Đặt vấn đề Cây Kháo vàng (Machilus bonii Lecomte) thuộc họ Long não (Lauraceae) là loài cây bản địa đa tác dụng có giá trị kinh tế cao, sinh trưởng nhanh, dễ gây trồng, phù hợp với nhiều loại đất và nhiều vùng sinh thái khác nhau. Cây cao 25-30cm, thân thẳng, thuôn đều, đường kính ngang ngực đạt 70-100cm, phân cành cao trên 5m. Là loài cây có biên độ sinh thái rộng. Ở Việt Nam, chúng phân bố rải rác trong rừng nguyên sinh và thứ sinh thuộc các tỉnh Bắc Giang, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Phú Thọ,…Thích hợp ở nơi có khí hậu ẩm nhiệt đới mưa mùa, lượng mưa bình quân 800- 2500mm/năm, nhiệt độ bình quân 20-270C.
Trong vùng phân bố, cây Kháo vàng sinh trưởng tốt trên đất Feralit đỏ vàng hoặc vàng đỏ phát triển trên đá mácma axit hoặc sa thạch, phiến thạch. Là loài cây ưa sáng, thường mọc ở nơi đất có tầng dầy, nhiều mùn, thoát nước. Cây chịu bóng nhẹ khi còn nhỏ, lớn lên ưa sáng, tốc độ sinh trưởng khá nhanh, mỗi năm tăng trưởng khoảng 1m về chiều cao và 1cm về đường kính. Thích hợp trồng hỗn giao với một số loài cây lá rộng khác nên phương thức làm giầu rừng bằng Kháo vàng triển vọng tốt.
Gỗ Kháo vàng giác lõi phân biệt, giác trắng, lõi có mầu vàng nhạt, mịn thớ, khá cứng và nặng, tỷ trọng 0,7; xếp nhóm VI. Gỗ có mùi thơm và khá bền với mối mọt nên thường dùng để đóng đồ gia dụng như bàn, ghế, giường, tủ, dùng trong xây dựng, giao thông vận tải, nguyên liệu gỗ bóc dán lạng. Vỏ cây Kháo vàng dùng để làm thuốc chữa bỏng và chữa đau răng. Trong những năm qua, do nhiều nguyên nhân khác nhau, nên diện tích, trữ lượng rừng cũng như nguồn gen thực vật rừng nước ta bị suy giảm mạnh, khiến cho khả năng phòng hộ và cung cấp gỗ, lâm sản cho quá trình phát triển kinh tế - xã hội bị hạn chế.
Việc chuyển hướng từ khai thác sử dụng rừng tự h 2 nhiên sang sử dụng khai thác từ rừng trồng để đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế quốc dân, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn, tạo thu nhập, ổn định đời sống cho cộng đồng dân cư các dân tộc miền núi là việc làm cần thiết và có tính cấp bách. Một nhiệm vụ quan trọng của ngành Lâm nghiệp đang nỗ lực thực hiện, ngoài mục tiêu kinh tế thì các mục tiêu về bảo vệ môi trường sinh thái, phục hồi hệ sinh thái rừng, bảo vệ đa dạng sinh học và phát triển các loài cây bản địa có ý nghĩa quan trọng đặc biệt. Nhiều loài cây bản địa đã được đưa vào trồng rừng và cũng có những loài cây đang được nghiên cứu triển khai có nhiều triển vọng. Cây Kháo vàng được lựa chọn là cây bản địa phục vụ trồng rừng kinh doanh gỗ lớn cho các tỉnh Đông Bắc Bộ theo quyết định số 774/QĐ-BNN-TCLN [1] về Kế hoạch hành động nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị rừng trồng sản xuất giai đoạn 2014 – 2020.
Xuất phát từ những lý do trên, nhằm tạo cơ sở khoa học cho việc tạo giống, gây trồng loài Kháo vàng trong các mô hình làm giàu rừng, rừng trồng cây gỗ lớn bằng cây bản địa, chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu đặc điểm sinh học và kỹ thuật gây trồng loài Kháo vàng (Machilus bonii Lecomte) tại trạm thực nghiệm Sơn Dương, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang”. Mục tiêu nhiên cứu - Xác định được một số đặc điểm hình thái, sinh thái loài Kháo vàng. - Xác định kỹ thuật gây trồng loài Kháo vàng tại trạm thực nghiệm Sơn Dương. Ý nghĩa của đề tài 1.
