ĐẶT VẤN ĐỀ Cây Đậu Tương (Glycine max(L)Merrill) đã được biết đến và trồng từ rất lâu đời. Cho đến nay tính đến năm 1994 thì diện tích đậu tương trên thế giới khoảng 61571000 ha với năng suất bình quân đạt 2078 kg/ha. Sản lượng đạt trên 10 triệu tấn/năm. Điều đó khẳng định cây đậu tương là một trong những cây trồng quan trọng trong nền nông nghiệp.
Cây đậu tương đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp thức ăn cho người và gia súc. Từ hạt đậu tương có thể chế biến được nhiều các sản phẩm khác nhau.Đặc biệt là cung cấp protein và lipit bởi trong hạt đậu tương có chứa hàm lượng lớn các chất này, cụ thể là 40-50% là protein và 12-24% là lipit. Bên cạnh đó, do có khả năng cố định đạm tự do nhờ cộng sinh với vi khuẩn Rhizobium Japonicum mà đậu tương là cây trồng bảo vệ đất chống xói mòn. Cuối cùng cây đậu tương còn góp phần giải quyết công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người nông dân.
Nền nông nghiệp nước ta đã phát triển cùng với nền văn minh lúa nước, tất nhiên không vì thế mà cây đậu tương mất đi chỗ đứng của nó.Đậu tương nằm trong những cây trồng quan trọng và việc phát triển đậu tương cũng đã được chú trọng. Song trong việc phát triển đậu đỗ thì một điều hay gặp phải đó là năng suất và sản lượng đậu đỗ thường rất thấp, đây là một trong những hạn chế lớn. Bởi so với các nước trong khu vực và trên thế giới thì năng suất hay cả sản lượng đậu tương nước ta còn ở mức hết sức khiêm tốn. Điều đó đặt ra vấn đề là phải làm gì để nâng cao năng suất lên? Hay muốn phát triển đậu tương phải có biện pháp gì để nâng cao năng suất.
Một trong những biện pháp đó là cải tạo giống tạo ra những giống có năng suất cao. Mà trong công tác chọn tạo giống thì vật liệu khởi đầu có ý nghĩa rất quan trọng. Vấn đề này đã được giải quyết như thế nào? Có nhiều nguồn vật liệu ban đầu khác nhau và một nguồn vật liệu quan trọng đó là nguồn giống đậu tương địa phương. Cho nên việc duy trì các giống đậu tương địa phương này để giúp cho việc tạo giống là rất cần thiết.Hơn nữa trong gian đoạn ngày nay cùng với việc thâm canh cao người ta thường sử dụng các giống mới có năng suất cao mà lãng quên các giống đậu tương địa phương với các đặc tính quý của chúng.
Do đó việc duy trì các giống đậu tương địa phương còn có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển nền nông nghiệp bền vững nước nhà. Các tỉnh miền núi phía Bắc là nơi có địa hình phức tạp, phần lớn là đồi núi cao và dốc. Nơi đây hình thành nên những vùng với những điều kiện sinh thái khác nhau. Người dân ở đây với nền kinh tế tự cung tự cấp thường có tập quán du canh du cư, đốt nương làm rẫy.
Cây đậu tương đã được biết đến và sử dụng từ rất lâu và trở thành một cây trồng quan trọng trong việc góp phần cung cấp lương thực cho người dân ở đây. Với vùng đất này cây đậu tương đã thể hiện hơn hẵn các cây trồng khác các ưu điểm của mình. Đậu tương có thể trồng ở bất cứ địa hình nào: Ven nhà, sườn đồi, ven suối, trong vườn.Hơn nữa đậu tương lại có thể chế biến được rất nhiều loại thực phẩm khác nhau rất giàu dinh dưỡng: đậu phụ, đậu rang, giá đậu, sữa đậu nành.Vì thế qua quá trình canh tác và sử dụng lâu dài người dân đã tạo và duy trì được nhiều loại giống đậu tương địa phương. Nơi đây trở thành nơi tập trung nguồn giống đậu tương phong phú và đa dạng với nhiều giống đậu tương có các đặc tính qúy.
