Luận án tiến sĩ: Đánh giá an toàn đê Hữu Hồng đoạn qua Hà Nội dưới tác động của biến đổi khí hậu

Luận án tiến sĩ nghiên cứu nghiên cứu đánh giá an toàn đê hữu hồng đoạn qua hà nội trong điều kiện biến đổi khí hậu, phân tích chuyên sâu, xây dựng mô hình lý thuyết, đề xuất giải

Trường đại học

Trường Đại học Thủy Lợi

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ kỹ thuật

2017

173
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT VÀ GIẢI THÍCH THUẬT NGỮ

DANH MỤC KÝ HIỆU CÁC ĐẠI LƯỢNG

MỞ ĐẦU

0.1. Tính cấp thiết của đề tài

0.2. Mục tiêu nghiên cứu

0.3. Câu hỏi nghiên cứu

0.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

0.5. Nội dung nghiên cứu

0.6. Phương pháp nghiên cứu

0.7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

0.8. Cấu trúc luận án

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU AN TOÀN ĐÊ TRONG BỐI CẢNH BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

1.1. Hệ thống công trình phòng chống lũ bảo vệ vùng đồng bằng sông Hồng

1.1.1. Hệ thống hồ chứa thượng lưu

1.1.2. Hệ thống đê điều hạ lưu

1.2. Biến đổi khí hậu ở Việt Nam

1.2.1. Kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng của IPCC

1.2.2. Kịch bản biến đổi khí hậu, nước biển dâng cho Việt Nam

1.3. Tổng quan về nghiên cứu an toàn đê

1.3.1. Các nghiên cứu ở nước ngoài

1.3.2. Các nghiên cứu về sự cố đê trong nước

1.4. Định hướng nghiên cứu của luận án

1.4.1. Những vấn đề khoa học cần làm sáng tỏ

1.4.2. Định hướng nghiên cứu của luận án

1.5. Kết luận Chương 1

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ KHOA HỌC NGHIÊN CỨU, ĐÁNH GIÁ AN TOÀN ĐÊ VÀ GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG ỔN ĐỊNH ĐÊ

