Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 1. Cơ sở khoa học của đề tài Nền kinh tế của nước ta hiện nay ngày càng phát triển và hội nhập cùng nền kinh tế thế giới, diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp do sự phát triển của công nghiệp, chính vì vậy Đảng và nhà nước đã có những chủ trương, chính sách thúc đẩy sự phát triển nông nghiệp, nông thôn, để đảm bảo an ninh lương thực trong nước và phục vụ xuất khẩu. Đối với sản xuất nông nghiệp, giống là một yếu tố quyết định đến năng suất chất lượng sản phẩm, các biện pháp kỹ thuật áp dụng vào canh tác chỉ có thể đạt được hiệu quả cao trên cơ sở các giống tốt chính vì vậy phải cải thiện cơ cấu giống cũ có năng suất thấp, chất lượng kém bằng các loại giống mới có năng suất cao, chất lượng tốt, chống chịu tốt, phù hợp với điều kiện khí hậu, thổ nhưỡng tại địa phương. Thái Nguyên là tỉnh thuộc vùng Trung du phía Bắc, diện tích đất nông nghiệp chiếm tỷ lệ rất nhỏ 12,4%.
Ở Thái Nguyên, ngô được trồng trên đất không chủ động nước do đó năng suất, sản lượng ngô hàng năm của Thái Nguyên còn ở mức rất thấp. Giải pháp tốt nhất là cần liên tục đưa những giống ngô mới và áp dụng các biện pháp kỹ thuật vào canh tác sản xuất nhằm đảm bảo và nâng cao năng suất ngô hiện tại của tỉnh một cách bền vững, hiệu quả. Trong quá trình chọn tạo giống, việc đánh giá tổ hợp lai là giai đoạn rất quan trọng để loại bỏ các tổ hợp lai có ưu thế lai thấp trước khi đưa ra sản xuất. Để chọn tổ hợp lai tốt được chính xác, quá trình đánh giá tổ hợp lai cần phải tiến hành lặp lại nhiều vụ và ở nhiều vùng sinh thái khác nhau.
Tình hình sản xuất ngô trên thế giới và Việt Nam 1. Tình hình sản xuất ngô trên thế giới Ngô là cây lương thực quan trọng trong nền kinh tế, mặc dù chỉ đứng thứ 02 về diện tích sau lúa nước nhưng ngô lại đứng đầu về năng suất và sản lượng. 5 Ngô là cây ngũ cốc có nguồn gốc từ Trung Mỹ, nhưng do có khả năng thích ứng rộng nên ngày nay ngô đã được trồng khắp các châu lục. Do có giá trị kinh tế rất lớn nên sản xuất ngô trên thế giới ngày càng phát triển.
Tình hình sản xuất ngô trên thế giới năm 2006 - 2016 Diện tích Năng suất Sản lượng Năm (triệu ha) (tạ/ha) (triệu tấn) 2006 146,74 48,17 706,85 2007 158,39 49,89 790,12 2008 162,69 51,06 830,61 2009 158,74 51,67 820,20 2010 164,03 51,90 851,27 2011 172,26 51,54 887,85 2012 178,55 48,88 872,79 2013 185,67 54,80 1017,54 2014 183,32 55,72 1021,54 2015 182,49 55,37 1010,60 2016 187,95 56,40 1060,10 Nguồn: FAO, 2018[44] Số liệu thống kê cho thấy: sản xuất ngô trên thế giới giai đoạn 2006 - 2016 có sự tăng trưởng đáng kể về diện tích, năng suất, sản lượng. Năm 2006, diện tích trồng ngô của thế giới mới chỉ đạt 146,74 triệu ha nhưng năm 2016 đã tăng lên đạt 187,95 triệu ha, tăng 28,08%; năng suất ngô trung bình thế giới năm 2006 đạt 48,17 tạ/ha, năm 2016 tăng lên 56,40 tạ/ha, tăng 17,08%; sản lượng năm 2006 đạt 706,85 triệu tấn, đến năm 2016 sản lượng đạt 1.060,10 triệu tấn, tăng 49,99%. Có được kết quả này là nhờ có cuộc cách mạng về chọn tạo giống ngô, đặc biệt là giống ngô lai và các biện pháp kỹ thuật canh tác mới được đưa vào áp dụng trong sản xuất. 6 Sản lượng ngô trên thế giới tăng mạnh, năm 2016 tăng 353,25 triệu tấn so với năm 2006.