Ý nghĩa học tập và nghiên cứu khoa học - Củng cố kiến thức đã học, hệ thống lại kiến thức đã học, bổ sung kiến thức chuyên môn và vận dụng vào thực tế sản xuất. h 3 - Làm cơ sở tài liệu cho những đề tài và nghiên cứu có liên quan.Ý nghĩa trong thực tiễn sản xuất - Qua những đánh giá cụ thể về sinh trưởng của loài cây Kháo vàng chúng ta có thể tìm ra được các giải pháp cho sự phát triển tốt nhất của cây.làm cơ sở cho công tác bảo tồn và phát triển loài Kháo hoa vàng. - Cung cấp thông tin về sinh trưởng và phát triển loài cây Kháo vàng tại tại trạm thực nghiệm Sơn Dương, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang. - Bên cạnh đó việc học tập của các sinh viên đặc biệt là sinh viên khoa Lâm nghiệp rất cần những địa điểm để thực hành nghiên cứu sau những giờ học, để giúp sinh viên có thể nắm chắc được những kiến thức lý thuyết trên lớp.
h 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2. Những nghiên cứu trên thế giới 2. Những nghiên cứu về đặc điểm hình thái và sinh vật học Trung tâm Nông lâm kết hợp thế giới (World Agroforestry Centre, 2006) [20], Kebler, Sidiyasa, Vối thuốc (Schima wallichii) và đã mô tả tương đối chi tiết về đặc điểm thân, lá, hoa, quả, hạt của loài cây này, góp phần cung cấp cho việc gây trồng và nhân rộng loài Vối thuốc trong dự án trồng rừng. Trên thế giới nhiều nhà khoa học đã quan tâm mô tả hình thái loài Căm xe và được Troup và Joshi, đã tổng hợp tương đối đầy đủ về thân, cành, lá và các cơ quan sinh sản.
Lacher, đã chỉ rõ vấn đề nghiên cứu trong sinh thái thực vật như: Sự thích nghi với các điều kiện dinh dưỡng khoáng, ánh sáng, nhiệt độ, độ ẩm, khí hậu. Khamleck (2004), họ Dẻ có phân bố khá rộng, khoảng 900 loài chúng được tìm thấy ở vùng ôn đới Bắc bán cầu, cận nhiệt đới và nhiệt đới, xong chưa có tài liệu nào công bố chúng ở vùng nhiệt đới Châu Phi. Hầu hết các loài phân bố tập trung ở Châu Á, đặc biệt là Việt Nam có tới 216 loài và ít nhất là Châu Phi và Vùng Địa Trung Hải chỉ có 2 loài. Kết quả nghiên cứu về loài cây Căm xe, cây Giáng hương, cây Vối thuốc của một số nhà khoa học trên thế giới cho thấy: Nghiên cứu về hình thái: Trên thế giới nhiều nhà khoa học đã quan tâm mô tả hình thái loài Căm xe và được Nair và cs (1991), Troup và Joshi (1983), đã tổng hợp tương đối đầy đủ về thân, cành, lá và các cơ quan sinh sản.
Căm xe có nhiễm sắc thể n =12 (Mehra PN, Hans AS, 1971). Giá trị sử dụng: Gỗ Căm xe cứng, mịn có mầu nâu đỏ rất bền, dùng để h 5 xây dựng nhà cửa, các công trình có tính chịu lực (Cheriyan PV và cs, 1987), dùng làm các công cụ như: cày, bừa, trụ tiêu,… (Gamble, 1972, Chudnoff, 1984). Vỏ cây có nhiều tanin dùng để thuộc da (Troup và Foshi (1983), vỏ quả để chữa bệnh ho ra máu, ngoài ra còn có thể làm thuốc chữa bệnh lậu, ỉa chảy, xổ giun (Sosef và cs, 1998). Hạt Căm xe có dầu, Protein là loại thực phẩm cao cấp nhưng chưa được sử dụng, (Dẫn theo Vương Hữu Nhị, 2004) [17].
Trung tâm Nông lâm kết hợp thế giới (World Agroforestry Centre, 2006), Kebler, Sidiyasa (1994), [20] Vối thuốc là cây thường xanh, kích thước từ trung bình đến lớn, có thể đạt tới chiều cao 47m, chiều cao dưới cành có thể đạt 25m, đường kính D1,3 đạt tới 125cm. Vỏ dày, bề mặt xù xì, màu nâu đến xám đen, mặt trong của vỏ có màu đỏ nhạt, trong vỏ có sợi gây ngứa. Lá hình thuôn đến elip rộng, kích thước lá từ 6-13cm x3-5cm, đáy lá hình nêm, đỉnh lá nhọn, có từ 6-8 đôi gân, cuống lá dài khoảng 3mm. Hoa mọc tại nách lá nơi đầu cành với 2 lá bắc, đài hoa đều nhau, cánh hoa màu trắng hồng, có nhiều nhị.
