Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp ngành Công nghệ Vật liệu tại Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh của sinh viên Nguyễn Quang Ninh, do TS. Trần Thanh Tâm hướng dẫn, tập trung vào việc nghiên cứu và chế tạo vật liệu composite trên cơ sở kết hợp giữa sơn gốc nước và bã cà phê đã qua sử dụng (Spent Coffee Grounds - SCG).

Bối cảnh thực tiễn của nghiên cứu xuất phát từ sự gia tăng nhanh chóng trong sản xuất và tiêu thụ cà phê tại Việt Nam cũng như trên quy mô toàn cầu:

  • Theo dữ liệu từ Hiệp hội Cà phê và Ca cao Việt Nam (VICOFA), mức tiêu thụ cà phê bình quân đầu người tại Việt Nam đã tăng từ 1,8 kg/người/năm (năm 2015) lên gần 3 kg/người/năm (năm 2023), với dự báo tốc độ tăng trưởng nội địa bình quân đạt khoảng 6,6%/năm trong giai đoạn 2025–2030.
  • Năm 2022, sản lượng cà phê của Việt Nam đạt vị trí thứ hai thế giới và đứng đầu về cà phê Robusta, với khối lượng xuất khẩu 1,77 triệu tấn và tiêu dùng nội địa trên 196.000 tấn. Quá trình chế biến và sử dụng tạo ra lượng bã cà phê chiếm khoảng 45% trọng lượng hạt, tương đương lượng bã cà phê sinh ra tại Việt Nam ước tính gần 88.500 tấn mỗi năm.
  • Trên thế giới, mỗi ngày có hơn 2,25 tỷ cốc cà phê được tiêu thụ (riêng Vương quốc Anh chiếm khoảng 98 triệu cốc). Ước tính với trung bình 11 gram bã cà phê tươi trên mỗi cốc, lượng phế phẩm bã cà phê ướt phát sinh hàng ngày trên toàn cầu lên tới gần 18 triệu tấn. Ngoài ra, cứ 1 kg cà phê hòa tan sản xuất ra sẽ thải bỏ khoảng 2 kg bã cà phê ướt.
  • Vấn đề môi trường và xử lý chất thải: Hiện nay chỉ có khoảng 25% lượng bã cà phê được tái chế làm phân bón hữu cơ, phần lớn còn lại bị đưa ra các bãi chôn lấp hoặc xử lý bằng phương pháp đốt. Khi chôn lấp yếm khí, mỗi tấn bã cà phê phân hủy sinh ra khoảng 340 m³ khí metan (CH₄) – loại khí có khả năng làm tăng nhiệt độ toàn cầu cao gấp 86 lần so với khí cacbonic (CO₂). Khi xử lý bằng phương pháp đốt cháy với đơn giá xử lý rác khoảng 475 đồng/kg (số liệu tại khu vực TP. Hồ Chí Minh), quá trình này không chỉ tiêu tốn kinh phí lớn mà còn phát thải khí CO₂ cùng các hợp chất furan và dioxin gây độc hại cho đường hô hấp và sức khỏe con người.

Mục tiêu nghiên cứu được xác định cụ thể gồm:

