mở đầu cho thời kỳ nghiên cứu hệ thực vật cụ thể. Tolmachop đã đưa ra một nhận định là số loài của một hệ thực vật cụ thể ở vùng nhiệt đới ẩm thường là 1500 - 2000 loài. cho rằng “Chỉ cần điều tra trên một diện tích đủ lớn để có thể bao chùm được sự phong phú của nơi sống nhưng không có sự phân hoá mặt địa lý” (Richards P. Việc nghiên cứu sinh học loài cây trong đó có các đặc điểm hình thái và vật hậu đã được thực hiện từ lâu trên thế giới.
Đây là bước đầu tiên, làm tiền đề cho các môn khoa học khác liên quan. Sự ra đời của các bộ thực vật chí đã góp phần làm tiền đề cho công tác nghiên cứu về hình thái, phân loại cũng như đánh giá tính đa dạng của các vùng miền khác nhau. Về vật hậu học: Hoạt động sinh học có tính chất chu kỳ của các cơ quan sinh dưỡng và cơ quan sinh sản. Chu kỳ vật hậu của cùng 1 loài phân bố ở các vùng sinh thái khác nhau sẽ có sự sai khác rõ rệt.
Điều này có ý nghĩa cần thiết trong nghiên cứu sinh thái cá thể loài và công tác chọn tạo giống. Có rất nhiều công trình liên quan đến hình thái và phân loại các loài cây. Những nghiên cứu này đầu tiên tập trung vào mô tả và phân loại các loài, nhóm loài, .Có thể kể đến một vài công trình rất quen thuộc liên quan đến các nước lân cận như: Thực vật chí Hong Kong (1861), Thực vật chí Australia (1866), Thực vật chí rừng Tây Bắc và trung tâm Ấn độ (1874), Thực vật chí Ấn độ 7 tập (1872 – 1897), Thực vật chí Miến Điện (1877), Thực vật chí Malaysia (1892 – 1925), Thực vật chí Hải Nam (1972 – 1977), Thực vật chí Vân Nam (1977), Thực vật chí Quảng Đông, Trung Quốc (9 tập). 5 Nghiên cứu về đặc điểm sinh thái học Từ việc vận dụng các lý luận về sinh thái, tái sinh, cấu trúc rừng trên, nhiều nhà khoa học trên thế giới đã vận dụng vào nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái cho từng loài cây.
Một vài công trình nghiên cứu có thể kể tới như: Baur G.N cho rằng, trong rừng nhiệt đới sự thiếu hụt ánh sáng đã làm ảnh hưởng đến phát triển của cây con, còn đối với sự nảy mầm thì ảnh hưởng đó thường không rõ ràng. Đối với rừng nhiệt đới, số lượng loài cây trên một đơn vị diện tích và mật độ tái sinh thường khá lớn. Vì vậy, khi nghiên cứu tái sinh tự nhiên cần phải đánh giá chính xác tình hình tái sinh rừng và có những biện pháp tác động phù hợp (Baur G.N, 1962 - Vương Tấn Dũng dịch) [1]. Sampion Gripfit (1948) khi nghiên cứu rừng tự nhiên ở Ấn Độ và rừng ẩm nhiệt đới ở Tây Phi, đã kiến nghị phân cấp cây rừng thành 5 cấp.W (1952) phân rừng ở Nigeria thành 6 tầng, tương ứng với chiều cao là 6- 12 m, 12-18 m, 18-24 m, 24-30 m, 30-36 m, 3-42 m, nhưng thực chất đây chỉ là các lớp chiều cao.
P (1971) nghi ngờ sự phân tầng rừng rậm nơi có độ cao dưới 600m ở Puecto Rico và cho rằng không có sự tập trung khối tán ở một tầng riêng biệt nào cả (Richards P.W, 1968) - Vương Tấn Nhị dịch) [20].W đã đi sâu nghiên cứu cấu trúc rừng mưa nhiệt đới về mặt hình thái. Theo tác giả, đặc điểm nổi bật của rừng mưa nhiệt đới là tuyệt đại bộ phận thực vật đều thuộc thân gỗ và thường có nhiều tầng. Ông nhận định: "Rừng mưa thực sự là một quần lạc hoàn chỉnh và cầu kỳ nhất về mặt cấu tạo và cũng phong phú nhất về mặt loài cây" (Richards P.W, 1968) - Vương Tấn Nhị dịch) [20]. Ông đã phân chia ra sinh thái học cá thể và sinh thái học quần thể.