Nhụy hoa lớn, có 5 ngăn với từ 2-6 noãn mỗi ngăn. Quả nang hình bán cầu, đường kính từ 2-3cm, vỏ quả nhẵn. Vối thuốc có thể ra hoa từ tuổi 4, hoa và quả xuất hiện quanh năm, tuy nhiên hoa ra tập trung theo mùa. Quả có cánh và phát tán nhờ gió.
Gỗ Giáng hương được dùng làm các nông cụ, dùng trong xây dựng, đóng đồ cao cấp. Vỏ cây Giáng hương có chứa tanin, nhựa có mầu đỏ dùng nhuộm quần áo (Peass, 1932; Coles và Boyle, 1999), rễ có nốt sần làm giầu đạm cho đất (Saw, 1984). Giáng hương có thân hình đẹp, nên được trồng ở các đường phố,… (Ranthket, 1989; Phuang và Liengsiri, 1994), (Dẫn theo Hà Thị Mừng, 2004) [3]. Phân bố và sinh thái: Loài cây Căm xe phân bố tự nhiên ở Bắc bán cầu từ vĩ độ 12-250N, các nước châu Á như Ấn độ, Bangladesh, Campuchia, Malaysia, Lào, Singapo, Thái Lan, Việt Nam.
Châu Phi như: Nigeria, Uganda h 6 (Sosef và cs, 1998). Nhiệt độ tối cao tuyệt đối 37,5 - 47,50 C, tối thiểu tuyệt đối 2,50C; Độ ẩm không khí trung bình 70 - 80%; Lượng mưa bình quân hàng năm thay đổi từ 1000 - 5000mm (Troup và Joshi, 1983). Căm xe sinh trưởng được trên nhiều loại đất phát triển trên nền đá mẹ khác nhau như: Đá Granit, Gnai, Phiến thạch, Bazan, Quartzit,… (Troup 1983 Nair và cs 1991, Luna 1996) (Dẫn theo Vương Hữu Nhị, 2004) [17]. Giáng hương có phân bố tự nhiên trong rừng bán thường xanh và rừng khộp ở Myanma, Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam (Cole và Boyle, 1999).
Giáng hương thường sống ven suối, nơi gần nguồn nước, ở độ cao 100 - 800m trên mặt nước biển, nhiệt độ tối cao tuyệt đối 37,7 - 44,40C, nhiệt độ tối thấp tuyệt đối 4,4 - 11,20C, lượng mưa bình quân 890 - 3570mm/năm (chủ yếu ở vùng có lượng mưa 1270-1520mm/năm). Giáng hương mọc trên đất phát triển từ các loại đá mẹ khác nhau nhưng tốt nhất trên đất cát pha (Bunyaveijchewin, 1983; Chanpaisang, 1994) (Dẫn theo Hà Thị Mừng, 2004) [3]. Nghiên cứu về cấu trúc quần thể: Giáng hương thường mọc hỗn loài với các loài Căm xe, Gõ đỏ, Bằng lăng, Chiêu liêu, Bình linh, Cẩm liên,… ít khi mọc thành đám (Bunyaveijchewin, 1983; Shahunalu, 1995). Nghiên cứu về đặc điểm sinh lý của cây: Với loài cây Căm xe là cây chịu sáng lúc còn nhỏ, cây có khả năng tái sinh hạt, chồi gốc và chồi rễ đều mạnh, rải rác ở dưới tán rừng (Troup, 1983).
Căm xe có khả năng chịu được cháy và sống sót cao hơn một số loài cây khác trong một quần thể, cây lúc còn nhỏ khả năng chịu hạn kém (Vương Hữu Nhị, 2004) [17]. Với loài cây Vối thuốc: là cây chịu rét tốt, cây có thể sống được ở nhiệt độ không khí -30C, nếu nhiệt độ thấp duy trì trong thời gian dài thì ngưỡng sinh thái nhiệt là 0-50C. Nếu ngẫu nhiên có sương giá 3 ngày liên tục thì chỉ những cây non mới bị hại ở đỉnh ngọn (Chetri Deepak B. Khatry and Fowler Gary W, 1996).
Vối thuốc chịu được nhiệt độ cao.