  1. Đề xuất quy trình xử lý bã cà phê phế thải từ các cửa hàng thành nguyên liệu bột đạt tiêu chuẩn phối trộn.
  2. Nghiên cứu cấu trúc, thành phần và kích thước hạt của bã cà phê sau khi xử lý.
  3. Nghiên cứu ảnh hưởng của phần trăm khối lượng sơn và khối lượng bã cà phê đến các tính chất của màng sản phẩm, từ đó đề xuất tỷ lệ phối trộn thích hợp để cải tiến vật liệu composite từ sơn gốc nước và bã cà phê tái chế.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Bã cà phê phế thải đã qua sử dụng và hệ sơn phủ gốc nước một thành phần (thương phẩm OneCoat 247).
  • Phạm vi không gian thu thập mẫu: Bã cà phê được thu gom tại các quán cà phê quanh khu vực Ký túc xá Khu B – Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh (Làng Đại học Thủ Đức).
  • Phạm vi thử nghiệm: Khảo sát thực nghiệm được thực hiện tại các phòng thí nghiệm thuộc Khoa Khoa học Ứng dụng (Trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TP. Hồ Chí Minh), Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường TP. Hồ Chí Minh và các đơn vị kiểm định chuyên ngành tại TP. Hồ Chí Minh.
  • Phạm vi thời gian: Khóa luận được giao nhiệm vụ từ ngày 06/03/2024 và bảo vệ vào tháng 06/2025.
  • Các sản phẩm dự kiến của đề tài: Màng composite tự do từ sơn gốc nước và bã cà phê; tấm xi măng mác 100 (MAC 100) được phủ lớp màng composite từ sơn gốc nước và bã cà phê.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý thuyết dựa trên đặc tính nông học, hóa sinh của cây cà phê và các thành phần hóa học của hệ sơn phân tán trong nước:

  • Phân loại thực vật: Cây cà phê thuộc họ Thiến thảo (Rubiaceae), chi Coffea. Tại Việt Nam, giống cà phê Robusta (Coffea canephora) chiếm tỷ trọng chủ đạo với 92,9% tổng diện tích gieo trồng; giống Arabica chiếm dưới 5%, còn lại là giống Excelsa. Năng suất cà phê trung bình của Việt Nam đạt 2,3 tấn/ha, nhiều khu vực canh tác đạt trên 3,5 tấn/ha.
  • Thành phần hóa học của bã cà phê (SCG): Bã cà phê chứa thành phần sinh khối bao gồm độ ẩm (1,70%), lignin không hòa tan (17,46%) và tổng chất xơ không hòa tan (50,70%). Phân tích chi tiết thành phần cho thấy bã cà phê gồm:
    • Cellulose (15,29% – 17,04%): Là homopolysaccharide mạch thẳng cấu tạo từ các đơn vị D-glucopyranose liên kết bằng liên kết $\beta$-1,4-glycosid, tạo thành các vi sợi (microfibril) nhờ liên kết hydro nội và liên phân tử.
    • Hemicellulose: Chiếm 11,04%, là polymer dị thể phân nhánh chứa các gốc pentose (D-xylose, D-arabinose) và hexose (D-mannose, D-glucose), có mức độ trùng hợp thấp (100–200) và tồn tại ở dạng gel vô định hình.
    • Lignin (22% – 25% ở dạng phức chất tổng thể): Mạng polymer polyphenolic không gian 3 chiều không chứa carbohydrate, cấu thành từ ba loại monolignol gồm rượu p-coumaryl, coniferyl và sinapyl, cung cấp độ cứng và độ bền nén cho cấu trúc tế bào.
    • Pectin (52,62% – 55,14%), protein (~10%) và hàm lượng carbon trên 50%.
    • Các hợp chất có hoạt tính sinh học: Chứa caffeine và diterpene có tác dụng chống oxy hóa và xua đuổi côn trùng tự nhiên.
  • Hệ sơn phủ nền polymer: Đề tài sử dụng sơn nhũ tương gốc nước một thành phần OneCoat 247. Thành phần định lượng của sơn gồm:
    • Nhựa acrylic hoặc styrene-acrylic (20% – 25%): Đóng vai trò chất tạo màng (film former) quyết định độ bám dính, độ bền uốn và tính chịu thời tiết.
    • Chất tạo màu/bột màu (2% – 10%): Tạo độ phủ và màu sắc.
    • Chất độn vô cơ như $\text{CaCO}_3$, talc hoặc silica (30% – 40%): Kiểm soát độ nhớt, làm giảm giá thành và hỗ trợ độ mịn bề mặt.
    • Phụ gia chức năng (1% – 5%): Bao gồm chất phân tán, chất phá bọt, chất làm dày, chất ổn định pH và bảo quản.
    • Nước (20% – 30%): Môi trường phân tán bay hơi tạo màng sau khi thi công.