2.1. Điều kiện biên thủy lực

2.1.1. Giới hạn lưu vực sông Hồng

2.1.2. Sự thay đổi lòng dẫn và mực nước trên sông Hồng

2.1.3. Dòng chảy lũ sông Hồng khi xét đến ảnh hưởng của BĐKH

2.2. Điều kiện địa chất công trình và phân chia cấu trúc nền đê

2.2.1. Điều kiện địa chất công trình

2.2.2. Phân chia cấu trúc nền đê

2.2.3. Các kiểu cấu trúc nền đê đại diện

2.3. Điều kiện địa chất thủy văn

2.4. Đánh giá an toàn đê theo phương pháp truyền thống

2.4.1. Các tiêu chuẩn an toàn

2.4.2. Quy trình đánh giá an toàn

2.5. Đánh giá an toàn đê theo phương pháp lý thuyết độ tin cậy

2.5.1. Các khái niệm cơ bản

2.5.2. Hàm tin cậy và xác suất sự cố

2.5.3. Phân tích rủi ro và phân tích tối ưu

2.5.4. Các bất định trong địa kỹ thuật

2.5.5. Phân tích các số liệu đầu vào

2.5.6. Các cấp độ tính toán

2.5.7. Tính toán độ tin cậy theo cấp độ II

2.5.8. Tính toán độ tin cậy theo cấp độ III

2.5.9. Xác suất sự cố của hệ thống

2.5.10. Ảnh hưởng của hiệu ứng độ dài

2.5.11. Xác suất sự cố xảy ra ứng với một trận lũ cụ thể

2.5.12. Một số khác biệt khi đánh giá an toàn đê theo phương pháp truyền thống và phương pháp lý thuyết độ tin cậy

2.6. Phương pháp thực nghiệm nghiên cứu xói ngầm dưới nền đê bằng mô hình vật lý trong phòng

2.6.1. Các khái niệm về xói ngầm

2.6.2. Ảnh hưởng của xói ngầm đến an toàn đê

2.6.3. Cơ sở xây dựng mô hình thí nghiệm thấm trong phòng

2.7. Các giải pháp nâng cao an toàn đê

2.7.1. Giải pháp tăng cường ổn định mái đê

2.7.2. Các giải pháp xử lý thấm

2.7.3. Các giải pháp xử lý lún

2.7.4. Các giải pháp phi công trình

2.7.5. Đề xuất giải pháp tăng cường ổn định đê

2.8. Nguyên lý rủi ro trong thiết kế công trình

2.9. Kết luận Chương 2

3. CHƯƠNG 3: NGHIÊN CỨU XÓI NGẦM DƯỚI NỀN ĐÊ BẰNG MÔ HÌNH VẬT LÝ TRONG PHÒNG

3.1. Thiết kế mô hình thí nghiệm

3.1.1. Tỷ lệ mô hình, ưu nhược điểm của mô hình thí nghiệm trong phòng

3.1.2. Kích thước mô hình

3.1.3. Vật liệu thí nghiệm

3.1.4. Mực nước thí nghiệm

3.2. Thí nghiệm thấm ngang

3.2.1. Mục đích thí nghiệm thấm ngang

3.2.2. Công tác chuẩn bị thí nghiệm thấm ngang

3.2.3. Trình tự tiến hành

3.2.4. Kết quả thí nghiệm thấm ngang

3.2.5. Thảo luận về kết quả thí nghiệm thấm ngang

3.3. Thí nghiệm thấm đứng

3.3.1. Mục đích thí nghiệm thấm đứng

3.3.2. Công tác chuẩn bị thí nghiệm thấm đứng

3.3.3. Trình tự tiến hành thí nghiệm

3.3.4. Kết quả thí nghiệm thấm đứng

3.3.5. Thảo luận về kết quả thí nghiệm thấm đứng

3.4. Kết luận Chương 3

3.4.1. Thí nghiệm thấm ngang

3.4.2. Thí nghiệm thấm đứng

4. CHƯƠNG 4: ĐỘ TIN CẬY CỦA HỆ THỐNG ĐÊ SÔNG HỒNG TRONG BỐI CẢNH BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU

4.1. Đánh giá an toàn đê Hữu Hồng theo phương pháp truyền thống

4.1.1. Đánh giá an toàn của 17 đoạn đê

4.1.2. Đánh giá an toàn của 10 cống dưới đê

4.2. Phân tích độ tin cậy của hệ thống đê Hữu Hồng trong điều kiện BĐKH

4.2.1. Mô tả hệ thống

4.2.2. Xác suất sự cố của đoạn đê

4.2.3. Xác suất sự cố của hệ thống đê

4.3. Phân tích an toàn đê dưới trận lũ thiết kế trong bối cảnh BĐKH

4.3.1. Nghiên cứu trong phòng

4.3.2. Nghiên cứu hiện trường

4.3.3. Sự suy giảm và độ trễ thời gian của áp lực thấm

4.3.4. Thiết lập phương trình dự báo sự phát triển của chiều dài ống xói hiện trường

4.3.5. Phân tích ổn định cho đoạn đê điển hình

4.4. Đề xuất giải pháp tăng cường ổn định đê Sen Chiểu theo nguyên lý rủi ro

4.4.1. Giới thiệu chung về vùng nghiên cứu

4.4.2. Rủi ro ngập lụt của vùng nghiên cứu

4.4.3. Lựa chọn giải pháp tối ưu tăng cường ổn định cho đoạn đê Sen Chiểu

4.5. Kết luận Chương 4

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

DANH MỤC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghiên cứu an toàn đê trong bối cảnh biến đổi khí hậu

