Đặt vấn đề Theo Tổ chức Nông lương Liên Hợp Quốc (FAO, 2017), có đến khoảng 2/3 diện tích trồng lương thực trên thế giới cần các loài động vật hoặc côn trùng (đặc biệt là ong) thụ phấn. Theo FAO (2017), ong là một trong những sinh vật chăm chỉ nhất trên hành tinh này vì chúng cung cấp một “dịch vụ sinh thái” cực kỳ quan trọng: đảm bảo sự thụ phấn của nhiều loài thực vật, bao gồm cả trồng trọt lẫn hoang dã, và chúng cũng là một phần không thể thiếu của đa dạng sinh học. Loài thụ phấn như ong ảnh hưởng đến 35% sản lượng cây trồng trên thế giới, tăng sản lượng của 87 loại cây lương thực hàng đầu trên toàn thế giới, cùng với nhiều loại thuốc có nguồn gốc từ thực vật,…Để để cao giá trị của các loài ong (đặc biệt là ong mật), tại cuộc họp của Đại hội đồng Liên Hợp Quốc họp ngày 17/12/2017 đã quyết định chọn ngày 20/05 hằng năm là Ngày Ong thế giới (FAO, 2017). Điều này giống như một sự tri ân tới loài ong vì đã giúp ngăn chặn được khủng hoảng lương thực toàn cầu.
Những loài ong được biết đến rộng rãi hiện nay chủ yếu thuộc họ Ong mật (Apidae), với các sản phẩm từ chúng là mật ong, sáp ong, keo ong,…Họ Ong mật chia thành hai chi nhỏ là Apis, với loài có ngòi nhỏ ở đốt cuối bụng của những con ong thợ và Meliponi là những loài khồng có ngòi đốt. Ong không ngòi đốt là một loài ong nhỏ và nhỏ hơn rất nhiều so với các loại ong khác như ong ruồi, ong khoái và ong mật nội địa,. Kích thước của chúng chỉ vài miliner, có loài có thể hơn 1cm. Về màu sắc: ong không ngòi đốt đa dạng màu sắc từ đen, vàng, hồng,.
Chúng hay làm tổ trong các hốc cây, trụ gỗ hàng rào, vết nứt trên tường hay móng nhà,. Chúng là một loài thuộc họ Ong mật, chúng thu thập phấn hoa và mật hoa tích trữ trong tổ, phấn hoa dùng để bổ sung protein còn mật ong hoa bổ sung năng lượng và được luyện thành mật ong. Mật của ong không ngòi đốt được đánh giá là loại mật ong ngon và bổ dưỡng nhất thế giới. Tuy nhiên, sản lượng mật của 1 chúng không nhiều, mỗi năm chúng chỉ cho 0,1 – 0,14 lít mật, 40 – 45 gram phấn hoa và 70 gram sáp ong.
Ong không ngòi đốt sống chủ yếu ở các nước nhiệt đới và cận nhiệt đới trên thế giới và chúng là loài côn trùng thụ phấn chính cho các loài thực vật có hoa ở vùng nhiệt đới. Tetragomula lavieceps là một loài ong thuộc chi ong không ngòi đốt thường được tìm thấy ở các khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới (Putra et al., 2017; Suriawanto et al. Không giống như ong mật, T.laeviceps không có ngòi đốt và tổ hình lục giác, tổ của chúng thường có hình bầu dục và có thể phân loại thành các ổ đựng trứng và ổ đựng thức ăn (Roubik, 2016).laeviceps sản xuất ít mật hơn các loài ong mật (Chanchao,2013) nhưng chúng lại tạo ra một lượng keo ong nhiều hơn gấp sáu lần so với lượng mật (Kothai & Jayanthi, 2015). Tetragonula laeviceps có tính chống chịu với bệnh cao, khả năng tìm kiếm thức ăn tốt nhưng chúng lại rất mẫn cảm với sự thay đổi thất thường của thời tiết.
