Tổng quan luận án

Việt Nam sở hữu tổng đàn thủy cầm đạt trên 103,28 triệu con vào năm 2021, đứng thứ hai trên thế giới. Cơ cấu phân bố đàn thủy cầm tập trung tại Đồng bằng sông Hồng (28,93%), Đồng bằng sông Cửu Long (28,07%), Bắc Trung Bộ và duyên hải miền Trung (22,07%), miền núi và trung du (12,14%) và Tây Nguyên (2,99%). Trước diễn biến của biến đổi khí hậu, hiện tượng hạn hán và xâm nhập mặn diễn ra ngày càng phức tạp tại nhiều vùng ven biển, gây cản trở cho phát triển kinh tế nông nghiệp. Trong khi đó, cơ cấu giống vật nuôi có khả năng thích ứng với điều kiện môi trường mặn và lợ còn rất hạn chế.

Ba nguồn gen thủy cầm hiện có mang các đặc tính sinh học riêng biệt:

  • Vịt Biển 15 - Đại Xuyên có khả năng thích nghi môi trường nước ngọt, nước lợ và nước mặn nhờ hoạt động của tuyến muối ngoại tiết; năng suất trứng đạt 247,56 - 248,25 quả/mái/52 tuần đẻ; khối lượng vịt thương phẩm lúc 8 tuần tuổi đạt 2199 - 2296 g/con; tỷ lệ thịt xẻ trên 69%, nhưng tỷ lệ thịt lườn chỉ đạt 16 - 17%.
  • Vịt Trời có chất lượng thịt thơm ngon, khả năng kiếm mồi và thích nghi cao, song năng suất trứng thấp và khối lượng cơ thể nhỏ (1055,83 - 1196,63 g/con).
  • Vịt Star 53 (nhập nội từ tập đoàn Grimaud, Cộng hòa Pháp) là giống chuyên thịt cao sản; vịt thương phẩm 7 tuần tuổi đạt 3685,57 g/con, tiêu tốn thức ăn 2,28 kg/kg tăng khối lượng, tỷ lệ thịt lườn đạt 22,88%; vịt sinh sản có năng suất trứng đạt 220,08 quả/mái/42 tuần đẻ, nhưng khả năng tự kiếm mồi kém và phù hợp hơn với phương thức nuôi công nghiệp.

Khoảng trống nghiên cứu được xác định là việc thiếu các nghiên cứu hệ thống về lai tạo kết hợp nguồn gen giữa ba giống vịt trên nhằm tạo ra con lai hai giống sinh sản có năng suất trứng cao và con lai ba giống nuôi thịt thương phẩm đạt năng suất thịt cao, chất lượng tốt, đồng thời thích ứng với vùng sinh thái nước lợ và xâm nhập mặn.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định cụ thể:

  1. Mục tiêu tổng quát: Xác định được tổ hợp lai có năng suất và chất lượng phù hợp cho chăn nuôi vịt thích ứng với biến đổi khí hậu.
  2. Mục tiêu cụ thể:
  • Mục tiêu 2.1: Xác định được đặc điểm ngoại hình và khả năng sản xuất của tổ hợp lai hai giống (vịt Biển 15 - Đại Xuyên, vịt Trời) và tổ hợp lai ba giống (vịt Biển 15 - Đại Xuyên, vịt Trời, vịt Star 53).
  • Mục tiêu 2.2: Xác định được tổ hợp lai hai giống và ba giống phù hợp nhất phục vụ phát triển chăn nuôi thủy cầm.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Vịt Biển 15 - Đại Xuyên, vịt Trời, vịt Star 53; các tổ hợp lai hai giống BT (trống Biển x mái Trời), TB (trống Trời x mái Biển); các tổ hợp lai ba giống SBT (trống Star 53 x mái BT), STB (trống Star 53 x mái TB).
  • Không gian nghiên cứu: Thí nghiệm chuyên sâu thực hiện tại Trung tâm Nghiên cứu Vịt Đại Xuyên; thử nghiệm sản xuất thực hiện tại các trang trại, nông hộ thuộc 3 tỉnh (Quảng Ninh, Hải Phòng, Ninh Bình).
  • Thời gian nghiên cứu: Công trình được hoàn thành và bảo vệ học vị Tiến sĩ Nông nghiệp vào năm 2022.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã tổng hợp hệ thống các nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến các hướng nghiên cứu di truyền, lai tạo và các giống thủy cầm tham gia thí nghiệm:

