Chương 1 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về đối tượng nghiên cứu * Đặc điểm nhận biết Tre là tập hợp của các loài thực vật thuộc họ Hòa thảo (Poaceae) hay có khi còn gọi là (Gramineae). Tre thường có đặc tính sinh trưởng giống như cây thân gỗ, tuy nhiên có đặc trưng là thân thường rỗng, có hệ thân ngầm, phân cành khá phức tạp và hệ thống mo thân. Đặc điểm phân biệt với các loài song mây hoặc cau dừa là hầu hết các loài song mây, cau dừa đều có thân đặc và mềm dẻo, còn tre nói chung có thân rỗng (trừ một số loài ngoại lệ như giang đặc).
Do không có cấu tạo tượng tầng nên tre không hình thành vòng năm như ở cây gỗ. Có một thân chính hình trụ, thẳng và thường cong ở phần ngọn [17]. * Đặc điểm sinh học và sinh thái học Do tre không có một thân chính như thân cây gỗ nên thân ngầm là một bộ phận đặc biệt của cây, nơi giữ cho cây đứng vững, ổn định và là nơi tạo nên các thân cây mới, Thân ngầm có cấu tạo cơ bản giống như thân khí trên mặt đất, chỉ khác là có lóng ngắn, vách rất dày hoặc thân đặc hoàn toàn, hệ rễ phát triển và các bộ phận thường có mầu trắng [17]. Thân được chia làm ba loại chính: Thân ngầm mọc cụm thân rất ngắn không thể bò lan ra, chồi từ thân ngầm sẽ phát triển thành cây mới mọc gần nhau tạo thành các bụi, các khóm.
Thân khí sinh thường có hình trụ và nhiều lóng rỗng, độ dài của các lóng trên thân không giống nhau và thường có màu xanh hoặc xanh lục, nhạt hoặc thẫm. Cành có cấu tạo giống như thân khí sinh, đốt thân là nơi phát sinh cành. Sự hình thành cành trên các đốt kế tiếp thường theo hướng đối xứng hoặc so le nhau Lá có hai loại phục vụ cho hai mục tiêu khác nhau. Loại thứ nhất làm nhiệm vụ bảo vệ măng, thân cây non là mo thân gồm bẹ mo, phiến mo, tai mo và lưỡi mo hay thìa lìa.
Loại thứ hai làm nhiệm vụ quang hợp, tổng hợp vật chất nuôi cây 3 n gọi là lá quang hợp gồm phiến lá, bẹ lá, cuống lá, lưỡi lá và tai lá [18]. Mỗi hoa nhỏ gồm có mày ngoài và mày trong, tương đương với phiến lá bắc và phiến lá bắc nhỏ. Mày ngoài bao lấy mày trong, nhiều gân. Mày trong bao lấy các bộ phận khác của hoa nhỏ, lưng có 2 gờ.
Hoa lưỡng tính được tạo thành do 3 bộ phận: Mày cực nhỏ, nhị và nhụy. Mày cực nhỏ thường 3 chiếc, chất màng trong suốt hay chất thịt phình lên, mép thường bị xẻ. Nhị thường 3 hay 6 chiếc, chỉ nhị hình sợi, tách rời nhau hay gốc dính nhiều hay ít. Bầu thượng, 1 ô, 1 noãn, vòi nhỏ.
Đầu nhuỵ thường 2-3 chiếc, ít khi 1 hay nhiều tới 4-5 chiếc, lông bề mặt đầu nhuỵ dạng ống nhỏ, phẳng nhẵn hay nổi lên dạng núm hoặc dạng lông vũ [15]. Quả tre không mở, chỉ có 1 hạt, thường là quả thóc hay quả dĩnh, như Trúc cần câu (Phyllostachys sulphurea), Mạy sang (Dendrocalamus membranaceus),vỏ quả mỏng, dính liền với vỏ hạt, phôi nhũ chưa nhiều tinh bột, vị trí phôi nằm ở phía dưới phôi nhũ, đối diện phía ngoài, bên kia là rốn hạt dạng máng. Hạt các loài tre, bất kể là loại quả thóc hay loại phi quả thóc Hạt loại quả kiên (một phần), quả mọng không có phôi nhũ. Vỏ hạt các loài tre đều rất mỏng, thường chỉ có 1 lớp tế bào.