Ở điều kiện nhiệt độ không ổn định rất dễ làm chúng bị nhiễm bệnh. Chúng là loài sinh sống chủ yếu ở các nước nhiệt đới và cận nhiệt đới nên chúng là những sinh vật thụ phấn chính cho các loài thực vật có hoa tại đây. Vì vậy để giải quyết các vấn đề trên và được sự phân công của Bộ môn Côn trùng – Khoa Nông học – Học viện nông nghiệp Việt Nam, dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Phạm Hồng Thái, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “ Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của ong không ngòi đốt Tetragonula laeviceps và hiệu quả thụ phấn trên cây cà chua và ớt ngọt tại DaLat Hasfarm năm 2021”. Mục đích và yêu cầu 1.
Mục đích Dựa trên kết quả nghiên cứu về một số đặc điểm sinh học và hiệu quả thụ phấn của ong không ngòi đốt với cà chua và ớt ngọt trồng trong điều kiện nhà lưới từ đó đề ra biện pháp nhân nuôi và sử dụng chúng để thụ phấn cho cây trồng nông nghiệp công nghệ cao. Yêu cầu - Nghiên cứu được đặc điểm sinh học của ong không ngòi đốt. - Nghiên cứu được hiệu quả thụ phấn của ong không ngòi đốt với cà chua và ớt ngọt trong điều kiện nhà lưới tại DaLat Hasfarm. 3 PHẦN 2: TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 2.
Hệ thống học và phân loại về ong không ngòi đốt Trong hệ thống phân loại ong không ngòi đốt thuộc Giới động vật : Animalia Ngành Chân khớp : Athropoda Lớp Côn trùng : Insecta Bộ Cánh màng : Hymenoptera Tổng họ Ong mật : Apoidae Họ Ong mật : Apidae Tông Ong không ngòi đốt : Meliponini Chi Ong không ngòi đốt : Tetragonula Loài Tetragonula lavieceps Homotrigona fimbriata Lepidotrigona terminata Lepidotrigona ventralis Lisotrigona carpente Tetragonula fuscobalteata Tetragonula lavieve Tetragonula iridipennis Tetrigona apicalis,……. Ong không ngòi đốt sống ở các khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới trên thế giới (Châu Phi, Châu Úc, Trung và Nam Mỹ). Ong không ngòi đốt được cho là có nguồn gốc từ châu Phi. Một số loài có mặt trong rừng mưa, xavan và cũng là nơi chuyển tiếp giữa các thảm thực vật (Peter & cs.
After Sakagami (1982) Hình 2.1: Phân bố của ong không ngòi đốt (khu vực màu xanh) Có khoảng 20.000 loài ong khác nhau (Michenner, 2007). Trong số đó, ong không ngòi đốt và ong mật là có cùng cấp tiến hóa xã hội cao nhất. Theo Velthuis (1997), ong không ngòi đốt xuất hiện ở tất cả các vùng lục địa trên thế giới. Tuy nhiên, ngoài tự nhiên thì ong không ngòi đốt được tìm thấy ở các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới.
Theo Kerr & Maule (1964), Nam Mỹ được coi là trung tâm nguồn gốc và phát tán của ong không ngòi đốt với 183 loài, Châu Phi có 32 loài, châu Á có 42 loài và 20 loài từ Úc, New Guinea và đảo Solomon. Tại Việt Nam, có sáu loài được ghi nhận bởi Sakagami (1975), ba loài được nghiên cứu bởi Chinh & cs. Theo Thai & Thuong (2020), có tổng cộng 9 loài ong không ngòi đốt được ghi nhận, điều này làm tăng thêm số lượng đa dạng về loài ở Việt Nam. + Homotrigona fimbriata + Lepidotrigona terminata + Lepidotrigona ventralis + Lisotrigona carpente + Tetragonula fuscobalteata 5 + Tetragonula lavieve + Tetragonula iridipennis + Tetrigona apicalis Một đàn ong không đốt bao gồm: ong chúa, ong thợ và ong đực (Michener, 2000).
Cấu trúc của tổ ong không ngòi đốt được sắp xếp nhiều khu( khu dự trữ mật, phấn hoa, và khu để xây các lỗ tổ cho ong chúa đẻ trứng) và chỉ có một lối vào (Kuma & cs. Những con ong không ngòi đốt bay ra ngoài tìm kiếm thức ăn và vật liệu cần thiết cho sinh hoạt hàng ngày của chúng, bao gồm: Phấn hoa và mật hoa cung cấp protein và các nhu cầu dinh dưỡng khác. Nước làm mát tổ ong và cho quá trình trao đổi chất. Nhựa và các vật liệu thực vật khác để làm tổ.