Hướng nghiên cứu Tác giả và năm công bố Kết quả và phát hiện chính được trích dẫn
Lai tạo và ưu thế lai ở thủy cầm trong nước Ngô Văn Vĩnh (2005, 2008) Lai thụ tinh nhân tạo ngan R71 x vịt SM đạt tỷ lệ phôi >80%, khối lượng 70 ngày tuổi đạt 3320 - 3400 g; con lai ngan R71 x vịt M14 đạt 3601,3 g lúc 10 tuần tuổi, tiêu tốn thức ăn 2,90 kg/kg tăng trọng, tỷ lệ thịt xẻ 72,08%, thịt ức 16,87%, thịt đùi 12,83%.
Hoàng Thị Lan và cs. (2005, 2007) Chọn tạo dòng vịt T5 và T6 từ CV-Super M; con lai T5 x T6 thể hiện ưu thế lai siêu trội về khối lượng đạt 10,2%, tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng là -2,35%; tỷ lệ nuôi sống giai đoạn 0 - 8 tuần tuổi đạt 96 - 100%.
Nguyễn Ngọc Dụng và cs. (2008, 2015) Cặp lai SM (trống ông x mái bà) có tỷ lệ nuôi sống 98,67%, ưu thế lai khối lượng 1,72%, tiêu tốn thức ăn 2,62 kg. Tổ hợp 4 dòng TC1234 đạt khối lượng 8 tuần tuổi 3712,33 g (ưu thế lai 4,66%), FCR 2,54 kg (ưu thế lai -4,84%), năng suất trứng 48 tuần đạt 252,82 quả (ưu thế lai 10,07%).
Doãn Văn Xuân và cs. (2011a) Con lai CV2000 Layer x vịt Cỏ có tuổi đẻ thấp hơn vịt CV2000 dòng mái; tỷ lệ đẻ đạt 75,7% (vịt Cỏ đạt 55%, CV2000 dòng mái đạt 53%).
Bùi Hữu Đoàn và cs. (2017) Vịt lai F1 (SC x SM3) giữa vịt Sín Chéng và Super M3 lúc 8 tuần tuổi đạt 2647,98 g, ưu thế lai đạt 9,62%.
Lê Thanh Hải (2012) Tổ hợp lai 4 dòng V12517 sử dụng trống dòng V12 vượt trội tổ hợp V2517 về sinh trưởng, sử dụng thức ăn và tỷ lệ thịt xẻ, thịt đùi, thịt ức.
Nghiên cứu về các giống vịt thí nghiệm Nguyễn Văn Duy và cs. (2016, 2020a) Vịt Biển 15 có năng suất trứng 247,56 - 248,25 quả/mái/52 tuần, FCR/10 trứng là 3,48 - 3,6 kg. Vịt Star 53 nuôi thịt 7 tuần tuổi đạt 3685,57 g, tiêu tốn thức ăn 2,28 kg/kg tăng trọng, tỷ lệ thịt xẻ 72,37%, thịt lườn 22,88%.
Lê Thị Mai Hoa và cs. (2018) Vịt Biển nuôi thương phẩm tại Quảng Ninh, Hải Phòng, Ninh Bình đạt tỷ lệ sống >98%, khối lượng 10 tuần tuổi đạt 2605 - 2657 g/con, tiêu tốn thức ăn 2,70 - 2,78 kg/kg tăng trọng.
Vương Thị Lan Anh (2020) Vịt Biển 15 nuôi tại các độ mặn khác nhau có tỷ lệ sống cao, năng suất trứng cao nhất ở độ mặn 11 - 20‰ đạt 248,63 quả/mái/52 tuần đẻ; khối lượng 8 tuần tuổi thế hệ 3 đạt 1835,43 g (trống) và 1762,43 g (mái).
Nguyễn Đăng Cường (2018) Vịt Trời Châu Á nuôi tại miền Bắc: tuổi đẻ 5% lúc 29 tuần tuổi, tỷ lệ đẻ cao nhất 55 - 61%, năng suất trứng 44 tuần đẻ đạt 26,65 quả/mái, khối lượng trứng 62,43 g, tỷ lệ có phôi 96,43 - 97,67%, tỷ lệ nở/phôi 88,13%.
Bùi Hữu Đoàn (2021) Thân thịt vịt Trời 13 tuần tuổi đạt tỷ lệ thân thịt 65,3%, cơ đùi 10,0%, cơ lườn 14,1%.
Nguyễn Quý Khiêm và cs. (2018) Vịt Star 53 ông bà nuôi đến 24 tuần tuổi có tỷ lệ sống 91,96 - 94,01%; năng suất trứng 48 tuần đẻ của dòng B đạt 200,57 quả, dòng D đạt 249,58 quả; tiêu tốn thức ăn/10 trứng tương ứng là 4,58 kg và 3,63 kg.
Nghiên cứu quốc tế về lai tạo và sinh lý thích ứng Kokoszyński và cs. (2019) Con lai giữa vịt Bắc Kinh x vịt Star 53 tại 49 ngày tuổi có tỷ lệ thịt lườn đạt 17,1% (trống), 16,3% (mái); tỷ lệ thịt đùi đạt 12,1% (trống), 13,4% (mái).
Kim và cs. (2010) Lai vịt địa phương Hàn Quốc x vịt chuyên thịt lúc 8 tuần tuổi đạt khối lượng 2505 g, khối lượng thịt xẻ 1828 g, tỷ lệ thịt xẻ 70,8% và 73,1%.
Darin và Maryanne (2003) So sánh tuyến muối và thận của vịt trời (nước ngọt), vịt Canvasbacks (nước lợ) và vịt mắt vàng Barrow (nước mặn); vịt sống ở môi trường biển có khả năng bài tiết toàn bộ lượng muối qua tuyến muối ngoại tiết.
Shona Louise Lawson (2006) Sử dụng phân tích đồng vị Carbon ($\delta^{13}\text{C}$) và Nitơ ($\delta^{15}\text{N}$) chứng minh vịt King Eiders và vịt đuôi dài sử dụng chiến lược dinh dưỡng nội sinh và ngoại sinh khác nhau trong sản xuất trứng và ấp nở.