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm và trang thiết bị sử dụng:

  • Xử lý cơ lý mẫu bã cà phê: Thu gom, rửa nước tách rác cơ học, phơi nắng sơ bộ, sấy tủ sấy ở nhiệt độ 70°C trong 30 phút, nghiền bi bằng máy Tencan và rây cơ học qua rây tiêu chuẩn có kích thước mắt lưới 0,075 mm.
  • Phối trộn vật liệu composite: Phối trộn cơ học giữa sơn OneCoat 247 và bột bã cà phê sau rây theo các tỷ lệ khối lượng xác định (M0, M1, M2, M3, M4).
  • Phương pháp phân tích hình thái và vi cấu trúc:
    • Kính hiển vi quang học (OM): Sử dụng thiết bị Nikon Labophot 2 tại Trường Đại học Tài nguyên và Môi trường TP. Hồ Chí Minh để quan sát sự phân bố hạt bã cà phê và bề mặt màng.
    • Kính hiển vi điện tử quét (SEM): Sử dụng thiết bị SEM Prisma E (Thermo Scientific) để khảo sát bề mặt gãy và tương tác pha ở độ phóng đại cao.
  • Phương pháp phổ nghiệm:
    • Quang phổ hồng ngoại biến đổi Fourier (FTIR): Sử dụng máy đo FTIR Bruker Alpha II (tại Phòng E31, số 40 Bà Huyện Thanh Quan, Quận 3, TP. Hồ Chí Minh) quét ở vùng số sóng từ 4000 cm⁻¹ đến 400 cm⁻¹, độ phân giải 4 cm⁻¹, số lần quét từ 8 đến 128 lần để xác định các nhóm chức hóa học của bã cà phê và các mẫu màng sơn composite.
  • Phương pháp kiểm tra cơ tính:
    • Đo độ bền kéo và độ biến dạng theo tiêu chuẩn ASTM D2370 bằng máy kéo nén IMADA MX-500N (tại Công ty TNHH TM&DV Công nghệ H2C, Quận Tân Phú, TP. Hồ Chí Minh). Thử nghiệm trên màng sơn tự do có kích thước cắt dài 63 mm, khoảng cách ngàm kẹp 25 mm và tốc độ kéo duy trì 100 mm/phút ở nhiệt độ phòng.
  • Phương pháp thử nghiệm độ bền môi trường trên đế xi măng MAC 100:
    • Đánh giá khả năng tích bụi/bám bụi của màng sơn trên đế vữa xi măng bằng phương pháp quang học.
    • Đánh giá độ bền rửa trôi theo tiêu chuẩn TCVN 8653-4:2012.
    • Đánh giá độ bền chịu môi trường kiềm theo tiêu chuẩn TCVN 8653-3:2012 sử dụng dung dịch kiềm Sodium hydroxide (NaOH).
    • Đánh giá khả năng chịu môi trường acid sử dụng dung dịch Sulfuric acid ($\text{H}_2\text{SO}_4$).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Giới thiệu

Chương này tập trung trình bày tính cấp thiết của đề tài và tổng quan các công trình nghiên cứu về tái chế bã cà phê trong và ngoài nước. Tác giả chỉ ra rằng áp lực giảm thiểu ô nhiễm và khí nhà kính đang thúc đẩy các ứng dụng bã cà phê như:

  • Tái chế bã cà phê làm vật liệu xây dựng, gạch lát nền hai lớp đậm đặc/xốp đạt tiêu chuẩn ISO 13006 (Nhóm BIb) và cốt liệu gốm sét nhẹ (LWA).
  • Sử dụng làm giá thể ủ phân trùn quế kết hợp phân bò và bã cà phê theo tỷ lệ 30:70.
  • Sản xuất than sinh học xúc tác cho phản ứng đồng phân hóa glucose thành fructose hoặc nhiệt phân sinh khí tổng hợp.
  • Tách chiết các hợp chất tự nhiên (caffeine, tannin, polyphenol) và ứng dụng than bã cà phê để hấp phụ kim loại nặng, xử lý độ màu và nhu cầu oxy hóa học (COD) trong nước thải dệt nhuộm. Từ đó, tác giả xác định hướng nghiên cứu đưa bã cà phê vào làm chất phụ gia/chất độn phân tán trong sơn gốc nước để tạo ra lớp màng phủ có tính năng bảo vệ, tận dụng mùi thơm tự nhiên và khả năng xua đuổi côn trùng.

Chương 2: Cơ sở lý thuyết

Chương 2 cung cấp hệ thống dữ liệu chi tiết về lịch sử phát triển, vùng trồng cà phê trên thế giới và tại Việt Nam, đặc điểm sinh trưởng của các giống Robusta, Arabica, Excelsa. Tác giả phân tích cấu trúc hóa học của các đại phân tử trong thành tế bào bã cà phê gồm cellulose (chuỗi liên kết $\beta$-1,4-glycosid), hemicellulose (chuỗi polymer dị thể xylan, mannan) và lignin (cấu trúc polymer thơm phức tạp liên kết chéo).

Bên cạnh đó, chương này phân loại các hệ sơn theo chất tạo màng (alkyd, acrylic, polyurethane, epoxy), dung môi (dung môi hữu cơ hoặc nước) và số thành phần (sơn 1, 2 và 3 thành phần). Điểm nhấn chính của chương là việc giới thiệu chi tiết cấu tạo của loại sơn thương mại OneCoat 247 – một loại sơn nhũ tương acrylic/styrene-acrylic gốc nước một thành phần, nêu rõ tỷ lệ các hợp phần cấu tạo (nhựa 20–25%, bột màu 2–10%, chất độn 30–40%, phụ gia 1–5% và nước 20–30%) để làm cơ sở cho các tính toán pha nền trong quy trình phối trộn composite.

Chương 3: Quy trình thực nghiệm

Chương 3 trình bày danh mục thiết bị, dụng cụ, hóa chất cùng các bước chế tạo và kiểm nghiệm mẫu. Quy trình thực nghiệm bao gồm:

  1. Quy trình xử lý bã cà phê gồm 6 bước liên hoàn:
    • Bước 1: Xử lý sơ bộ loại bỏ tạp chất lớn nhìn thấy bằng mắt thường từ nguồn bã cà phê thu gom tại Ký túc xá Khu B - ĐHQG TP.HCM.
    • Bước 2: Rửa sạch bằng nước nhằm lắng cặn bẩn và gạn tách bã sạch.
    • Bước 3: Phơi khô sơ cấp dưới ánh nắng mặt trời nhằm hạ độ ẩm ban đầu, tránh ẩm mốc.
    • Bước 4: Sấy khô trong tủ sấy Memmert ở nhiệt độ cố định 70°C trong 30 phút để loại bỏ hoàn toàn độ ẩm tồn dư.
    • Bước 5: Nghiền mịn bã cà phê khô bằng máy nghiền bi Tencan.
    • Bước 6: Sàng lọc qua rây tiêu chuẩn mắt lưới 0,075 mm, thu nhận phần bột bã cà phê có cỡ hạt dưới 0,075 mm để đưa vào sản xuất màng sơn.
  2. Quy trình phối trộn tạo màng composite: Phối trộn bột bã cà phê và sơn OneCoat 247 theo các tỷ lệ phần trăm khối lượng: mẫu đối chứng M0 (100% sơn, 0% bã cà phê), mẫu M1 (95% sơn, 5% bã cà phê), mẫu M2 (92,5% sơn, 7,5% bã cà phê), cùng các tỷ lệ phối trộn tiếp theo của mẫu M3 và M4.
  3. Thiết lập các phương pháp đo đạc:
    • Đo phổ hồng ngoại FTIR trên máy Bruker Alpha II.
    • Quan sát vi cấu trúc bằng kính hiển vi quang học Nikon Labophot 2 và kính hiển vi điện tử quét SEM Prisma E.
    • Thử nghiệm độ bền kéo trên máy IMADA MX-500N theo chuẩn ASTM D2370 với mẫu màng sơn tự do dài 63 mm, khoảng cách ngàm 25 mm, tốc độ 100 mm/phút.
    • Đánh giá khả năng tích bụi, độ bền rửa trôi theo tiêu chuẩn TCVN 8653-4:2012, độ chịu kiềm theo TCVN 8653-3:2012 (dùng dung dịch NaOH) và độ chịu acid (dùng dung dịch $\text{H}_2\text{SO}_4$) trên các tấm đế xi măng MAC 100.