Đàn ong không ngòi đốt khác với ong mật ở điểm chúng không đốt mà thay vào đó chúng bảo vệ tổ bằng cách cắn hoặc chui vào những vùng như mắt, tai, mũi,. Một số đặc điểm của ong chúa của ong không ngòi đốt Trong thực tế, có thể dễ dàng nhận ra lỗ tổ ong chúa bởi kích thước lớn hơn. Ấu trùng duy nhất sẽ trở thành ong chúa được nuôi bằng sữa ong chúa, trong khi ấu trùng ong thợ và ong đực được cho ăn chất sữa khác.Tất cả thức ăn cần thiết cho sự phát triển từ trứng đến trưởng thành được các con ong thợ cung cấp vào lỗ tổ đã được xây trước đó. Sau khi thức ăn đã được cung cấp, ong chúa đẻ một quả trứng lên trên thức ăn.
cuối cùng ong thợ vít nắp ổ lại (Michener, 2000). Giống như hầu hết các loài côn trùng xã hội, ong chúa báo hiệu sự hiện diện của mình với ong thợ của mình thông qua pheromone. Phản ứng của ong thợ với pheromone ong chúa bao gồm sự hình thành xung quanh ong chúa, ức chế xây lỗ tổ ong chúa và ức chế buồng trứng của ong thợ phát triển (Nunes & cs. 6 Ong không ngòi đốt là ong có đặc tính xã hội.
Chúng là loài phát triển gần nhất với ong vò vẽ, nhưng vì ong chúa khác biệt đáng kể với ong thợ và các tổ của chúng tồn tại lâu hơn bởi các ong chúa độc lập, nên sinh học của ong không ngòi đốt tương đồng ong mật ( Nunes & cs. Ong không ngòi đốt sống trong tổ bao gồm hàng trăm hoặc hàng ngàn ong thợ và một ong chúa. Chỉ có ong chúa mới có thể đẻ trứng, trứng được thụ tinh nở ra sẽ là con cái, nhưng ong thợ vẫn có buồng trứng và một số ong thợ đẻ trứng không được thụ tinh hoặc được ong chúa ăn làm nguồn thức ăn hoặc để phát triển thành con đực (Nunes & cs. Ở ong không ngòi đốt, việc đẻ trứng của ong chúa được đi kèm với sự tương tác mang tính nghi thức cao giữa ong chúa và ong thợ.
Đầu tiên, tất cả thức ăn cần thiết cho sự phát triển từ trứng đến trưởng thành đều được các ong thợ bơm vào một lỗ tổ mới được xây dựng. Sau khi đã xây hoàn chỉnh lỗ tổ, ong chúa đẻ một quả trứng vào đó. Cuối cùng, các ong thợ đóng nắp lỗ tổ lại (Nunes & cs. Camargo (1972) đã có những nghiên cứu về sản xuất ong chúa nhân tạo và phát triển một kỹ thuật nuôi ấu trùng ong không ngòi đốt trong ống nghiệm.
trong các điều kiện được kiểm soát, dựa trên các phương pháp hiện có để nuôi ong. Các lỗ tổ nhân tạo được xây dựng bằng sáp ong và chứa đầy thức ăn của ấu trùng được lấy từ các lỗ tổ đã được xây dựng gần đây. Một ấu trugng non từ một lỗ tổ sau đó đã được chuyển đến lỗ tổ nhân tạo này, nơi có thể thêm nhiều thức ăn ấu trùng hơn các lỗ tổ tự nhiên. Các lỗ tổ nhân tạo sau đó được đóng lại và giữ trong lồng ấp với điều kiện môi trường được kiểm soát chặt chẽ.
Theo cách này, tất cả ấu trùng cái có thể trở thành ong chúa. Nuôi ong chúa trong ống nghiệm là một cách hiệu quả để có được số lượng lớn ong chúa ong không ngòi đốt.