Vị trí của luận án: Kế thừa các cơ sở lý thuyết về ưu thế lai và dữ liệu sinh học của các giống thuần, luận án giải quyết khoảng trống trong việc tạo ra con lai hai giống phục vụ sinh sản và con lai ba giống phục vụ nuôi thịt, tối ưu hóa các chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật trong điều kiện chăn nuôi thích ứng với xâm nhập mặn.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

Luận án dựa trên các nền tảng lý thuyết di truyền học số lượng và sinh lý học chăn nuôi gia cầm:

  1. Lý thuyết về ưu thế lai và bản chất di truyền:
  • Thuật ngữ "ưu thế lai" (heterosis) do Shull đề xuất năm 1914.
  • Ba giả thuyết di truyền giải thích ưu thế lai (Nguyễn Văn Thiện, 1995):
    • Thuyết tập trung gen trội có lợi: Con lai F1 tập hợp các gen trội có lợi từ cả bố và mẹ, làm tăng sức sống và năng suất; đời F2 phân ly làm giảm ưu thế lai.
    • Thuyết dị hợp tử và siêu trội: Trạng thái dị hợp tử ở nhiều locus tạo tương tác gen mạnh hơn trạng thái đồng hợp tử ($Aa > AA > aa$).
    • Thuyết gia tăng tác động tương hỗ: Tương tác giữa các gen không cùng locus làm thay đổi trạng thái hoạt động của hệ enzym trong cơ thể.
  • Công thức tính ưu thế lai ($H%$) theo Đặng Vũ Bình (2002):
    • Khi đánh giá cả phép lai thuận nghịch: $$H (%) = \frac{\frac{1}{2}(AB + BA) - \frac{1}{2}(A + B)}{\frac{1}{2}(A + B)} \times 100$$
    • Khi đánh giá một công thức lai đơn: $$H (%) = \frac{AB - \frac{1}{2}(A + B)}{\frac{1}{2}(A + B)} \times 100$$
  • Khung phân tích các thành phần di truyền cộng gộp ($A_d$: trực tiếp, $A_b$: từ bố, $A_m$: từ mẹ) và các thành phần ưu thế lai ($D_d$: trực tiếp, $D_b$: từ bố, $D_m$: từ mẹ) theo mô hình của Larzul và cs. (2006).
  1. Cơ sở sinh lý và tính trạng sản xuất:
  • Đặc điểm ngoại hình: Màu sắc lông, da, mỏ, chân; tốc độ mọc lông theo các giai đoạn răng lược, nửa lưng, chấm khấu, chéo cánh; chiều dài lông cánh thứ 4 hàng thứ nhất đạt 13 cm là mốc giết thịt (Pingel, 1976); kích thước các chiều đo (dài thân, vòng ngực, dài lườn, đùi) tương quan với khối lượng cơ thể ($r = 0,27 - 0,99$) và khối lượng trứng ($r = 0,39 - 0,67$) theo Negm và cs. (1981).
  • Khả năng sinh sản: Tuổi thành thục sinh dục (tuổi đẻ quả trứng đầu hoặc khi đàn đẻ đạt 5%; hệ số di truyền $h^2 = 0,22 - 0,31$ theo Wezyk, 1985); cường độ đẻ, năng suất trứng (quả/mái/năm hoặc tuần đẻ); chất lượng trứng bên ngoài (khối lượng, chỉ số hình thái, độ dày vỏ) và bên trong (chỉ số lòng đỏ, chỉ số lòng trắng, đơn vị Haugh); tỷ lệ trứng có phôi, tỷ lệ nở.
  • Khả năng sinh trưởng và cho thịt: Sinh trưởng tích lũy (khối lượng qua các tuần tuổi); sinh trưởng tuyệt đối (g/con/ngày); sinh trưởng tương đối (%); đường cong sinh trưởng 4 pha (R, 1990); năng suất thịt xẻ, thịt đùi, thịt lườn; các chỉ tiêu lý học thịt (độ pH, khả năng giữ nước, màu sắc, độ dai) và hóa học (protein thô, mỡ thô, khoáng tổng số, vật chất khô).
  • Hiệu quả sử dụng thức ăn: Tiêu tốn thức ăn/10 quả trứng (FCR trứng) và tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng (FCR thịt).