Hạt các loại tre thuộc 2 nhóm có phôi nhũ và không có phôi nhũ. Hạt loại quả thóc thường có phôi nhũ rõ rệt [16]. * Phân bố địa lý Tuy diện tích, trữ lượng và số loài có khác nhau nhưng nơi nào ở Việt Nam cũng có tre. Diện tích Tre phân bố trong các vùng ở Việt Nam được thể hiện ở bảng 1.Tre phân bố ở các vùng tại Việt Nam Diện tích Rừng tự nhiên (ha) Thuần Tre - Gỗ Rừng Chi tre Tổng số Vùng loại tre hỗn giao trồng chủ yếu Đông bắc 322.
Hồng 91 80 0 11 1,2 Bắc Trung Bộ 323.770 0 1,5 Duyên hải miền trung 30.517 0 1,5 Đông nam Bộ 370.516 (Nguồn số liệu kiểm kê rừng Việt Nam năm 1999) Nhìn vào bảng 1. Tre phân bố ở các vùng tại Việt Nam, xếp theo thứ tự diện tích và trữ lượng thì đáng quan tâm nhất là vùng Tây Nguyên, Bắc Trung Bộ, Đông Bắc, Đông Nam Bộ rồi đến Tây Bắc. Một số loài tre phổ biến cho các vùng được thể hiện ở bảng 1 (xem phụ lục). * Giá trị Quan niệm về loài tre chủ yếu: là những loài tre được sử dụng rộng rãi trong đời sống hàng ngày (đồ dùng hàng ngày, vật liệu xây dựng, cây cảnh…) hoặc dùng nhiều làm nguyên liệu trong công nghiệp chế biến, thủ công mỹ nghệ hoặc có ý nghĩa đặc biệt (quí, hiếm, có nguy cơ tuyệt chủng cần được bảo tồn nguồn gen…).
Nếu là loài mọc tự nhiên thì có số lượng khá lớn trong tự nhiên, nếu là loài gây trồng thì được nhiều người ưa thích, nếu là loài có ý nghĩa đặc biệt thì được người ta quan tâm. Tre mọc ở khắp mọi nơi, dễ trồng, sinh trưởng nhanh, sớm khai thác, dễ chế biến và có nhiều đặc tính phù hợp với yêu cầu sử dụng của con người, nên nó thường được sử dụng cho các mục đích chính sau: - Làm vật liệu xây dựng: Thân cây lớn làm cột nhà, xà nhà, đòn tay. Các loài thân to hay vừa có vách mỏng thì dùng làm sàn nhà, vách nhà. Trong các công trình xây dựng vừa và tre nhỏ được sử dụng làm cọc đóng cho nền 5 n móng bền vững, cột chống, cốp pha, ngoài ra tre còn làm nguyên liệu cho sản xuất giấy.
- Làm thực phẩm: Một số loài tre cho măng ăn rất ngon như: măng mai, măng luồng, măng tre ngọt, măng mạy lay, măng nứa, măng đắng…Đây là nguồn thực phẩm quan trọng, vừa là nguồn thu nhập thường xuyên của người dân miền núi. Ngoài tiêu thụ măng tươi mỗi ngày, người dân còn sử dụng một số loài như mậy hốc, lồ ô, nứa làm măng khô có thể bảo quản lâu dài và vận chuyển dễ dàng. - Phục vụ mục tiêu văn hóa: Một số loài được trồng làm cây cảnh, cây trang trí các công viên, công sở, gia đình như: Tre bụng phật, tre vàng sọc, tre đùi gà, trúc đen, trúc quân tử… 1. Nghiên cứu về Tre trên thế giới và ở Việt Nam 1.
Trên thế giới Tre là một tài nguyên Lâm sản ngoài gỗ (LSNG) rất có giá trị. Có tới hơn một nửa dân số thế giới liên quan với nhóm tài nguyên này. Tre thuộc phân họ Tre (Bambusoideae), họ Cỏ (Poaceae) với khoảng 1300 loài thuộc 70 chi phân bố trên toàn thế giới. Theo thống kê có trên 14 triệu ha rừng tre phân bố từ 510 vĩ Bắc đến 470 vĩ Nam đều có tre sinh trưởng.
