CHƯƠNG I. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Lịch sử nghiên cứu bệnh ấu trùng sán lợn Vào những năm cuối của thế kỷ 17 nghiên cứu khoa học đầu tiên về bệnh ATSL ở người bắt đầu được tiến hành bởi Edward Tyson và cộng sự. Các tác giả đã quan sát về sán dây ở người, chó và một số động vật khác.
Edward Tyson là nhà khoa học đầu tiên phân biệt ATSL dựa vào đầu sán, mô tả về giải phẫu và sinh lý học của sán dây trưởng thành, đặt nền tảng khoa học đầu tiên cho sự hiểu biết về đặc điểm sinh học của bệnh ATSL ở người 15. Tuy nhiên, Tyson và cộng sự không phân biệt được sự khác biệt giữa sán dây bò và sán dây lợn. Giữa thế kỷ 19, Kuchenmeister đã phân biệt được sự khác nhau giữa 2 loại dựa trên đặc điểm hình thể học của đầu sán. Năm 1874, German và Johann đó phát hiện ra lợn là vật chủ trung gian tham gia vào quá trình phát triển vòng đời của sán dây lợn, trong nghiên cứu này họ quan sát thấy các nang ấu trùng ở người mắc bệnh giống với các nang ấu trùng tìm thấy trong cơ của lợn 15.
Vào năm 1874, Johann Goeze chứng minh rằng các nang ấu trùng đó chính là các ấu trùng của sán dây lợn, người có thể nhiễm ATSL khi ăn phải trứng của chúng. Mặc dù các nghiên cứu trên người không được tiến hành vì các lý do về đạo đức, các thử nghiệm trên mô hình động vật và quan sát trên con người mắc bệnh cho thấy khi ăn phải thức ăn có nhiễm trứng của sán dây lợn là nguyên nhân gây ra bệnh ATSL. Những kết quả này đã góp phần to lớn trong công tác phòng chống sự nhiễm bệnh ATSL thông qua việc hạn chế cung cấp thịt bị nhiễm ATSL cho con người 15. Cho đến ngày nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về dịch tễ, bệnh học, chẩn đoán và điều trị bệnh ATSL ở người, những công trình nghiên cứu này đó góp phần quan trọng trong công tác điều trị và phòng chống bệnh ATSL.
Đặc điểm sinh học sán dây lợn T.solium và nang ấu trùng sán lợn 2. Hình thể sán dây lợn và nang ấu trùng sán lợn Nang có màu trắng đục, kích thước 17-20 x 7-10 mm. Nang có chứa dịch trong, đầu sán, đốt cổ và đốt sán non. Trứng có hình cầu, có ấu trùng bên trong, có 3 đôi móc.
Lớp ngoài của vỏ trứng rất mỏng và khi ra đến bên ngoài bị vỡ ngay, lớp vỏ sát ngay ấu trùng rất dày, có khía ngang như nan hoa. Kích thước của trứng từ 31-56 m. Một đốt sán có tới 55. Những đốt già ở cuối thân thường rụng thành từng đoạn 5-6 đốt liền nhau theo phân ra ngoài.
Sán dây lợn trưởng thành dài từ 2-3 m (có thể dài 8m), thường có 300- 900 đốt. Đầu nhỏ hơi tròn, đường kính khoảng 1mm, có bộ phận nhô lên giữa 2 vòng móc, có khoảng 22-32 móc, thường thấy 26-28 móc. Đốt cổ mảnh, dài 5-10 mm. Đốt thân non, bề ngang dài hơn bề dọc, đốt trưởng thành hình vuông, đốt già bề ngang nhỏ hơn bề dọc.
Lỗ sinh mở ra bên cạnh đốt, khi ở bên phải, khi ở bên trái xen kẽ tương đối đều. Đốt già tử cung chia thành nhánh ngang 6-8-12 nhánh chứa đầy trứng. Vị trí ký sinh nang ấu trùng sán lợn Nang ATSL có thể thấy bất cứ nơi nào trong cơ thể vật chủ. Tuỳ theo số lượng nang và vị trí của nang mà có những biểu hiện lâm sàng nặng nhẹ 5 khác nhau hoặc có thể gây tử vong.