Phương pháp nghiên cứu thực tế

Luận án được thiết kế theo phương pháp thực nghiệm định lượng kết hợp khảo sát sản xuất, triển khai qua 3 nội dung:

[Nguồn gen ban đầu: Vịt Biển 15 x Vịt Trời]
       [Nội dung 1: Lai 2 giống]
       [Nội dung 3: Thử nghiệm sản xuất]
  1. Nội dung 1: Đánh giá đặc điểm ngoại hình và khả năng sản xuất của vịt lai hai giống BT và TB nuôi sinh sản.
  • Thiết kế: Bố trí đàn thí nghiệm tại Trung tâm Nghiên cứu Vịt Đại Xuyên, theo dõi qua các giai đoạn nuôi con, hậu bị và sinh sản.
  • Chỉ tiêu theo dõi: Tỷ lệ nuôi sống qua các giai đoạn tuổi; khối lượng cơ thể theo tuần tuổi; tuổi đẻ 5%, khối lượng vào đẻ; tỷ lệ đẻ, năng suất trứng/mái; tiêu tốn thức ăn/10 quả trứng; tỷ lệ trứng giống, tỷ lệ có phôi, tỷ lệ nở/phôi, tỷ lệ nở/tổng trứng ấp; chất lượng trứng (mẫu $n = 30$) gồm khối lượng trứng, chỉ số hình thái, tỷ lệ lòng đỏ, lòng trắng, vỏ, độ dày vỏ, đơn vị Haugh; ấp nở lặp lại 3 đợt ($n = 3$).
  1. Nội dung 2: Đánh giá đặc điểm ngoại hình, khả năng sinh trưởng và phẩm chất thịt của vịt lai ba giống SBT và STB nuôi thương phẩm.
  • Thiết kế: Nuôi thịt thương phẩm từ 1 ngày tuổi đến tuổi giết thịt, theo dõi định kỳ hàng tuần.
  • Chỉ tiêu theo dõi: Tỷ lệ nuôi sống; khối lượng cơ thể qua các tuần tuổi; sinh trưởng tuyệt đối (g/con/ngày); sinh trưởng tương đối (%); tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng theo các giai đoạn; kích thước các chiều đo cơ thể.
  • Đánh giá thân thịt và chất lượng thịt: Mổ khảo sát xác định tỷ lệ thịt xẻ, thịt đùi, thịt lườn, mỡ bụng; đo pH cơ lườn/cơ đùi, khả năng giữ nước, màu sắc thịt, độ dai (lực cắt g/$\text{cm}^2$, mẫu $n = 6$); phân tích thành phần hóa học thịt (vật chất khô, protein thô, mỡ thô, khoáng tổng số).
  1. Nội dung 3: Đánh giá khả năng sản xuất của vịt BT (sinh sản) và SBT (thương phẩm) trong điều kiện sản xuất tại nông hộ.
  • Địa điểm: 3 tỉnh (Quảng Ninh, Hải Phòng, Ninh Bình).
  • Phương pháp: Lựa chọn hộ chăn nuôi theo tiêu chí đồng nhất về điều kiện chuồng trại, chăm sóc nuôi dưỡng; theo dõi tỷ lệ nuôi sống, khối lượng cơ thể, năng suất trứng, tiêu tốn thức ăn, tỷ lệ tiêu thụ và tính toán hiệu quả kinh tế sơ bộ của mô hình.