Trong thời gian tới diện tích trồng ngô thay đổi không lớn vì do quá trình đô thị hóa, sự phát triển của công nghiệp, dân số tăng, bên cạnh đó một số diện tích gieo trồng không còn hiệu quả sẽ bị bỏ hoang không trồng trọt. Mặc dù diện tích không thay đổi nhiều nhưng năng suất và sản lượng sẽ tiếp tục tăng lên, dự báo năm 2050, sản lượng ngô sẽ đạt 1.343 triệu tấn, diện tích thu hoạch đạt 156 triệu ha và năng suất là 86 tạ/ha (Deepak and et all, 2013) [43]. Trên thế giới, vị trí của cây ngô đã được khẳng định ở nhiều vùng, nhiều quốc gia khác nhau. Tuy nhiên, do sự khác nhau về điều kiện tự nhiên, khí hậu và kỹ thuật canh tác nên sản xuất ngô có sự khác biệt rất lớn giữa các vùng, các châu lục.
Tình hình sản xuất ngô ở một số khu vực trên thế giới năm 2016 Diện tích Năng suất Sản lượng Khu vực (triệu ha) (tạ/ha) (triệu tấn) Châu Á 63,45 51,08 324,09 Châu Âu 17,75 66,16 117,41 Châu Mỹ 70,07 78,12 547,42 Châu Phi 36,61 19,27 70,56 Nguồn: FAO, 2018 [44] Số liệu bảng 1.2 cho thấy: Sản xuất ngô năm 2016 tập trung chủ yếu ở 2 châu lục là Châu Á và Châu Mỹ. Châu Mỹ có diện tích, sản lượng và năng suất cao nhất thế giới; năm 2016 diện tích đạt 70,07 triệu ha, năng suất đạt 78,12 tạ/ha, sản lượng đạt 547,42 triệu tấn. Châu Á có diện tích và sản lượng, đứng thứ 2 sau Châu Mỹ, với diện tích trồng ngô là 63,45 triệu ha, năng suất đạt 51,08 tạ/ha, sản lượng đạt 324,09 triệu tấn. 7 Châu Phi có diện tích đứng thứ 3 trên thế giới nhưng sản lượng ngô thấp nhất thế giới vì năng suất ngô rất thấp chỉ đạt 19,27 tạ/ha, nguyên nhân do điều kiện tự nhiên khí hậu khắc nghiệt, trình độ khoa học kỹ thuật và thâm canh còn thấp.
Hiện nay, Mỹ và Trung Quốc là hai quốc gia có diện tích trồng ngô lớn nhất và cao gấp nhiều lần so với các quốc gia khác trên thế giới. Các nước khác như Đức, Hy Lạp, Israel,. mặc dù năng suất ngô cao nhưng sản lượng vẫn còn thấp do diện tích trồng ngô chưa được mở rộng (FAO, 2018) [44]. Sản xuất ngô trên thế giới có sự khác biệt rất lớn về năng suất giữa các nước phát triển và các nước đang phát triển.
Những nước phát triển đứng đầu về năng suất ngô như Israel 341 tạ/ha, Italia 106,2 tạ/ha, Hy Lạp 119,6 tạ/ha, Đức 106,8 tạ/ha, Mỹ 109,6 tạ/ha. Trong khi đó những nước đang phát triển lại có năng suất ngô rất thấp như Ấn Độ 27,5 tạ/ha, Indonesia 29,6 tạ/ha, Mexico 34,7 tạ/ha. Nguyên nhân dẫn đến sự chênh lệch về năng suất là do sự khác biệt về khoa học kỹ thuật ứng dụng trong sản xuất. Ở các nước phát triển chủ yếu sử dụng các giống ngô có ưu thế lai cao, các nước đang phát triển, diện tích trồng giống ngô lai ít hơn.
Các nước đang phát triển do điều kiện kinh tế khó khăn, khả năng đầu tư thâm canh thấp nên chưa khai thác hết tiềm năng năng suất của giống. Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam Ở nước ta, cây ngô là cây trồng nhập nội được đưa vào Việt Nam khoảng 300 năm trước và đã trở thành một trong những cây trồng quan trọng trong hệ thống cây lương thực (Ngô Hữu Tình và cộng sự, 1997) [19]. Do có nhiều đặc điểm tốt như: Thích ứng rộng, chịu thâm canh, năng suất cao dễ sử dụng nên cây ngô sớm được người Việt chấp nhận và mở rộng sản xuất, đặc biệt trên những vùng đất cao, không chủ động nước. Với điều kiện tự nhiên đa dạng phong phú, cây ngô sinh trưởng phát triển và phổ biến khắp các vùng miền trên cả nước.