Nghiên cứu an toàn đê Hữu Hồng trong bối cảnh biến đổi khí hậu là một vấn đề cấp thiết. Hệ thống công trình phòng chống lũ bảo vệ vùng đồng bằng sông Hồng đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ an toàn cho Hà Nội. Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng biến đổi khí hậu có thể làm gia tăng tần suất và cường độ của các hiện tượng thời tiết cực đoan, dẫn đến nguy cơ cao hơn cho các công trình đê điều. Đặc biệt, việc đánh giá an toàn đê cần phải xem xét các yếu tố như rủi ro thiên taibiện pháp bảo vệ. Theo các kịch bản của IPCC, mực nước biển dâng và các hiện tượng thời tiết cực đoan sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến an toàn của hệ thống đê. Do đó, việc nghiên cứu và đánh giá an toàn đê Hữu Hồng là cần thiết để đảm bảo tính bền vững và an toàn cho khu vực này.

1.1. Hệ thống công trình phòng chống lũ

Hệ thống công trình phòng chống lũ bao gồm các hồ chứa, đê điều và các công trình khác nhằm bảo vệ vùng đồng bằng sông Hồng. Các công trình này cần được thiết kế và quản lý một cách hiệu quả để giảm thiểu rủi ro từ biến đổi khí hậu. Việc đánh giá an toàn của các công trình này không chỉ dựa trên các tiêu chuẩn hiện hành mà còn cần phải xem xét các yếu tố biến đổi khí hậu có thể làm thay đổi điều kiện môi trường. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, trong bối cảnh biến đổi khí hậu, cần có các biện pháp bổ sung để tăng cường khả năng chống chịu của hệ thống công trình phòng chống lũ.

II. Đánh giá an toàn đê Hữu Hồng

Đánh giá an toàn đê Hữu Hồng là một phần quan trọng trong nghiên cứu này. Phương pháp đánh giá an toàn truyền thống đã được áp dụng để xác định khả năng chịu tải của đê dưới các điều kiện khác nhau. Tuy nhiên, với sự gia tăng của biến đổi khí hậu, cần phải áp dụng các phương pháp hiện đại hơn như lý thuyết độ tin cậy. Phân tích rủi ro và xác suất sự cố là những yếu tố quan trọng trong việc đánh giá an toàn đê. Các nghiên cứu cho thấy rằng, xác suất sự cố của đê Hữu Hồng có thể tăng lên đáng kể nếu không có các biện pháp phòng ngừa kịp thời. Do đó, việc áp dụng các phương pháp hiện đại trong đánh giá an toàn là cần thiết để đảm bảo an toàn cho khu vực này.

2.1. Phân tích độ tin cậy của hệ thống đê

Phân tích độ tin cậy của hệ thống đê Hữu Hồng trong bối cảnh biến đổi khí hậu là một nhiệm vụ phức tạp. Các yếu tố như mực nước dâng, tần suất lũ và các hiện tượng thời tiết cực đoan cần được xem xét. Việc áp dụng lý thuyết độ tin cậy giúp xác định xác suất sự cố của đê và từ đó đưa ra các biện pháp cải thiện an toàn. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, việc tăng cường ổn định cho đê thông qua các biện pháp kỹ thuật và quản lý có thể giảm thiểu rủi ro ngập lụt và bảo vệ an toàn cho khu vực xung quanh.

III. Giải pháp tăng cường an toàn đê

Để đảm bảo an toàn cho đê Hữu Hồng, cần có các giải pháp tăng cường ổn định và bảo vệ. Các biện pháp này bao gồm cải thiện cấu trúc nền đê, xử lý thấm và lún, cũng như áp dụng các giải pháp phi công trình. Việc áp dụng các công nghệ mới trong xây dựng và bảo trì đê cũng là một yếu tố quan trọng. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, việc kết hợp giữa các giải pháp kỹ thuật và quản lý có thể tạo ra một hệ thống phòng chống lũ hiệu quả hơn. Đặc biệt, trong bối cảnh biến đổi khí hậu, việc áp dụng các biện pháp linh hoạt và thích ứng là cần thiết để bảo vệ an toàn cho khu vực này.