Phương pháp xử lý số liệu:

  • Toàn bộ số liệu thu thập được quản lý và xử lý bằng các thuật toán thống kê sinh học trong chăn nuôi.
  • Sử dụng mô hình phân tích phương sai (ANOVA) để xác định ảnh hưởng của các yếu tố thí nghiệm (tổ hợp lai, giới tính, tuần tuổi, địa điểm nuôi).
  • Các tham số thống kê được trình bày gồm: Giá trị trung bình ($\bar{X}$), sai số tiêu chuẩn (SE), hệ số xác định ($R^2$), mức ý nghĩa thống kê ($p < 0,05$; $p < 0,01$; $p < 0,001$).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan tài liệu

Chương 1 hệ thống hóa các cơ sở khoa học về ngoại hình, tập tính, khả năng thích ứng của thủy cầm; nguyên lý ưu thế lai và bản chất di truyền số lượng; các chỉ tiêu sinh lý sinh sản, sinh trưởng, cho thịt và chuyển hóa thức ăn. Chương này điểm lại toàn diện các công trình nghiên cứu lai tạo giống vịt trong nước và quốc tế, xác lập cơ sở dữ liệu về 3 giống gốc (Biển 15 - Đại Xuyên, Vịt Trời, Star 53), khẳng định tính đúng đắn của việc xây dựng các tổ hợp lai hai giống và ba giống nhằm kết hợp ưu điểm về sinh sản, phẩm chất thịt và khả năng chịu mặn.

Chương 2: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Chương 2 mô tả chi tiết vật liệu nghiên cứu gồm các đàn vịt giống gốc thuần chủng và các thế hệ lai BT, TB, SBT, STB. Chương này quy định chi tiết quy trình chăm sóc nuôi dưỡng, định mức dinh dưỡng (năng lượng trao đổi ME, hàm lượng protein thô CP qua từng giai đoạn tuổi của vịt sinh sản và vịt thương phẩm theo TCVN), phương pháp bố trí thí nghiệm lặp lại, quy cách đo đạc kích thước cơ thể, phương pháp mổ khảo sát thân thịt, kỹ thuật xét nghiệm hóa lý thịt, tiêu chí chọn hộ thử nghiệm tại 3 tỉnh ven biển và quy trình phân tích thống kê sinh học.

Chương 3: Kết quả và thảo luận

Chương 3 trình bày các kết quả thực nghiệm thu được qua 3 nội dung nghiên cứu lớn:

1. Đặc điểm ngoại hình và khả năng sản xuất của vịt lai hai giống BT và TB

  • Đặc điểm ngoại hình: Vịt lai BT và TB lúc trưởng thành có ngoại hình trung gian giữa vịt Biển và vịt Trời, dáng thanh gọn, nhanh nhẹn, màu lông có xu hướng đồng nhất, mang các vệt sọc đặc trưng của vịt Trời kết hợp tầm vóc của vịt Biển.
  • Tỷ lệ nuôi sống: Cả hai tổ hợp lai BT và TB đạt tỷ lệ nuôi sống cao ở tất cả các giai đoạn nuôi con, hậu bị và sinh sản.
  • Khối lượng cơ thể và tuổi thành thục: Vịt lai BT có khối lượng cơ thể vào đẻ phù hợp với định hướng vịt sinh sản lấy trứng và làm mái nền (nhỏ hơn vịt Biển thuần nhưng lớn hơn vịt Trời thuần).
  • Khả năng sinh sản và ấp nở:
    • Vịt BT có tỷ lệ đẻ và năng suất trứng đạt cao, tỷ lệ trứng giống cao.
    • Tiêu tốn thức ăn/10 quả trứng của vịt BT ở mức thấp, thể hiện ưu thế chuyển hóa thức ăn tốt.
    • Các chỉ tiêu chất lượng trứng ($n = 30$) về khối lượng trứng, chỉ số hình thái, độ dày vỏ và đơn vị Haugh đạt tiêu chuẩn trứng giống thủy cầm.
    • Kết quả ấp nở ($n = 3$) cho thấy tỷ lệ trứng có phôi, tỷ lệ nở/phôi và tỷ lệ nở/tổng trứng ấp của tổ hợp lai BT vượt trội, vịt con nở ra đồng đều và khỏe mạnh.
  • Lựa chọn tổ hợp: Luận án xác định tổ hợp lai BT (Trống Biển x Mái Trời) có các chỉ tiêu sinh sản, tỷ lệ ấp nở và hiệu quả sử dụng thức ăn vượt trội hơn tổ hợp TB, được lựa chọn làm mái nền để tạo con lai ba giống và nuôi lấy trứng thương phẩm.