Trong những năm gần đây 8 chính sách của Đảng và nhà nước khuyến khích các tổ chức, cá nhân trong việc áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật về giống, kỹ thuật canh tác vào sản xuất nên cây ngô đã có những bước phát triển mạnh về diện tích, năng suất và sản lượng. Tình hình sản xuất ngô tại Việt Nam năm 2006- 2016 Diện tích Năng suất Sản lượng Năm (nghìn ha) (tạ/ha) (nghìn tấn) 2006 1033,1 37,3 3854,5 2007 1096,1 39,3 4303,2 2008 1440,2 31,8 4573,1 2009 1089,2 40,1 4371,7 2010 1126,4 41,0 4606,8 2011 1121,3 43,1 4835,7 2012 1156,1 43,0 4973,5 2013 1170,3 44,3 5190.8 2014 1178,6 44,1 5202,5 2015 1164,7 45,4 5287,3 2016 1151,8 45,5 5244,1 Nguồn: FAO, 2018 [44] Qua bảng số liệu 1.3 cho thấy năm 2006, diện tích trồng ngô của nước đạt 1.033,1 nghìn ha năng suất đạt 37,3 tạ/ha, sản lượng đạt 3. Năm 2016, diện tích gieo trồng ngô đạt 1.151,8 nghìn ha, tăng 118,7 nghìn ha so với năm 2006 (tăng 11,48%), sản lượng ngô đạt 5.244,1 nghìn tấn tăng 1.389,6 nghìn tấn so với năm 2006 (tăng 36,05%). Sản lượng ngô năm 2016 tăng cao so với năm 2006 do năng suất ngô cao đạt 45,5 tạ/ha tăng 29,98% so với năm 2006.
9 Có được kết quả trên là nhờ việc nghiên cứu và đưa vào sản xuất những giống ngô mới chọn tạo trong nước và nước ngoài, việc phát triển và sử dụng các giống ngô mới là động lực thúc đẩy sản xuất ngô phát triển. Để cây ngô Việt Nam phát triển một cách bền vững, đáp ứng trên 80% nguyên liệu chế biến thức ăn chăn nuôi và nâng cao hiệu quả kinh tế cho người sản xuất, cần mở rộng diện tích trồng ngô, quy hoạch vùng sản xuất ngô tập trung, sản xuất theo hướng hàng hóa tập trung quy mô lớn. Tuy năng suất ngô tăng nhanh trong những năm qua nhưng vẫn thấp hơn nhiều so với năng suất bình quân thế giới và các nước trong khu vực. Điều này đặt ra cho ngành ngô Việt Nam những thách thức và khó khăn lớn, đặc biệt trong xu thế hội nhập và phát triển như ngày nay, đòi hỏi đội ngũ chuyên môn cũng như các nhà khoa học trong cả nước phải nỗ lực nghiên cứu ra những giống ngô mới và cải thiện biện pháp canh tác để nâng cao năng suất, chất lượng ngô góp phần phát triển ngành nông nghiệp Việt Nam.
Ở Việt Nam cây ngô được trồng khắp hai miền Nam - Bắc, song do yếu tố đất đai, thời tiết, khí hậu nên năng suất và sản lượng ở các vùng có sự khác biệt rõ rệt. Vùng Trung du và miền núi phía Bắc do điều kiện tự nhiên khí hậu phức tạp, đất đai nghèo dinh dưỡng không thuận lợi cho canh tác lúa nên ngô trở thành một trong những cây lương thực quan trọng trong vùng đồng thời là vùng có diện tích trồng ngô lớn nhất cả nước với 509,5 nghìn ha chiếm 44,2% diện tích trồng ngô của cả nước nhưng đây lại là vùng có năng suất ngô thấp nhất cả nước. Năng suất ngô năm 2016 đạt 37,9 tạ/ha đạt, bằng 83,3% năng suất ngô trung bình của cả nước do ngô chủ yếu được trồng trên các nương rẫy có độ dốc lớn do bị rửa trôi và xói mòn đất, làm cho đất nghèo dinh dưỡng, khó thâm canh chăm sóc, điều kiện thời tiết diễn biến bất thường (rét, nắng nóng và khô hạn.), sâu bệnh hại khó kiểm soát phòng trừ.