3.1. Các biện pháp kỹ thuật

Các biện pháp kỹ thuật để tăng cường an toàn cho đê Hữu Hồng bao gồm việc cải thiện cấu trúc nền và xử lý các vấn đề liên quan đến thấm và lún. Việc áp dụng các công nghệ mới trong xây dựng và bảo trì đê có thể giúp tăng cường khả năng chống chịu của hệ thống. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, việc sử dụng các vật liệu và công nghệ hiện đại có thể cải thiện đáng kể độ bền và an toàn của đê. Đồng thời, việc theo dõi và đánh giá thường xuyên tình trạng của đê cũng là một yếu tố quan trọng trong việc đảm bảo an toàn.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ nghiên cứu đánh giá an toàn đê hữu hồng đoạn qua hà nội trong điều kiện biến đổi khí hậu

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU AN TOÀN ĐÊ TRONG BỐI CẢNH BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU 1.1 Hệ thống công trình phòng chống lũ bảo vệ vùng đồng bằng sông Hồng Hệ thống công trình phòng chống lũ bảo vệ cho vùng đồng bằng sông Hồng ngoài các hồ chứa ở thượng nguồn và các công trình chống lũ khác còn có hệ thống đê sông và các cống dưới đê với tổng chiều dài các tuyến đê khoảng 3. Hiện nay, hệ thống hồ chứa thượng lưu đã được xây dựng tương đối hoàn chỉnh, hệ thống đê hạ lưu cũng được đầu tư cải tạo, nâng cấp bằng nhiều nguồn vốn khác nhau nhằm nâng cao an toàn chống lũ, vững vàng bảo vệ cho vùng kinh tế chính trị quan trọng của đất nước trước những trận lũ lớn có thể xảy ra.1 sơ họa hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình cùng một số hồ chứa lớn trên thượng lưu.1 Sơ họa hệ thống hồ chứa thượng lưu và các nhánh sông chính của ĐBSH 1.1 Hệ thống hồ chứa thượng lưu 1.1 Các hồ chứa trên các sông chính của hệ thống sông Hồng Do có vị trí và địa hình thuận lợi nên trên lãnh thổ Việt Nam đã có nhiều hồ chứa được xây dựng. Theo thống kê chưa đầy đủ, trên lưu vực hiện nay có khoảng 53 hồ lớn nhỏ trong trạng thái đã vận hành, đang xây dựng và quy hoạch [2]. Đặc biệt, trên các dòng sông chính có 05 hồ chứa lớn đa mục tiêu đã được xây dựng và vận hành, đó là: 5 - Hồ chứa Thác Bà (trên sông Chảy): cao trình mực nước dâng bình thường (MNDBT) +58 m; cao trình mực nước dâng gia cường (MNDGC) +61,0 m; dung tích phòng lũ cho hạ du 0,45 tỷ m3.

- Hồ chứa Hòa Bình (trên sông Đà): cao trình MNDBT +117 m; cao trình MNDGC +122,0 m; dung tích phòng lũ cho hạ du 2,9 tỷ m3. - Hồ chứa Tuyên Quang (trên sông Gâm): cao trình MNDBT +120,0 m; cao trình MNDGC +122,55 m; dung tích phòng lũ cho hạ du 1,0 tỷ m3. - Hồ chứa Sơn La (trên sông Đà): cao trình MNDBT +215,0 m; cao trình MNDGC +217,83 m; dung tích phòng lũ cho hạ du (kết hợp với hồ Hòa Bình) 7,0 tỷ m3. - Hồ chứa Lai Châu (trên sông Đà): cao trình MNDBT +295,0m; mực nước lớn nhất thiết kế 297,0 m; Các hồ lớn trên dòng chính sông Hồng đều là các hồ chứa đa mục tiêu (chống lũ cho hạ du, phát điện, cấp nước,…).