Thực sự là những vật liệu khởi đầu tốt cho việc chọn tạo giống đậu tương có năng suất cao, phẩm chất tốt phù hợp với điều kiện sinh thái khác nhau. Xuất phát từ vấn đề về chọn tạo giống cho nên việc thu thập các giống đậu tương địa phương này sẽ giúp cho việc chọn tạo giống mới đáp ứng nhu cầu sản xuất. Từ nhu cầu bức thiết đó chúng tôi tiến hành đề tài: "Nghiên cứu một số đặc tính nông sinh học của các mẫu giống đậu tương địa phương thu thập từ các tỉnh miền núi phía Bắc" 1. MỤC ĐÍCH VÀ YÊU CẦU 1.
MỤC ĐÍCH -Nghiên cứu một số đặc tính nông sinh học của các mẫu giống đậu tương địa phương thu thập từ các tỉnh miền núi phía Bắc để tìm ra các đặc tính tốt, giúp cho các nhà tạo giống lai tạo giống mới. -Duy trì gìn giữ nguồn gen cây đậu tương. -Theo dõi các chỉ tiêu sinh trưởng phát triển ngoài đồng của các mẫu giống đậu tương địa phương. Từ đó phát hiện ra các đặc tính tốt giúp cho chọn tạo giống sau này.
-Bảo vệ gìn giữ các giống đậu tương sau thu hoạch. PHẦN 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU VỀ ĐẬU TƯƠNG TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC 2. VAI TRÒ CỦA ĐẬU TƯƠNG. Cùng với thời gian, ngày nay cây đậu tương (Glycine Max (L) Merrill) còn gọi là đậu nành càng thể hiện được vai trò vô cùng quan trọng trên nhiều lĩnh vực.
Là cây trồng đã biết đến từ rất lâu và được ví là loại "cây kỳ lạ", "vàng mọc từ đất", "cây thần diệu", "cây đỗ thần", "cây thay thịt". Quả là đúng khi đánh giá về tầm quan trọng của đậu tương như vậy. Bởi những giá trị to lớn mà cây đậu tương mang lại. Mà những giá trị kinh tế đó chủ yếu được quyết định bởi các thành phần chứa trong hạt.
Hạt đậu tương gồm có protein, lipit, hydrat cacbon, các chất khoáng. Trong đó protein và lipit là hai thành phần quan trọng nhất chiếm khoảng 60% trọng lượng hạt[5]. Theo giáo trình Cây công nghiệp[1] thì trong hạt đậu tương hàm lượng protein chiếm khoảng 40-50% và lipit biến động từ 12-24% tuỳ theo giống và điều kiện khí hậu. Điều này thực sự cho thấy đây là loại hạt duy nhất mà giá trị của nó được đánh giá đồng thời cả protein và lipit mà phải nói rằng so với một số thực phẩm, thịt hay một số loại hạt đậu đỗ khác thì hàm lượng protein rõ ràng là cao hơn hẳn.
Bên cạnh hàm lượng lớn về protein và lipit, hạt đậu tương còn giàu nguồn sinh tố và muối khoáng và chứa nhiều loại axit amin trong đó có 8 a.a không thay thế như: Arginin, Histidin, Lysin, Triptophan.Hàm lượng của các axit amin có chứa lưu huỳnh như Methionin, Sistein, Sixtin.trong đỗ tương rất gần với hàm lượng của các chất này ở trứng. Hàm lượng của Cazein, đặc biệt là của Lysin rất cao, gấp rưỡi của trứng. Điều này cho thấy đây là loại hạt mà có đầy đủ và cần đến của các loại axit amin cần thiết. Hơn nữa protein của đậu tương dễ tiêu hoá hơn thịt và không có Colesteron.