Chương 4: Kết quả và thảo luận

Chương 4 công bố toàn bộ dữ liệu đo đạc và thảo luận chuyên sâu:

  • Kết quả xử lý bã cà phê: Hình ảnh hiển vi quang học và phép đo kích thước hạt xác nhận bột bã cà phê sau khi qua máy nghiền bi và rây sàng lọc đạt độ đồng đều với kích thước hạt dưới 0,075 mm. Phổ FTIR của bã cà phê sau xử lý thể hiện rõ các mũi dao động đặc trưng của liên kết hydroxyl (-OH), liên kết C-H béo, liên kết cacbonyl (C=O) và khung vòng thơm của lignin.
  • Đánh giá ngoại quan và vi cấu trúc màng sơn: Các mẫu composite từ M0 đến M4 sau khi đóng rắn tạo thành màng liên tục. Khi quan sát dưới kính hiển vi quang học và ảnh chụp SEM (mẫu M2, M3), các hạt bã cà phê phân tán đều trong pha nền polymer acrylic. Tuy nhiên, khi tăng hàm lượng bã cà phê, xuất hiện hiện tượng tích tụ cục bộ của các hạt sinh khối.
  • Phân tích phổ hồng ngoại FTIR của các mẫu màng sơn: Phổ FTIR của các mẫu M1, M2, M3, M4 khi đối chiếu với mẫu nền trắng M0 cho thấy sự kết hợp các mũi dao động đặc trưng của nhựa nền acrylic và các nhóm chức hữu cơ của bã cà phê mà không xuất hiện các liên kết hóa học phá hủy cấu trúc nền.
  • Đánh giá cơ tính màng sơn: Đường cong ứng suất – biến dạng của các nhóm mẫu (M0-1,2,3; M1-1,2,3; M2-1,2,3; M3-1,2; M4-1,2,3) phản ánh sự thay đổi rõ rệt về độ bền kéo đứt và độ giãn dài tương đối của màng composite khi thay đổi tỷ lệ phối trộn bã cà phê.
  • Đánh giá độ bền màng sơn phủ trên đế xi măng MAC 100:
    • Thử nghiệm độ tích bụi: Quan sát màng trước và sau khi bám bụi xác định khả năng giữ bề mặt của các tỷ lệ phối trộn khác nhau.
    • Thử nghiệm độ bền rửa trôi (TCVN 8653-4:2012): Màng sơn duy trì độ bám dính tốt trên đế xi măng sau các chu kỳ cọ rửa.
    • Thử nghiệm độ chịu kiềm (TCVN 8653-3:2012) và độ chịu acid: Hình ảnh hiển vi màng sơn sau khi ngâm trong dung dịch kiềm NaOH và dung dịch acid $\text{H}_2\text{SO}_4$ cho thấy màng sơn vẫn giữ được độ liên tục, không bị phồng rộp hay bong tróc nghiêm trọng ở tỷ lệ phối trộn thích hợp.

