chủ yếu là vừa học vừa làm chiếm gần 90%, trên 90% khóa học kéo dài dưới 6 tháng và 57% công nhân chưa được cấp văn bằng, chứng chỉ chuẩn hóa.

Thứ ba, sự mất cân đối nghiêm trọng giữa cơ cấu cung và cầu đào tạo nghề. Tốc độ tăng cung lao động qua đào tạo đạt 16,3% (khoảng 1.000 người/năm), nhưng cầu tuyển dụng của nền kinh tế địa phương cần tới 3.000 lao động kỹ thuật mỗi năm, dẫn đến thiếu hụt cục bộ 1.000 vị trí phi nông nghiệp. Cụ thể, ngành cơ khí - lắp ráp có nhu cầu tuyển dụng chiếm 41,46% tổng cầu nhưng quy mô đào tạo của các trường chỉ đáp ứng 15,44%; ngành du lịch - khách sạn có nhu cầu 23,8% nhưng năng lực đào tạo chỉ chiếm vỏn vẹn 1,45%.

Thứ tư, thu nhập của lao động qua đào tạo còn thấp và phân hóa sâu sắc. Khảo sát 30 doanh nghiệp FDI cho thấy 46,05% lao động qua đào tạo nhận mức lương dưới 2,5 triệu đồng/tháng, 34,02% đạt từ 2,5 đến dưới 3,5 triệu đồng/tháng. Đáng chú ý, hơn 60% doanh nghiệp khẳng định phải tổ chức đào tạo lại công nhân sau khi tuyển dụng.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của tình trạng thừa - thiếu cục bộ bắt nguồn từ mạng lưới dạy nghề mỏng. Toàn huyện chỉ có 01 Trường Trung cấp nghề Bắc Quảng Nam cùng 02 cơ sở liên kết, cơ sở vật chất lạc hậu và thiếu giáo viên thực hành trình độ cao. Bên cạnh đó, công tác quản lý nhà nước cấp huyện chưa có cán bộ chuyên trách theo dõi mảng dạy nghề. Sự đứt gãy thông tin thị trường lao động diễn ra phổ biến khi 85% người lao động muốn học nghề nhưng hoàn toàn thiếu thông tin tuyển sinh, và 80% không nắm được chính sách hỗ trợ kinh phí từ Đề án 1956 hay nguồn khuyến công. Tâm lý thích làm thầy hơn làm thợ vẫn tồn tại nặng nề trong nhận thức người dân.

So sánh với các nghiên cứu tiền nhiệm khi thực hiện Quyết định 81/2005/QĐ-TTg và kinh nghiệm của Nhật Bản, Hàn Quốc, kết quả cho thấy việc thiếu cơ chế bắt buộc doanh nghiệp tham gia vào quy trình đào tạo đã làm giảm giá trị của văn bằng nghề. Khi cơ sở đào tạo chỉ cung cấp những gì mình có thay vì cái thị trường cần, nguồn lực xã hội sẽ bị lãng phí.

Các số liệu phân tích trong luận văn có thể được trực quan hóa sinh động qua biểu đồ cột kép so sánh tỷ trọng cung - cầu lao động theo ngành (cơ khí 41,46% cầu so với 15,44% cung; du lịch 23,8% cầu so với 1,45% cung) và bảng ma trận đối chiếu mức thu nhập theo nhóm ngành, giúp các nhà quản trị nhận diện rõ nét khoảng cách thực tế giữa đào tạo và sử dụng lao động.