Thường thấy có nang ATSL ký sinh ở mô dưới da, não, mắt, cơ vân, tim, gan, phổi, các hốc trong bụng. - Nang ATSL ở dưới da: Ký sinh dưới da tạo thành các nang 0,5-2- 3cm, dễ dàng sờ thấy, và di động. - Nang ATSL ở trong mô cơ Trường hợp có số ít nang ATSL ký sinh trong mô cơ, thường không có biểu hiện lâm sàng. Trường hợp có số lượng lớn nang ATSL ký sinh trong mô cơ, bệnh nhân biểu hiện đau mỏi cơ, máy giật cơ (động kinh cục bộ).
Sau nhiều năm nang ATSL bị vôi hoá, hình ảnh phim x-quang có nhiều vết mờ dọc theo các sợi cơ. - Nang ATSL ở não: Nang ATSL ký sinh ở não gây nên nhiều triệu chứng lâm sàng đa dạng, không đặc hiệu tuỳ theo vị trí, số lượng của nang ATSL trong não biểu hiện như một u nang trong não [12], [18], [19]. - Nang ATSL trong mắt: Nang ATSL xâm nhập vào ổ mắt qua mạch võng mạc, nó có thể nằm bất cứ vị trí nào: hốc mắt, trong mí mắt, trong kết mạc, thuỷ tinh thể, tiền phòng. - Nang ATSL ở trong cơ tim có thể gây tim đập nhanh, tiếng tim biến đổi, bệnh nhân khó thở, ngất xỉu.
Chu kỳ phát triển ấu trùng sán lợn Vật chủ trung gian, vật chủ chính và môi trường là 3 yếu tố cần thiết để hoàn thành một chu kỳ phát triển của ATSL 6 Hình 1. Chu kỳ phát triển của ấu trùng sán lợn [111] Vật chủ trung gian, vật chủ chính và môi trường là 3 yếu tố cần thiết để hoàn thành một chu kỳ phát triển của ATSL. (1) Sán dây lợn trưởng thành dạng lưỡng tính sống ký sinh trong ruột người. Trứng và đốt sán theo phân ra ngoài môi trường.
(2) Người, lợn ăn phải thực phẩm, nước uống chứa trứng sán dây lợn. (3), (7), (8) Trứng vào dạ dày và ruột dưới tác dụng của men tiêu hoá và dịch dạ dày, vỏ ngoài của trứng bị phân huỷ phát triển thành ấu trùng; ấu trùng chui qua thành ống tiêu hóa vào máu, tới các bộ phận trong cơ thể và tạo kén ở đó. Nang sán thường ký sinh ở cơ vân, não, mắt, tim… (4) Người ăn phải thịt lợn có nang ấu trùng sán lợn còn sống vào ruột sẽ nở ra sán dây trưởng thành. (5) Lúc mới nở sán dây chỉ có đầu và một đoạn cổ.
(6) Sán phát triển bằng cách sinh đốt mới từ đốt cổ và sán dài dần ra, sống ở ruột non. Chiều dài của sán trưởng thành thường là 2-7 m (có thể lên đến 25 m). Đáp ứng miễn dịch của vật chủ Khi sán dây lợn T. saginata, sán dây châu Á T.
asiatica và ấu trùng sán dây lợn xâm nhập vào cơ thể người, các chất do ký sinh trùng tiết ra kích thích hệ thống miễn dịch gây ra đáp ứng miễn dịch. Flisser A (1994) nhận thấy những bệnh nhân nhiễm ATSL cơ thể không đáp ứng miễn dịch. Cũng theo Flisser đáp ứng miễn dịch, dịch thể trong bệnh ATSL chủ yếu tạo bởi globulin miễn dịch IgG [20]. Nghiên cứu của Montano cho thấy ở trẻ em khi thấy nang ATSL ký sinh dưới màng nhện thì IL – 6 cao [21].
Theo Monter, 1971 IL – 6 thúc đẩy lympho B sản xuất IgG và IgE. Globulin miễn dịch có khả năng hoạt hoá bổ thể, opsonin hoạt hoá ký sinh trùng để tăng thực bào [16]. Theo Zini D (1990) và Sarti, 1994 hiệu giá kháng thể IgG cao được tìm thấy trong huyết thanh và dịch não tuỷ của bệnh nhân ATSL nặng. Hiệu giá kháng thể IgG thấp của bệnh nhân bị bệnh ATSL trong não nhẹ và các bệnh nhân không có triệu chứng lâm sàng [22], [23].