Kết luận và kiến nghị

Tác giả đúc kết khả năng chế tạo vật liệu composite từ sơn gốc nước và bã cà phê với quy trình công nghệ đơn giản, chi phí nguyên liệu thấp và thân thiện với môi trường. Đồng thời, kiến nghị tiếp tục mở rộng phân tích các chỉ tiêu cơ lý tính chuyên sâu khác của màng sơn.

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu đã cung cấp số liệu thực nghiệm về các thông số công nghệ chế tạo và đánh giá đặc tính của màng composite sơn gốc nước gia cường bột bã cà phê:

Thông số / Chỉ tiêu kiểm tra Điều kiện / Tiêu chuẩn áp dụng Giá trị / Kết quả ghi nhận trong văn bản
Nguồn gốc bã cà phê thu gom Khu vực Làng Đại học Thủ Đức, TP.HCM Bã cà phê phế thải qua sử dụng (SCG)
Chế độ sấy bã cà phê Tủ sấy Memmert Nhiệt độ 70°C, thời gian 30 phút
Cỡ hạt bã cà phê sau rây Rây cơ học tiêu chuẩn Kích thước hạt nhỏ hơn 0,075 mm
Tỷ lệ sơn / bã cà phê mẫu M0 Khối lượng (wt%) 100 wt% sơn / 0 wt% bã cà phê
Tỷ lệ sơn / bã cà phê mẫu M1 Khối lượng (wt%) 95 wt% sơn / 5 wt% bã cà phê
Tỷ lệ sơn / bã cà phê mẫu M2 Khối lượng (wt%) 92,5 wt% sơn / 7,5 wt% bã cà phê
Dải đo phổ hồng ngoại FTIR Thiết bị Bruker Alpha II 4000 cm⁻¹ – 400 cm⁻¹, độ phân giải 4 cm⁻¹
Kiểm tra độ bền kéo đứt Tiêu chuẩn ASTM D2370 (Máy IMADA MX-500N) Kích thước mẫu: dài 63 mm, ngàm 25 mm, tốc độ 100 mm/phút
Độ bền rửa trôi trên xi măng Tiêu chuẩn TCVN 8653-4:2012 Thử nghiệm trên đế tấm xi măng MAC 100
Độ bền môi trường kiềm Tiêu chuẩn TCVN 8653-3:2012 Đánh giá bằng dung dịch kiềm NaOH trên đế xi măng
Khả năng chịu môi trường acid Thử nghiệm hóa chất chuyên biệt Đánh giá bằng dung dịch acid $\text{H}_2\text{SO}_4$ trên đế xi măng

Kết quả chính của nghiên cứu:

  • Xây dựng thành công quy trình xử lý bã cà phê 6 bước (xử lý sơ bộ, rửa sạch, phơi khô, sấy ở 70°C trong 30 phút, nghiền bi, sàng qua rây 0,075 mm) tạo ra nguồn hạt phụ gia phân tán đồng đều.
  • Xác định được màng composite phối trộn bột bã cà phê vào hệ sơn gốc nước nhũ tương acrylic OneCoat 247 có khả năng đóng rắn tạo màng tốt, bám dính chắc chắn trên bề mặt đế xi măng MAC 100.
  • Kết quả kiểm tra độ bền hóa lý theo các tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN 8653-4:2012 về độ bền rửa trôi, TCVN 8653-3:2012 về độ chịu kiềm) và khả năng chịu acid ($\text{H}_2\text{SO}_4$) chứng minh màng composite duy trì được tính ổn định bề mặt, không bị bong tróc hay suy giảm cấu trúc ở các tỷ lệ phối trộn khảo sát.
  • Màng sơn giữ lại được hương thơm tự nhiên của bã cà phê, đồng thời tận dụng thành phần caffeine và diterpene vốn có trong bã cà phê để gia tăng tính năng xua đuổi côn trùng cho lớp phủ hoàn thiện.