Tổng dung tích chống lũ cho hạ du của bậc thang sông Đà là 7,0 tỷ m3 và hệ thống sông Lô, Gâm là 1,45 tỷ m3.2 Nhiệm vụ chống lũ của hệ thống hồ chứa trên lưu vực sông Hồng Việc đảm bảo chống lũ cho hạ du phụ thuộc vào vận hành của các hồ chứa thượng nguồn và năng lực của hệ thống đê hạ lưu. Đã có nhiều quy định liên quan của Nhà nước về quy trình vận hành (QTVH) của các hồ chứa cũng như mức đảm bảo an toàn cho hệ thống đê sông Hồng được ban hành ở các giai đoạn khác nhau như ở [3, 4]. Gần đây nhất, ngày 18/02/2016, Chính phủ đã có Quyết định số 257/2016/QĐ-TTg, Phê duyệt quy hoạch phòng chống lũ và quy hoạch đê điều hệ thống sông Hồng, sông Thái Bình [5], trong đó quy định về mức đảm bảo an toàn của hệ thống đê sông Hồng và giải pháp điều tiết lũ của các hồ chứa lớn trên lưu vực. Để đảm bảo an toàn cho hệ thống đê hạ lưu, đặc biệt là hệ thống đê sông Hồng bảo vệ thủ đô Hà Nội, Thủ tướng chính phủ đã có Quyết định số 1622/QĐ-TTg ngày 17/9/2015 về việc ban hành QTVH liên hồ chứa trên lưu vực sông Hồng [6] (sau đây gọi tắt là QT1622).

Theo đó, hệ thống hồ chứa thượng lưu phải phân chia các thành phần dung tích và mực nước tương ứng (xem Bảng 1.1) để vận hành tích nước, điều 6 tiết lũ nhằm đảm bảo an toàn hệ thống đê hạ lưu với các mực nước đã khống chế, đồng thời cũng phải đảm bảo an toàn cho các công trình đầu mối của hồ chứa. Ở các thời kỳ lũ sớm, lũ chính vụ và lũ muộn, sự phối hợp điều tiết cắt lũ của liên hồ chứa luôn phải đảm bảo mực nước lớn nhất tại Hà Nội không vượt quá cao trình +13,10 m với lũ chu kỳ lặp lại 300 năm và +13,40 m tương ứng với lũ chu kỳ 500 năm tại Sơn Tây.1 Dung tích phòng lũ và mực nước khống chế ở Hà Nội của các hồ [6] Mức nước khống chế Dung tích dành cắt lũ theo mực nước khống chế tại Hà Nội (tỷ m 3) tại Hà Nội Hồ Sơn La Hồ Hòa Bình Tổng cộng 1,00 (mực nước hồ từ 1,13 (mực nước hồ từ ZHN ≤ 11,5m 2,13 197,3m÷203m) 101m÷107m) 3,00 (mực nước hồ từ 1,87 (mực nước hồ từ ZHN > (13,1÷13,4)m 4,87 203m÷217,2m) 107m÷117m) 1.2 Hệ thống đê điều hạ lưu 1.1 Lịch sử hình thành và phát triển [7] Quá trình hình thành và xây dựng hệ thống đê điều Bắc Bộ gắn liền với lịch sử dựng nước, giữ nước của dân tộc ta và được chia thành các giai đoạn như sau [7]: (1) Thời kỳ phong kiến Các triều đại phong kiến Việt Nam ở các giai đoạn và thời kỳ khác nhau luôn phải đối phó đồng thời với giặc ngoại xâm và lũ lụt. Vấn đề trị thủy luôn được chính quyền phong kiến quan tâm1, hàng năm thường huy động sức dân, ngân khố và cử ra các quan lại phụ trách công tác đắp và tu bổ đê. Những con đê có quy mô lớn bắt đầu được hình thành dưới triều nhà Lý (năm 1077), trong đó có đê sông Như Nguyệt (sông Cầu) dài khoảng 30 km.