Ngày nay, qua các thí nghiệm mới người ta còn biết thêm nó chứa chất Lexithin có tác dụng làm cho cơ thể trẻ lâu, sung sức, làm tăng thêm trí nhớ và tái sinh các mô, làm cứng xương và tăng sức đề kháng của cơ thể. Trong thời đại ngày nay khi chúng ta đang tìm nguồn dầu thực vật để thay thế việc phải dùng mỡ động vật thì có thể thấy rằng với hàm lượng lipit như đã nói ở trên có thể đủ cung cấp một lượng dầu thực vật khá lớn. Cho nên so với các loại đậu đỗ khác cây đậu tương được coi là cây lấy dầu thực vật quan trọng. Lipit của đậu tương chứa một tỷ lệ các axit béo chưa no có hệ số đồng hoá cao, mùi vị thơm ngon như: axit oleic (30-35%), axit lioleic (45-55%) và linonic (5- 10%)[1].
Dùng dầu đậu tương thay mỡ động vật có thể tránh được xơ mỡ động mạch và có tác dụng tốt đối với sức khoẻ con người. Thành phần khá quan trọng trong hạt đậu tương nữa là các Vitamin. Hạt đậu tương chứa khá nhiều các loại Vitamin mà đặc biệt phải kể đến hàm lượng của các Vitamin B1, B2, ngoài ra là các loại Vitamin PP, A, E, K, D, C.và các loại muối khoáng khác. Theo tác giả Nguyễn Danh Đông[4], trong 100 g hạt đậu tương có hàm lượng Vitamin B1 có thể cung cấp cho một nửa nhu cầu B 1 của cơ thể trong một ngày.
Đặc biệt hạt đậu tương ngâm hàm lượng Vitamin C tăng từ 8,7-354mg trong 100g hạt đậu tương. Nhân dân một số vùng như Cao Bằng đã dùng hạt đậu tương nảy mầm làm rau giá, đó là món ăn tốt và giàu Vitamin, protein. Ngoài ra đậu tương còn chữa được nhiều bện như đái đường, thần kinh suy nhược, suy dinh dưỡng. Bởi những thành phần như vậy mà từ lâu con người đã biết sử dụng hạt đậu tương vào việc chế biến thành thức ăn, thành các dạng thực phẩm khác nhau.
Cho đến nay, người ta đã chế biến ra được trên 600 sản phẩm khác nhau, trong đó có hơn 300 loại thức ăn bằng các phương pháp cổ truyền, thủ công và hiện đại dưới các dạng tươi, khô, lên men.như giá đỗ, bột đậu tương, tương đậu phụ, đậu hũ, chao, tào phớ, sữa đậu nành, xì dầu.đến các sản phẩm cao cấp khác như cà phê đậu tương, socola đậu tương, bánh kẹo, pate, thịt,nhân tạo.[19] được mệnh danh là người đầu bếp của thế kỷ. Đối với nhân dân ta có lẽ không ai biết rõ từ khi nào đậu tương đã được sử dụng làm thức ăn cung cấp một phần nhu cầu chất đạm cho con người và gia súc dưới dạng các món ăn cổ truyền. Đối với con người, đậu tương còn là một vị thuốc để chữa bệnh, đặc biệt là đậu tương hạt đen có tác dụng tốt cho tim, gan, thận, dạ dày và ruột. Đặc biệt đối với người mắc bệnh đái đường, thấp khớp, mới ốm dậy, lao động quá sức thì quả là loại thức ăn tốt.
Ngày nay, bên cạnh việc sử dụng hạt đậu tương chín để làm thức ăn thì con người lại có xu hướng sử dụng đậu tương như một loại rau[15]. Thực ra điều này cũng đã được con người chú ý đến. Ở nước ta các vùng nông thôn vẫn hay thu hoạch đậu tương sớm và luộc ăn nhưng chưa được xem như là một loại rau như những năm gần đây[15] Hạt đậu tương không những là thức ăn cho người mà nó còn góp phần cung cấp thức ăn cho chăn nuôi gia súc, gia cầm. Trong khi nhà nước ta đang có những biện pháp để tăng sự phát triển của ngành chăn nuôi thì đối với việc dùng đậu tương làm thức ăn cho gia súc đã giải quyết được một khâu quan trọng trong vấn đề tìm nguồn thức ăn.