Giải pháp và đóng góp của đề tài:

  • Đề xuất một giải pháp tái chế chất thải rắn hữu cơ phát thải từ chuỗi tiêu thụ cà phê tại chỗ thành nguyên liệu phụ gia cho ngành sản xuất sơn phủ xây dựng.
  • Quy trình chế tạo đơn giản, sử dụng các thiết bị gia công phổ thông (máy nghiền bi, rây, máy khuấy phân tán), giúp giảm chi phí xử lý rác thải sinh hoạt và giảm giá thành nguyên liệu sơn nhờ thay thế một phần chất độn vô cơ bằng bột bã cà phê sinh học.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của nghiên cứu:

  • Phạm vi khảo sát nguồn nguyên liệu bã cà phê mới chỉ thu thập tập trung tại các quán cà phê cục bộ trong khu vực Ký túc xá Khu B - Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, chưa đánh giá sự sai khác về thành phần hóa sinh giữa các nguồn bã cà phê từ nhiều phương pháp pha chế hay giống cà phê khác nhau.
  • Theo nhận xét chính thức từ Giảng viên hướng dẫn (TS. Trần Thanh Tâm), nghiên cứu vẫn còn khuyết điểm là cần phân tích bổ sung thêm một số đặc tính lý học khác của màng composite (như độ thấm hơi nước, độ bóng, độ cứng bề mặt màng hoặc độ bền va đập).
  • Thử nghiệm độ bền môi trường (kiềm, acid, rửa trôi) mới được đánh giá bằng phương pháp quan sát ngoại quan và hiển vi quang học trong điều kiện phòng thí nghiệm ngắn hạn, chưa có dữ liệu thử nghiệm phơi mẫu ngoài trời dài hạn.

Hướng nghiên cứu mở rộng được đề xuất:

  • Khảo sát chuyên sâu hơn về các chỉ tiêu vật lý và cơ lý bổ sung của màng sơn theo các bộ tiêu chuẩn thử nghiệm sơn xây dựng.
  • Thử nghiệm định lượng khả năng xua đuổi côn trùng và hoạt tính kháng nấm mốc thực tế của lớp màng phủ trong các điều kiện môi trường thực tế khác nhau.
  • Nghiên cứu xử lý biến tính hóa học bề mặt hạt bã cà phê (như kiềm hóa hoặc dùng chất ghép đôi silane) để nâng cao độ phân tán và lực liên kết liên diện giữa hạt độn sinh học và nền polymer acrylic.

Giá trị tham khảo

Tài liệu khóa luận tốt nghiệp này mang lại giá trị tham khảo chuyên môn cho các đối tượng:

  • Sinh viên, học viên chuyên ngành Công nghệ Vật liệu, Kỹ thuật Hóa học và Kỹ thuật Môi trường có nhu cầu tìm hiểu các phương pháp tái chế sinh khối rắn hữu cơ (biomass) làm chất độn sinh học gia cường cho nền polymer.
  • Các kỹ sư, nhà nghiên cứu tại các phòng phát triển sản phẩm (R&D) thuộc các doanh nghiệp sản xuất sơn nước, lớp phủ bảo vệ bề mặt và vật liệu xây dựng thân thiện môi trường.

Các nội dung và dữ liệu thực nghiệm có giá trị tham khảo cao nhất bao gồm:

  • Quy trình công nghệ 6 bước chi tiết dùng để xử lý, làm sạch, sấy khô và nghiền mịn bã cà phê về cỡ hạt dưới 0,075 mm.
  • Phương pháp và quy trình đo cơ tính màng sơn tự do theo chuẩn ASTM D2370 trên máy IMADA MX-500N (các thông số cắt mẫu, cữ kẹp 25 mm, vận tốc kéo 100 mm/phút).
  • Phương pháp thực nghiệm và đánh giá độ bền rửa trôi (TCVN 8653-4:2012), độ chịu kiềm (TCVN 8653-3:2012) và độ chịu acid trên tấm đế xi măng mác 100.