Nhiều loài tre có đặc tính mọc thành rừng. Nước nhiều tre nhất là Trung Quốc, với khoảng 50 chi và 500 loài và diện tích 7 triệu ha rừng tre. Nước nhiều tre thứ hai là Nhật Bản với 13 chi, trên 230 loài và diện tích 0,1 triệu ha rừng tre.Tiếp đó là các nước Ấn Độ, các nước Nam và Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam (Trần Ngọc Mão và nhóm tác giả, 2006). Về mặt địa lý, phân bố của tre trên toàn thế giới có thể chia làm 3 vùng: Vùng tre Châu Á - Thái Bình Dương, Châu Mỹ và Châu Phi.
Trong mỗi vùng hay mỗi nước có thể chia thành nhiều vùng phụ tuỳ theo khí hậu và các dạng tre. 6 n Về mặt phân loại, cho đến nay việc phân loại tre vẫn chưa thực sự chính xác, nguyên nhân là do tính đa dạng về loài, cũng như đặc tính ra hoa không thường xuyên của nhiều loài tre. Năm 1868 Munro lần đầu tiên đã đưa ra hệ thống phân loại tre với 120 loài thuộc 21 chi, chúng được chia làm 3 nhóm. Cơ sở của hệ thống phân loại này là số lượng nhị hoa và cấu trúc quả.
Late Bentham (1883) đã đưa cơ sở vào hệ thống phân loại của Munro và bổ sung thêm một số tiêu chuẩn khác như: Cấu trúc bông hoa, cụm hoa cũng như kiểu phát sinh hoa, để xây dựng bảng phân loại tre của mình với 4 nhóm phụ là: Arundinarieae, Bambuseae, Dendrocalameae và Melocanneae. Đây là hệ thống phân loại tre phổ thông nhất và đặt nền móng cho các bước phát triển, hoàn thiện việc phân loại tre sau này. Các nước phát triển ngày càng coi trọng cây tre và ưa thích các loại sản phẩm chế biến từ tre. Ở các nước Đông Á, nơi được coi là quê hương của cây tre, đang có xu hướng quay trở lại sử dụng loại vật liệu có nhiều đặc tính quý báu này trong mọi mặt của đời sống.
Ngành công nghiệp chế biến các sản phẩm từ tre đã ra đời và đang phát triển mạnh ở một số nước Châu Á. Đi đầu trong những nước này là Trung Quốc. Tre và các loại cây thuộc họ tre phát triển chủ yếu ở các tỉnh phía Nam Trung Quốc, những năm gần đây xuất khẩu hơn nửa triệu mét vuông mỗi năm. Mỗi hécta trồng tre chất lượng cao đem lại thu nhập 15.000 USD mỗi năm cho người nông dân Trung Quốc.
Các tác phẩm mỹ thuật tinh xảo được dệt thủ công từ sợi tre (được chẻ nhỏ và chế biến bằng công nghệ hiện đại) được xuất sang thị trường Singapore gần đây với số lượng đáng kể. Trái với quan niệm trước đây là cây tre làm đất bạc màu, kết quả nghiên cứu do Viện Nghiên cứu và Phát triển sinh thái (trụ sở ở Lugana, Philippines) cho thấy cây tre đã cải tạo thành công ở những vùng đất bị tro núi lửa Pinatubo huỷ hoại. Cây tre có sức sống mãnh liệt ở cả những vùng đất bạc màu, cằn cỗi hay đất bị ô nhiễm. Viên nghiên cứu này cũng khẳng định bộ rễ của cây tre có tác dụng ổn định nhất, chống xói mòn đất, chống xói lở bờ sông, tre mọc ken dày có thể làm giảm cường độ của gió, giảm sự tàn phá của những cơn bão và gió lốc.
Người Nhật đã từng trồng thí nghiệm tre trên một vùng đất ở gần Hiroshima -thành phố bị 7 n tàn phá bởi bom nguyên tử năm 1945. Cây tre đã đâm chồi trên đất nhiễm phóng xạ ở đây sau khi được trồng vài tháng.