Đề xuất và khuyến nghị

  • Nâng cấp cơ sở vật chất và chuẩn hóa mạng lưới cơ sở đào tạo nghề: Ủy ban nhân dân huyện Điện Bàn phối hợp Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Quảng Nam thực hiện giai đoạn 2012 - 2015. Mục tiêu đầu tư mở rộng Trường Trung cấp nghề Bắc Quảng Nam, trang bị 02 xưởng thực hành công nghệ cơ khí - điện tử hiện đại, nâng quy mô đào tạo lên 2.500 học viên/năm và đảm bảo 100% giáo viên đạt chuẩn kỹ năng nghề bậc cao.
  • Xây dựng cơ chế hợp tác ba bên giữa Nhà nước, Cơ sở đào tạo và Doanh nghiệp: Ban Quản lý Khu công nghiệp Điện Nam - Điện Ngọc phối hợp Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội triển khai từ năm 2013 đến 2020. Mục tiêu thiết lập hợp đồng đào tạo theo đơn đặt hàng với tối thiểu 50 doanh nghiệp trên địa bàn, cam kết trên 85% học viên tốt nghiệp được tuyển dụng đúng chuyên môn với mức thu nhập khởi điểm đạt từ 4,5 triệu đồng/tháng trở lên.
  • Đổi mới chương trình đào tạo và linh hoạt hóa phương thức dạy nghề lưu động: Trung tâm học tập cộng đồng và Hội Nông dân 19 xã, thị trấn chủ trì thực hiện thường niên giai đoạn 2012 - 2020. Mục tiêu xây dựng 15 giáo trình ngắn hạn thích ứng theo mùa vụ nông nghiệp và công nghệ sản xuất mới, tăng tỷ lệ tiếp cận thông tin học nghề của lao động nông thôn từ mức 15% hiện tại lên trên 90%.
  • Mở rộng gói tín dụng ưu đãi và trợ cấp học nghề cho lao động diện thu hồi đất: Chi nhánh Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện phối hợp Ủy ban nhân dân các xã triển khai giai đoạn 2013 - 2018. Mục tiêu hỗ trợ 100% học phí và trợ cấp sinh hoạt cho 40% lao động nông thôn gặp khó khăn tài chính, phấn đấu nâng tỷ lệ hộ gia đình thoát nghèo sau khi học nghề đạt tối thiểu 25%/năm.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

  • Cơ quan quản lý nhà nước và hoạch định chính sách cấp tỉnh, huyện (Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Ủy ban nhân dân huyện Điện Bàn): Sử dụng luận cứ khoa học và mô hình co giãn để xây dựng quy hoạch phát triển nhân lực, ban hành cơ chế hỗ trợ đào tạo nghề cho lao động mất đất sản xuất.
  • Ban giám hiệu và cán bộ quản lý tại các cơ sở giáo dục nghề nghiệp: Ứng dụng khung phân tích cung - cầu để tái cấu trúc danh mục ngành nghề, mở rộng đào tạo ngành cơ khí chế tạo và du lịch dịch vụ theo sát nhu cầu của 37 doanh nghiệp trong khu công nghiệp.
  • Doanh nghiệp, hợp tác xã và các cơ sở sản xuất kinh doanh: Tham khảo mô hình đào tạo kèm cặp tại nơi làm việc và quy trình phối hợp tuyển dụng, nhằm tối ưu hóa chi phí đào tạo lại hiện đang chiếm tỷ trọng lớn trong ngân sách vận hành.
  • Học viên cao học, nghiên cứu sinh chuyên ngành Quản lý kinh tế và Kinh tế lao động: Khai thác phương pháp kết hợp dữ liệu thống kê chuỗi thời gian với điều tra xã hội học thực địa, làm tài liệu tham khảo cho các đề tài phát triển nhân lực địa phương.

Câu hỏi thường gặp

  • Tại sao huyện Điện Bàn phải cấp thiết đẩy mạnh đào tạo nghề cho lao động nông thôn giai đoạn 2006 - 2020? Tốc độ tăng trưởng kinh tế huyện Điện Bàn đạt 20,37%/năm với công nghiệp chiếm 75,2%, kéo theo đô thị hóa làm thu hẹp đất canh tác. Trong khi đó, tỷ lệ lao động qua đào tạo chỉ đạt gần 30%, buộc địa phương phải đào tạo nghề nhằm dịch chuyển 41,23% lao động nông nghiệp sang phi nông nghiệp để đảm bảo tiêu chí nâng cấp lên thị xã năm 2015.