Năm Mậu Tý (1108), con đê đầu tiên của sông Hồng được đắp ở phường Cơ Xá (từ Nghi Tàm đến Thanh Trì) để bảo vệ kinh thành Thăng Long. Đến triều nhà Trần, năm 1248 mực nước sông Hồng lên cao gây vỡ đê, vua Trần Thái Tông đã ra lệnh cho các tỉnh ở hai bên sông Hồng từ thượng nguồn ra tới biển phải đắp đê chống lũ. Từ đó, việc đắp đê càng được chú trọng. Ngoài các tuyến đê sông lớn như sông Hồng, các tuyến đê sông khác như sông Đuống, sông Đà,.

vẫn tiếp tục được xây dựng và nâng cấp để chống các trận lũ lớn hàng năm. Các triều đại sau này mặc dù có 1 Thủy - Hỏa - Đạo - Tặc luôn là bốn nguy cơ thường trực trong xã hội phong kiến và lũ lụt được xếp hàng đầu 7 nhiều biến động nhưng công cuộc đắp đê chống lũ vẫn luôn được duy trì và đã có hàng nghìn kilômet đê mới được xây dựng. (2) Thời kỳ Pháp thuộc Năm 1873, thực dân Pháp đánh chiếm Hà Nội. Dưới chế độ cai trị của người Pháp, nạn vỡ đê liên tiếp xảy ra, nhất là dọc tuyến đê sông Hồng.

Chính quyền bảo hộ cũng đã tổ chức đắp đê sông quy mô từ năm 1908 đến năm 1913 để chống được lũ ở Hà Nội đến +10,50 m. Tại Hà Nội, năm 1926 đã xây dựng công trình phân lũ đập Đáy I. Thực tế việc đầu tư của người Pháp cho lĩnh vực đê điều ít có hiệu quả. Ở Hà Nội, từ năm 1905 đến 1945 đã xảy ra vỡ đê trong 10 năm và có 25 đoạn đê bị vỡ.2 minh họa cho các giai đoạn đắp nâng cao và mở rộng mặt cắt ngang đê Hà Nội từ năm 1915 đến năm 1945.2 Đê Hà Nội giai đoạn từ 1915 đến 1945 Từ Hình 1.2 có thể thấy: trước năm 1915, đê còn thấp nên chỉ chống được những trận lũ nhỏ.

Sau trận lũ gây vỡ đê năm 1915, đê được đắp tôn cao và mở rộng dần, đến năm 1945 đê Hà Nội có thể chống được lũ với cao trình mực nước lớn nhất là +12,00 m. (3) Sau cách mạng tháng 8 năm 1945 đến nay  Giai đoạn 1945 đến 1954: Trong 09 năm kháng chiến chống Pháp, Nhà nước ta luôn chú trọng công tác phòng chống lũ lụt. Trước tiên là phải khắc phục hậu quả của các trận vỡ đê năm 1945, tiếp tục củng cố dần các tuyến đê xung yếu [7]. Giai đoạn này, ghi nhận việc củng cố mở rộng các tuyến đê thuộc địa bàn các huyện: Thanh Trì; Từ Liêm; Gia Lâm.

Tuy nhiên hệ thống đê sông Hồng thời điểm này được đánh giá chỉ chống được lũ với mực nước tại Hà Nội là +12,00 m. 8  Giai đoạn 1954 đến 1965: Sau khi tiếp quản thủ đô tháng 10/1954, Nhà nước xã hội chủ nghĩa tiếp tục công cuộc cải tạo, nâng cấp hệ thống đê điều vùng đồng bằng Bắc Bộ. Ngoài các tuyến đê chính thì nhiều tuyến đê bối, đê bao được xây dựng. Sau năm 1961, hệ thống đê điều thành phố Hà Nội tăng lên khoảng 110 km, trong đó có 16 đoạn kè quan trọng và 16 cống các loại trên đê được đầu tư.