Sinh thái học cá thể nghiên 6 cứu từng cá thể sinh vật hoặc từng loài, trong đó chu kỳ sống, tập tính cũng như khả năng thích nghi với môi trường được đặc biệt chú ý (Odum E. Theo Khamleck (2004), Họ Dẻ có phân bố khá rộng, với khoảng 900 loài chúng được tìm thấy ở vùng ôn đới Bắc bán cầu, cận nhiệt đới và nhiệt đới, song chưa có tài liệu nào công bố chúng có ở vùng nhiệt đới Châu Phi. Hầu hết các loài phân bố tập trung ở Châu Á, đặc biệt ở Việt Nam có tới 216 loài và ít nhất là Châu Phi và vùng Địa Trung Hải chỉ có 2 loài (Nguyễn Hải Tuất, 2006) [28]. Trung tâm Nông lâm kết hợp thế giới (World Agroforestry Centre, 2006), Anon (1996), Keble và Sidiyasa (1994) đã nghiên cứu đặc điểm hình thái của loài Vối Thuốc (Schima wallichii) và đã mô tả tương đối chi tiết về đặc điểm hình thái thân, lá, hoa, quả, hạt của loài cây này, góp phần cung cấp cơ sở cho việc gây trồng và nhân rộng loài Vối thuốc trong các dự án trồng rừng (Hoàng Văn Chúc, 2009) [9].
Tian - XiaoRui trong công trình nghiên cứu về khả năng chịu lửa của một số loài cây trồng rừng đã rút ra kết luận, Vối Thuốc (S. wallichii) có sức chống lửa tốt nhất trong tổng số 12 loài cây nghiên cứu (Hoàng Văn Chúc, 2009) [9]. Vối thuốc là loài cây tiên phong ưa sáng, biên độ sinh thái rộng, phân bố rải rác ở các khu vực phía Đông Nam Châu Á. Vối thuốc xuất hiện ở nhiều vùng rừng thấp (phía Nam Thái Lan) và cả ở các vùng cao hơn (Nepal) cũng như tại các vùng có khí hậu lạnh.
Là cây bản địa của Brunei, Trung Quốc, Ấn Độ, Lào, Myanmar, Nepal, Papua New Guinea, Phillipines, Thailand và Việt 7 Nam. Vối Thuốc thường mọc thành quần thụ từ nơi đất thấp đến núi cao, phân bố ở rừng thứ sinh, nơi đồng cỏ, cây bụi và ngay cả nơi ngập nước có độ mặn nhẹ. Vối thuốc có thể mọc trên nhiều loại đất với thành phần cơ giới và độ phì khác nhau, từ đất cằn cỗi khô cằn đến đất phì nhiêu, tươi tốt, có thể thấy Vối thuốc xuất hiện nơi đầm lầy. Vối Thuốc là loài cây tiên phong sau nương rẫy (Hoàng Văn Chúc, 2009) [9].
Nghiên cứu về khả năng tái sinh Tái sinh rừng là một quá trính sinh học mang tính đặc thù và diễn ra liên tục của hệ sinh thái rừng. Sự xuất hiện của cây con của các loài cây đang phát triển dưới tán rừng, lỗ trống trong rừng sau khai thác chọn, sau phát nương làm rẫy. Vai trò quan trọng của lớp tái sinh này là nguồn thay thế lớp cây đã già cỗi, là quá trình phục hồi thành phần cơ bản của rừng. Theo Ashton (1983), cây Dầu Rái (Dipterocarpus alatus) mọc cụm ở ven sông, chỉ tái sinh sau những trận lụt lớn.
Nhiều nhà nghiên cứu còn cho rằng, kiểu cách tái sinh phổ biến của cây gỗ rừng mưa là tái sinh theo vệt hay theo lỗ trống (Nguyễn Thanh Bình, 2003) [2]. Theo quan điểm của các nhà lâm học thì hiệu quả tái sinh rừng là xác định được mật độ tái sinh, chất lượng cây tái sinh (cây triển vọng), tổ thành loài và phân bố của cây tái sinh…Sự tương đồng hay khác biệt trong tổ thành của loài cây tái sinh với tổ thành loài cây gỗ đã được các nhà khoa học quan tâm Richards (1933, 1939); Baur (1964). Do tính phức tạp của tổ thành loài cây, nên khi khảo sát người ta chỉ đo đếm, nghiên cứu các loài có giá trị thực tiễn và có ý nghĩa nhất định. Tái sinh là một quá trình sinh học mang đặc thù của hệ sinh thái rừng, đó là sự xuất hiện một thế hệ cây con của những loài cây gỗ ở những nơi còn hoàn cảnh rừng.