2. Đặc điểm ngoại hình và khả năng sản xuất của vịt lai ba giống SBT và STB thương phẩm

  • Sinh trưởng tích lũy: Khối lượng cơ thể của vịt thương phẩm tăng nhanh qua các tuần tuổi; phân tích phương sai cho thấy các yếu tố tổ hợp lai và tính biệt ảnh hưởng rõ rệt đến tốc độ tăng trọng ($p < 0,05$), trong đó con trống luôn có khối lượng lớn hơn con mái ở cùng tuần tuổi.
  • Động thái sinh trưởng:
    • Sinh trưởng tuyệt đối (g/con/ngày) đạt đỉnh cao trong giai đoạn sinh trưởng mạnh (từ tuần 4 đến tuần 7), đồ thị biểu diễn dạng parabol.
    • Sinh trưởng tương đối (%) cao nhất ở những tuần đầu sau khi nở và giảm dần theo tuần tuổi, đồ thị có dạng hyperbol.
  • Tiêu tốn thức ăn (FCR): Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng cơ thể tăng dần theo các giai đoạn tuổi. Tổ hợp lai SBT có hệ số chuyển hóa thức ăn tốt hơn so với STB.
  • Năng suất và chất lượng thịt thương phẩm:
    • Kết quả mổ khảo sát cho thấy tổ hợp lai SBT có tỷ lệ thân thịt (thịt xẻ), tỷ lệ thịt lườn và tỷ lệ thịt đùi cao hơn rõ rệt so với vịt Biển thuần và vịt Trời thuần.
    • Phân tích chất lượng thịt ($n = 6$): Độ pH sau giết mổ ổn định, khả năng giữ nước cao, màu sắc thịt đỏ tươi, độ dai (lực cắt) phù hợp thị hiếu tiêu dùng.
    • Thành phần hóa học: Hàm lượng protein thô trong cơ thịt đạt cao, hàm lượng mỡ thô ở mức trung bình thấp, đáp ứng tiêu chuẩn thực phẩm chất lượng cao.

3. Khả năng sản xuất của vịt BT và SBT trong điều kiện sản xuất

  • Đàn vịt sinh sản BT tại 3 tỉnh (Quảng Ninh, Hải Phòng, Ninh Bình):
    • Tỷ lệ nuôi sống đạt mức cao trong điều kiện chăn nuôi nông hộ vùng sinh thái ven biển.
    • Khối lượng cơ thể vịt mái duy trì ổn định qua các giai đoạn đẻ.
    • Tỷ lệ đẻ và năng suất trứng đạt cao, tiêu tốn thức ăn/10 quả trứng thấp, mô hình mang lại hiệu quả kinh tế sơ bộ vượt trội cho người chăn nuôi.
  • Đàn vịt thương phẩm SBT tại 3 tỉnh:
    • Tốc độ sinh trưởng nhanh, khối lượng giết thịt đạt tiêu chuẩn thương phẩm cao, khả năng thích ứng tốt với môi trường nước lợ/mặn.
    • Tiêu tốn thức ăn/kg tăng trọng thấp, mang lại lợi nhuận cao trong hạch toán kinh tế sơ bộ tại các nông hộ.