Estanol nhận thấy ở những bệnh nhân có nang ATSL trong não, sau khi điều trị praziquantel, có sự gia tăng hiệu giá kháng thể IgG trong dịch não tuỷ nhưng không tăng trong huyết thanh. Điều này làm cho người ta nghĩ rằng có sự sản xuất tại chỗ những kháng thể chuyên biệt [24]. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng bệnh ấu trùng sán lợn 3. Đặc điểm lâm sàng bệnh ấu trùng sán lợn - Bệnh nhân nhiễm ATSL thường có một số biểu hiện như sau: Nang ATSL ở dưới da + Tạo thành các nang có kích thước từ 0,5x2-3cm, dễ dàng sờ thấy, nang ATSL nằm ở vị trí bất kỳ chỗ nào và di động.
+ Chẩn đoán xác định bằng sinh thiết và xét nghiệm giải phẫu bệnh học. 8 Nang ATSL ở trong mô cơ + Trường hợp có số ít nang ATSL ký sinh trong mô cơ, thường không có biểu hiện lâm sàng. + Trường hợp có số lượng lớn nang ATSL ký sinh trong mô cơ, bệnh nhân có biểu hiện đau mỏi cơ, máy giật cơ (động kinh cục bộ). Sau nhiều năm nang ATSL bị vôi hoá, trong hình ảnh phim x-quang có nhiều vết mờ dọc theo các sợi cơ.
Nang ATSL ở hệ thần kinh trung ương + Tăng áp lực nội sọ: Đau đầu, buồn nôn, nôn, phù não, phù gai thị, nhìn đôi, thị lực giảm có thể dẫn đến mù. + Động kinh: động kinh toàn thể thường gặp do nang ATSL cư trú ở nhu mô não, từ một vài nang đến hàng trăm nang, bệnh nhân có thể bị đột tử. + Biểu hiện chung khác, bệnh nhân có thể bị suy giảm trí nhớ, rối loạn tâm thần; liệt, rối loạn vận động, rối loạn cảm giác tuỳ thuộc vị trí của nang Nang ATSL trong mắt: Nang ATSL xâm nhập vào ổ mắt qua mạch võng mạc, nó có thể nằm bất cứ vị trí nào: hốc mắt, trong mí mắt, trong kết mạc, thuỷ tinh thể, tiền phòng.Bệnh nhân có thể đau quanh ổ mắt, chói mắt và những rối loạn thị giác cũng rất đa dạng tuỳ theo vị trí của nang ATSL, có thể giảm thị lực, mù. Nang ATSL ở trong cơ tim: Tim đập nhanh, tiếng tim biến đổi, bệnh nhân khó thở, ngất sỉu.
Nang ATSL ký sinh ở não gây nên nhiều triệu chứng lâm sàng đa dạng, không đặc hiệu tuỳ theo vị trí, số lượng của nang trong não biểu hiện như một u nang trong não [12], [18], [19]. Nang ATSL có thể thấy bất cứ nơi nào trong cơ thể vật chủ. Tuỳ theo số lượng nang và vị trí của nang mà có những biểu hiện lâm sàng nặng nhẹ khác nhau hoặc có thể gây tử vong. Thường thấy có nang ATSL ký sinh ở mô dưới da, não, mắt, cơ bắp, tim, gan, phổi, các hốc trong bụng.
9 Theo kết quả nghiên cứu về đặc điểm lâm sàng của 2.539 bệnh nhân ATSL ở não tại Trung Quốc cho thấy: Số bệnh nhân có co giật/động kinh là 1427 trường hợp được phát hiện là đặc điểm phổ biến nhất chiếm 56,20%, tiếp theo là đau đầu 894 trường hợp 35,22%, mất trí nhớ 239 trường hợp 9,41%, tê bì chân tay và tàn tật 229 trường hợp 9,02, nói thiểu năng 85 trường hợp), mờ mắt và song thị (74 trường hợp) và rối loạn tâm thần 49 trường hợp 3,35%. Soi đáy mắt phát hiện 102 trường hợp phù gai thị và 19 trường hợp phù gai thị có xuất huyết. Chọc dò dịch não tủy phát hiện 391 (15,4%) trường hợp có tăng áp lực nội sọ [6].