Hiệu quả của tái sinh rừng được xác định bởi mật độ, tổ thành loài, cấu trúc tuổi, chất lượng cây con, đặc điểm phân bố. Nghiên cứu Thiết Sam Giả lá ngắn Trên thế giới, Thiết Sam Giả lá ngắn gặp ở các vùng núi đá vôi của hai tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây (Trung Quốc). Lịch sử của tên cây: Tên gọi chung “Linh Sam Douglas” (David Douglas) nhà thực vật học người Scotland là người đầu tiên giới thiệu Pseudotsuga menziesii đến Scotland vào năm 1827. Trong quá khứ các loài cây đã được Botanically phân loại trong các nhóm chi cây khác xuất hiện tương tự như trong chi: Abies, Thông , Picea, Sequoia và Tsuga.
Chi này được mô tả đầu tiên bởi Carriere với các đại linh sam Douglas của Bắc Mỹ, Pseudotsuga menziesii như một loài điển hình (nó trước đây được đặt trong chi Thông và Abies). Có 22 loài và 3 giống đã được mô tả, nhưng nhiều loài trong số này được phân biệt bởi Flous (1937) trên cơ sở của sự phân biệt tinh tế trong giải phẫu lá nhưng phần lớn đã không được chấp nhận (Carriere, 1867) [32]. Theo Farjon công nhận chỉ có 4 loài Pseudotsuga là: Pseudotsuga Macrocarpa từ miền nam California, Pseudotsuga Menziesii từ Canada đến nam trung Mexico, Pseudotsuga Japonica từ miền nam Nhật Bản và Pseudotsuga Sinensis từ Trung Quốc. Bao gồm trong sự phát sinh loài Tol cũng là Pseudotsuga wilsoniana từ Đài Loan.
Ngoài Pseudotsuga Wilsoniana, một số loài khác cũng được tách biệt khỏi Pseudotsuga Sinensis (Pseudotsuga forrestii, Pseudotsuga salvadorii, Pseudotsuga gaussenii, Pseudotsuga brevifolia, 9 Pseudotsuga xichangensis) nhưng đã không được chấp nhận rộng rãi (Farjon, A. Nhà thực vật học người Mexico có xu hướng nhận ra 4 loài cô lập của Pseudotsuga menziesii var.glauca ở Mexico: Pseudotsuga macrolepis, Pseudotsuga rehderi, Pseudotsuga guinieri và Pseudotsuga flahaultii (Martínez 1963). Mối quan hệ giữa các loài này được chấp nhận rộng rãi sau nghiên cứu của Strauss et al.1990, sử dụng các mảnh vỡ hạn chế DNA và Gernandt và Liston, sử dụng DNA ribosome hạt nhân (David S.Gernandt and Aaron Liston, 1999) [33]. Thiết Sam Giả Lá Ngắn (Pseudotsuga brevifolia W.
Fu, 1975) được IUCN xếp vào tình trạng sắp nguy cấp (VU), nghiêm cấm khai thác và sử dụng với mục đích thương mại. Ở Việt Nam Nghiên cứu về đặc điểm sinh học, lâm học loài cây Ngoài những tác phẩm cổ điển về thực vật như “Flora Cochinchinensis“ của Loureiro (1790) và “Flore Forestière de la Cochinchine” của Pierre (1879- 1907), thì từ đầu những năm đầu thế kỷ 20 đã xuất hiện một công trình nổi tiếng, là nền tảng cho việc nghiên cứu về hình thái phân loại thực vật, đó là Bộ thực vật chí Đông Dương do H. Lecomte chủ biên (1907-1952). Trong công trình này, các tác giả người pháp đã thu mẫu, định tên và lập khóa mô tả các loài thực vật bậc cao có mạch trên toàn bộ lãnh thổ Đông Dương, trong đó hệ thực vật Việt Nam có 7004 loài, 1850 chi và 289 họ (Tên cây rừng Việt nam, 2000) [5].