Kết quả và những đóng góp mới

Những đóng góp mới về lý luận và thực tiễn

  1. Về mặt khoa học và lý luận:
  • Cung cấp luận cứ khoa học có hệ thống về biểu hiện ưu thế lai, khả năng phối hợp di truyền khi kết hợp 3 nguồn gen thủy cầm (vịt Biển 15 - Đại Xuyên, vịt Trời, vịt Star 53).
  • Xác lập bộ cơ sở dữ liệu hoàn chỉnh về đặc điểm ngoại hình, quy luật sinh trưởng tích lũy, sinh trưởng tuyệt đối, sinh trưởng tương đối, các chiều đo cơ thể, chỉ tiêu sinh sản, chất lượng trứng, khả năng cho thịt, chỉ tiêu lý hóa của thịt và hệ số chuyển hóa thức ăn của các tổ hợp lai hai giống (BT, TB) và ba giống (SBT, STB).
  • Làm sáng tỏ khả năng thích ứng của các tổ hợp lai mang nguồn gen vịt Biển và vịt Trời trong điều kiện chăn nuôi sinh thái vùng ven biển, nước lợ và xâm nhập mặn.
  1. Về mặt thực tiễn sản xuất:
  • Tạo ra tổ hợp lai hai giống BT (trống Biển 15 - Đại Xuyên x mái Vịt Trời) có tầm vóc nhỏ gọn, năng suất trứng cao, tiêu tốn thức ăn thấp, sử dụng hiệu quả cho hai mục đích: nuôi sinh sản làm mái nền và nuôi lấy trứng thương phẩm.
  • Tạo ra tổ hợp lai ba giống SBT (trống Star 53 x mái lai BT) nuôi thịt thương phẩm có tốc độ sinh trưởng nhanh, khối lượng xuất chuồng cao, tỷ lệ thịt lườn và thịt đùi cao, phẩm chất thịt thơm ngon và thích ứng với môi trường nước mặn, nước lợ.
  • Xây dựng mô hình thực nghiệm thành công tại 3 tỉnh ven biển (Quảng Ninh, Hải Phòng, Ninh Bình), mang lại hiệu quả kinh tế rõ rệt cho các nông hộ chăn nuôi.

Kiến nghị và đề xuất

  • Đề nghị các cơ quan chuyên môn và địa phương cho phép phát triển, chuyển giao tổ hợp vịt lai BT (hướng trứng/mái nền) và SBT (hướng thịt thương phẩm) vào cơ cấu giống chăn nuôi tại các vùng chịu tác động của biến đổi khí hậu và xâm nhập mặn.
  • Tiếp tục hoàn thiện quy trình kỹ thuật chăn nuôi, định mức dinh dưỡng và quy trình thú y phòng bệnh tối ưu cho đàn vịt lai ba giống SBT nuôi theo các phương thức bán thâm canh kết hợp chăn thả vùng ven biển.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của nghiên cứu:
    • Thử nghiệm sản xuất thực tế mới được triển khai tập trung tại 3 tỉnh duyên hải phía Bắc (Quảng Ninh, Hải Phòng, Ninh Bình), chưa mở rộng khảo nghiệm tại các vùng sinh thái nhiễm mặn đặc thù khác như Đồng bằng sông Cửu Long hay Duyên hải Nam Trung Bộ.
    • Các chỉ tiêu theo dõi giới hạn trong phạm vi các công thức lai cố định giữa 3 giống (Biển 15, Vịt Trời, Star 53), chưa so sánh mở rộng với các công thức lai phối hợp các giống bản địa khác.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo:
    • Mở rộng quy mô khảo nghiệm con lai SBT tại các vùng sinh thái ngập mặn khu vực miền Trung và Đồng bằng sông Cửu Long.
    • Nghiên cứu sâu hơn ở mức độ sinh học phân tử và cơ chế biểu hiện gen liên quan đến hoạt động của tuyến muối đào thải ion khoáng ở con lai ba giống SBT khi nuôi trong môi trường nước có độ mặn biến động cao.

Giá trị tham khảo

Luận án mang giá trị ứng dụng và tham khảo học thuật đối với các nhóm đối tượng:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Chăn nuôi, Di truyền - Chọn giống động vật: Tham khảo về phương pháp thiết kế thí nghiệm lai tạo hai giống, ba giống; phương pháp đánh giá ưu thế lai; quy trình mổ khảo sát thân thịt và xét nghiệm lý hóa chất lượng thịt gia cầm.
  • Cán bộ quản lý ngành chăn nuôi, cán bộ khuyến nông tại các địa phương ven biển: Sử dụng các số liệu kỹ thuật của tổ hợp lai BT và SBT để xây dựng đề án cơ cấu giống vật nuôi thích ứng với xâm nhập mặn và biến đổi khí hậu.
  • Chủ trang trại, doanh nghiệp sản xuất giống thủy cầm: Ứng dụng công thức lai trống Biển 15 x mái Trời để sản xuất con lai BT, và sử dụng trống Star 53 x mái BT để sản xuất đại trà vịt thương phẩm SBT phục vụ thị trường tiêu thụ thịt thủy cầm chất lượng cao.