  • Đâu là điểm nghẽn lớn nhất trong cán cân cung - cầu lao động kỹ thuật tại địa phương? Điểm nghẽn lớn nhất là sự lệch pha cơ cấu đào tạo. Doanh nghiệp cần 41,46% lao động cơ khí và 23,8% dịch vụ du lịch, nhưng cơ sở đào tạo chỉ cung ứng lần lượt 15,44% và 1,45%. Hệ quả là thị trường thiếu hụt 1.000 thợ kỹ thuật mỗi năm, khiến hơn 70% lao động tuyển dụng mới chưa có tay nghề chuẩn.

  • Mô hình đào tạo nghề nào mang lại hiệu quả cao nhất cho nhóm lao động thuần nông? Mô hình đào tạo nghề lưu động kết hợp hướng dẫn trực tiếp tại đồng ruộng theo chu kỳ sinh trưởng cây trồng, vật nuôi mang lại hiệu quả cao nhất. Kết quả đánh giá cho thấy nhóm học nghề nông nghiệp có tỷ lệ làm đúng nghề đạt tới 95%, giúp nâng cao năng suất và giữ ổn định sinh kế nông thôn.

  • Đề án 1956 đã tạo ra những tác động thực tế nào đối với phát triển kinh tế - xã hội? Trên phạm vi cả nước, đề án hỗ trợ đào tạo cho 345.140 lao động từ ngân sách, đạt tỷ lệ có việc làm 70%. Tại Điện Bàn, chính sách đã hỗ trợ 5.913 lao động có việc làm ổn định, nâng tỷ trọng lao động thương mại - dịch vụ - công nghiệp lên 58,77% vào năm 2010.

  • Giải pháp nào giúp doanh nghiệp giảm thiểu tỷ lệ 60% công nhân phải đào tạo lại sau tuyển dụng? Doanh nghiệp cần chủ động tham gia xây dựng chuẩn đầu ra và đặt hàng đào tạo trực tiếp với các trường trung cấp nghề. Việc tiếp nhận học viên thực tập từ năm thứ nhất và tài trợ trang thiết bị dạy học sẽ giúp lao động nắm vững quy trình công nghệ, giảm thời gian thử việc xuống dưới 01 tháng.

Kết luận

  • Khẳng định đào tạo nghề là đòn bẩy quyết định thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động từ 69% nông nghiệp năm 2005 xuống còn 41,23% năm 2010 tại huyện Điện Bàn.
  • Nhận diện rõ rào cản chất lượng nguồn nhân lực khi có tới hơn 70% lao động tuyển dụng vào doanh nghiệp chưa qua đào tạo và tình trạng lệch pha cung - cầu ngành cơ khí, du lịch.
  • Xây dựng hoàn chỉnh mô hình dự báo nhu cầu đào tạo nghề dựa trên hệ số co giãn kinh tế, phục vụ mục tiêu đạt 55% lao động qua đào tạo vào năm 2020.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp mang tính hành động cao, gắn kết chặt chẽ giữa Nhà nước, Cơ sở dạy nghề và Doanh nghiệp.
  • Thiết lập lộ trình triển khai chi tiết: giai đoạn 2012 - 2015 tập trung hoàn thiện cơ sở vật chất, giai đoạn 2016 - 2020 bứt phá về liên kết đào tạo theo đơn đặt hàng.

Luận văn đóng góp hệ thống dữ liệu thực chứng tin cậy và khung giải pháp toàn diện cho công tác phát triển nhân lực nông thôn cấp huyện trong bối cảnh công nghiệp hóa. Các cơ quan quản lý và cơ sở đào tạo cần khẩn trương áp dụng các khuyến nghị của đề tài để tối ưu hóa nguồn lực lao động địa phương ngay hôm nay.