Tuy nhiên, sau nhiều năm lũ nhỏ thì đến năm 1964 có lũ lớn (+11,70m) vượt báo động III, đê Hà Nội bộc lộ nhiều khuyết tật, nhiều đoạn bị đùn sủi đe dọa đến an toàn đê, điển hình là các đoạn thuộc Đổng Viên (Gia Lâm), Nhật Tân, Phú Thượng, Nghi Tàm (Từ Liêm), đê Bùng (Thanh Trì),… Công tác ứng cứu, xử lý được thực hiện ngay trong mùa lũ, khi lũ rút các đoạn đê này tiếp tục được quan tâm củng cố [7].  Giai đoạn 1965 đến 1974: Mặc dù trong điều kiện khó khăn của chiến tranh nhưng giai đoạn này, đã có nhiều tuyến đê được củng cố, nâng cấp, mở rộng. Tuy nhiên, đã xảy ra các trận lũ lớn ở các năm 1968; 1969 (+13,20 m); 1970 (+12,05 m) và lũ lịch sử năm 1971 (hoàn nguyên: +14,13 m) [7, 8]. Tháng 7/1971, mưa thượng nguồn diễn ra liên tục khoảng một tháng, lũ trên báo động III trở lên kéo dài 13 ngày đêm.

Nhiều đoạn đê bị ngâm nước lâu ngày đã có hiện tượng bùng nhùng, đùn sủi diễn ra ở nhiều nơi, nhiều đoạn có nguy cơ bị nước lũ tràn đỉnh, hiện tượng trượt mái hạ lưu đã diễn ra ở nhiều vị trí và đã phải cấp tốc vá đê. Khi lũ bắt đầu rút xuống được khoảng 40 cm thì đoạn đê Cống Thôn (Gia Lâm) bị vỡ, sau vài ngày đoạn vỡ mở rộng tới 800 m đã gây ra hậu quả rất nghiêm trọng [8]. Việc khắc phục hậu quả của trận lũ lịch sử năm 1971 là vô cùng gian nan và tốn kém. Thành phố Hà Nội cho tôn cao đắp rộng biến những đoạn trước đây có con trạch thành đê rộng 6 m như đoạn đê Từ Liêm; đoạn Thanh Trì, Đông Anh, Gia Lâm cũng được tích cực tu bổ, củng cố, mở rộng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu đánh giá an toàn đê Hữu Hồng Hà Nội trong bối cảnh biến đổi khí hậu là một tài liệu quan trọng tập trung vào việc phân tích và đánh giá mức độ an toàn của hệ thống đê điều tại khu vực Hữu Hồng, Hà Nội, trong bối cảnh biến đổi khí hậu đang diễn biến phức tạp. Nghiên cứu này cung cấp những đánh giá chi tiết về các yếu tố rủi ro, đề xuất các giải pháp kỹ thuật và quản lý nhằm nâng cao khả năng chống chịu của hệ thống đê trước các hiện tượng thời tiết cực đoan. Đây là nguồn thông tin hữu ích cho các nhà quản lý, kỹ sư và những người quan tâm đến lĩnh vực quản lý rủi ro thiên tai và bảo vệ môi trường.

Để mở rộng kiến thức về các nghiên cứu liên quan đến đánh giá chất lượng môi trường và quản lý rủi ro, bạn có thể tham khảo Luận văn thạc sĩ hóa học phân tích và đánh giá chất lượng nước giếng khu vực phía đông vùng kinh tế dung quất huyện bình sơn tỉnh quảng ngãi, Luận văn thạc sĩ hóa học phân tích và đánh giá chất lượng nước sông gianh tỉnh quảng bình, và Luận văn thạc sĩ khoa học xác định mức độ ô nhiễm các hợp chất hydrocarbons thơm đa vòng pahs trong trà cà phê tại việt nam và đánh giá rủi ro đến sức khỏe con người. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các vấn đề môi trường và cách thức đánh giá rủi ro trong bối cảnh hiện nay.