Câu hỏi thường gặp

1. Sơn nền được tác giả sử dụng để tạo composite là loại nào và có thành phần ra sao?
Khóa luận sử dụng sơn OneCoat 247, là loại sơn nhũ tương gốc nước một thành phần. Thành phần chính của sơn bao gồm: nhựa acrylic hoặc styrene-acrylic (20% – 25%), chất tạo màu (2% – 10%), chất độn vô cơ $\text{CaCO}_3$/talc/silica (30% – 40%), phụ gia chức năng phân tán, phá bọt, làm dày (1% – 5%) và nước (20% – 30%).

2. Quy trình xử lý bã cà phê phế thải trước khi phối trộn sơn gồm các bước nào?
Quy trình gồm 6 bước: (1) Xử lý sơ bộ loại bỏ rác bẩn thô; (2) Rửa sạch với nước và lắng cặn; (3) Phơi khô sơ cấp trực tiếp dưới ánh nắng mặt trời; (4) Sấy khô trong tủ sấy ở nhiệt độ 70°C trong vòng 30 phút; (5) Nghiền nhỏ bằng máy nghiền bi; (6) Rây phân loại qua rây tiêu chuẩn mắt lưới 0,075 mm để thu bột có kích thước hạt dưới 0,075 mm.

3. Khảo sát cơ tính kéo của màng composite được tiến hành theo tiêu chuẩn nào với các thông số thử nghiệm gì?
Thử nghiệm đo cơ tính kéo được thực hiện theo tiêu chuẩn ASTM D2370 trên máy thử độ bền kéo IMADA MX-500N ở nhiệt độ phòng. Kích thước mẫu màng tự do có chiều dài tổng thể 63 mm, chiều rộng từ 13 đến 25 mm, khoảng cách đo giữa hai ngàm kẹp là 25 mm và vận tốc kéo đứt được cài đặt cố định là 100 mm/phút.

4. Khóa luận sử dụng những tiêu chuẩn nào để đánh giá độ bền của màng sơn trên đế vữa xi măng?
Tác giả sử dụng đế thử nghiệm là tấm xi măng MAC 100 và áp dụng tiêu chuẩn TCVN 8653-4:2012 để đánh giá độ bền rửa trôi, tiêu chuẩn TCVN 8653-3:2012 để đánh giá độ bền trong môi trường kiềm (dung dịch NaOH), cùng thử nghiệm đánh giá độ bền ăn mòn trong môi trường acid (dung dịch $\text{H}_2\text{SO}_4$).

5. Hoạt chất sinh học nào trong bã cà phê được kỳ vọng mang lại tính năng đặc thù cho màng sơn?
Hai hợp chất tự nhiên chính trong bã cà phê được nghiên cứu chỉ ra là caffeine và diterpene, giúp màng composite vừa lưu giữ được mùi hương tự nhiên vừa có tiềm năng xua đuổi côn trùng và tăng cường khả năng chống oxy hóa cho lớp phủ.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Nguyễn Quang Ninh đã hoàn thành việc nghiên cứu thực nghiệm chế tạo vật liệu composite từ hệ sơn gốc nước nhũ tương acrylic và bột bã cà phê đã qua xử lý với kích thước hạt dưới 0,075 mm. Các kết quả phân tích cấu trúc quang học, phổ hồng ngoại FTIR, ảnh quét SEM, phép đo kéo theo chuẩn ASTM D2370 cùng các thử nghiệm độ bền rửa trôi và kháng hóa chất trên đế xi măng MAC 100 theo hệ thống TCVN 8653 đã chứng minh màng vật liệu duy trì được tính đồng nhất và độ bền môi trường tốt. Đề tài mở ra giải pháp tái chế phế phẩm sinh khối rắn nông nghiệp thành phụ gia hữu ích cho ngành sản xuất vật liệu phủ thân thiện với môi trường. Khóa luận được Hội đồng chuyên môn đánh giá đạt yêu cầu và Giảng viên hướng dẫn chấm điểm 9,0 (Chín).