Câu hỏi thường gặp

  1. Công thức lai tạo của hai tổ hợp lai BT và SBT trong luận án được thực hiện như thế nào?
    Trả lời: Tổ hợp lai hai giống BT được tạo ra từ phép lai giữa con trống vịt Biển 15 - Đại Xuyên với con mái vịt Trời. Tổ hợp lai ba giống SBT được tạo ra bằng cách sử dụng con trống vịt chuyên thịt Star 53 (nhập từ Pháp) phối với con mái lai hai giống BT.

  2. Tại sao tổ hợp lai hai giống BT được lựa chọn làm mái nền thay vì tổ hợp TB?
    Trả lời: Dữ liệu thực nghiệm tại Trung tâm Nghiên cứu Vịt Đại Xuyên cho thấy tổ hợp lai BT (trống Biển x mái Trời) vượt trội tổ hợp TB (trống Trời x mái Biển) về tỷ lệ đẻ, năng suất trứng, chất lượng trứng giống, tỷ lệ trứng có phôi, tỷ lệ ấp nở và hiệu quả chuyển hóa thức ăn (tiêu tốn thức ăn/10 quả trứng thấp hơn), đồng thời có khối lượng cơ thể vào đẻ phù hợp cho hướng nuôi sinh sản.

  3. Con lai ba giống SBT có những ưu điểm nào vượt trội so với các giống bố mẹ thuần?
    Trả lời: Vịt lai ba giống SBT kết hợp được tốc độ sinh trưởng nhanh, khối lượng cơ thể lớn và tỷ lệ thịt lườn cao của vịt Star 53; khả năng chịu mặn, thích ứng nước lợ và tỷ lệ nuôi sống cao của vịt Biển 15 - Đại Xuyên; cùng chất lượng thịt thơm ngon, săn chắc của vịt Trời.

  4. Năng suất trứng và khả năng thích nghi môi trường mặn của giống vịt Biển 15 - Đại Xuyên được văn bản ghi nhận ở mức nào?
    Trả lời: Vịt Biển 15 - Đại Xuyên có năng suất trứng đạt 247,56 - 248,25 quả/mái/52 tuần đẻ, tiêu tốn thức ăn/10 quả trứng đạt 3,48 - 3,6 kg; có khả năng bài tiết muối thừa qua tuyến muối ngoại tiết và đạt năng suất trứng cao nhất (248,63 quả/mái/52 tuần đẻ) khi nuôi trong môi trường nước có độ mặn từ 11 đến 20‰ (theo Vương Thị Lan Anh, 2020).

  5. Mô hình chăn nuôi vịt BT và SBT đã được khảo nghiệm sản xuất tại những địa phương nào?
    Trả lời: Đánh giá khả năng sản xuất trong điều kiện sản xuất nông hộ đã được triển khai thực nghiệm đồng bộ tại 3 tỉnh ven biển phía Bắc gồm Quảng Ninh, Hải Phòng và Ninh Bình, đều ghi nhận tỷ lệ nuôi sống cao và hiệu quả kinh tế tích cực.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Lê Thị Mai Hoa đã hoàn thành toàn diện các nội dung nghiên cứu thực nghiệm về đặc điểm ngoại hình, khả năng sinh sản, sinh trưởng và phẩm chất thịt của các tổ hợp lai giữa vịt Biển 15 - Đại Xuyên, vịt Trời và vịt Star 53. Công trình đã xác định được tổ hợp lai hai giống BT là con lai sinh sản/lấy trứng phù hợp và tổ hợp lai ba giống SBT là con lai nuôi thịt thương phẩm có năng suất cao, phẩm chất thịt tốt. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học và nguồn giống vật nuôi có giá trị thực tiễn cao, phục vụ hiệu quả cho định hướng phát triển chăn nuôi thủy cầm thích ứng với biến đổi khí hậu và hiện tượng xâm nhập mặn tại Việt Nam.