Luận văn nghiên cứu một số đặc điểm lâm học loài thiết sam giả lá ngắn pseudotsuga brevifolia w c cheng l k fu 1975 tại khu bảo tồn kim hỷ tỉnh bắc kạn

Nghiên cứu đặc điểm lâm học loài thiết sam giả lá ngắn tại khu bảo tồn Kim Hỷ, tỉnh Bắc Kạn, góp phần bảo tồn và phát triển nguồn gen quý.

Trường đại học

Đại học Thái Nguyên

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2014

74
18
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI NÓI ĐẦU

1. PHẦN 1: MỞ ĐẦU

1.1. Mục đích nghiên cứu

1.2. Mục tiêu nghiên cứu

1.3. Ý nghĩa học tập và nghiên cứu khoa học

1.4. Ý nghĩa về thực tiễn

2. PHẦN 2: TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

2.1. Trên Thế giới

2.2. Tổng quan về khu vực nghiên cứu

2.3. Điều kiện tự nhiên

2.4. Điều kiện kinh tế xã hội

3. PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu

3.2.1. Địa điểm nghiên cứu

3.2.2. Thời gian nghiên cứu

3.3. Nội dung nghiên cứu

3.4. Phương pháp nghiên cứu

3.4.1. Phương pháp nghiên cứu ngoại nghiệp

3.4.2. Phương pháp nghiên cứu nội nghiệp

4. PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

4.1. Đặc điểm hình thái và vật hậu loài cây Thiết Sam Giả Lá Ngắn

4.2. Đặc điểm về phân loại của loài trong hệ thống phân loại

4.3. Đặc điểm hình thái cây

4.4. Đặc điểm địa hình nơi loài Thiết Sam Giả Lá Ngắn phân bố

4.5. Một số đặc điểm cấu trúc quần xã thực vật rừng nơi loài Thiết Sam Giả Lá Ngắn phân bố

4.6. Cấu trúc tổ thành tầng cây cao ở độ cao dưới 700m

4.7. Cấu trúc tổ thành tầng cây cao ở độ cao trên 700m

4.8. Cấu trúc mật độ tầng cây cao tại đai độ cao trên 700m

4.9. Tổ thành cây tái sinh tại đai cao dưới 700m

4.10. Tổ thành cây tái sinh tại đai cao trên 700m

4.11. Chất lượng và nguồn gốc tái sinh

4.12. Đặc điểm loài cây bụi thảm tươi nơi Thiết Sam Giả Lá Ngắn phân bố

4.13. Đề xuất một số giải pháp bảo tồn và phát triển loài Thiết Sam Giả Lá Ngắn tại Khu bảo tồn Kim Hỷ, tỉnh Bắc Kạn

5. PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC BIỂU

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng Quan Nghiên Cứu Đặc Điểm Lâm Học Thiết Sam Giả Lá Ngắn

Bảo tồn đa dạng sinh học là nhiệm vụ trọng tâm toàn cầu. Sự phát triển kinh tế xã hội nhanh chóng cùng quản lý tài nguyên sinh học yếu kém dẫn đến suy thoái đa dạng sinh học. Mất mát đa dạng sinh học đáng lo ngại, nhiều loài động thực vật bị đe dọa tuyệt chủng do con người sử dụng tài nguyên không hợp lý. Quản lý tài nguyên và bảo tồn đa dạng sinh học là cấp thiết. Thiết Sam Giả Lá Ngắn (Pseudotsuga brevifolia W.Fu, 1975) là một trong 33 loài cây lá kim bản địa ở Việt Nam, phân bố tự nhiên ở vùng núi đá vôi Đồng Văn, Hà Giang. Gỗ nhỡ, đẹp và bền, mọc trên đỉnh núi đá vôi 500 – 1500m so với mực nước biển như Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn. Loài này có ý nghĩa về sinh thái, giá trị thương mại, giá trị sử dụng, giá trị văn hóa cảnh quan. Vùng phân bố tự nhiên bị thu hẹp nhanh chóng, cá thể trưởng thành giảm sút do khai thác gỗ, điều kiện sống thay đổi, quần thể bị chia cắt, khả năng tái sinh kém. Loài này đang đối mặt nguy cơ tuyệt chủng. Cần có biện pháp kịp thời để bảo tồn và phát triển nhân rộng loài cây này ở vùng núi đá vôi. Thiết Sam Giả Lá Ngắn được đề nghị bổ sung vào danh lục các loài quý hiếm và nguy cấp theo nghị định 32/NĐ-CP/2006, nghiêm cấm khai thác và sử dụng với mục đích thương mại. Thuộc bậc VU theo sách đỏ Việt Nam 2007 và danh lục đỏ IUCN.

1.1. Tầm Quan Trọng Nghiên Cứu Đặc Điểm Lâm Học Thiết Sam Giả

Nghiên cứu về Thiết Sam Giả Lá Ngắn trên núi đá vôi ở nước ta còn hạn chế, mới chỉ tập trung vào mô tả đặc điểm hình thái, sinh thái, thông tin về khả năng tái sinh ngoài tự nhiên còn rất ít. Để bảo tồn loài quý hiếm này cần thiết phải có những nghiên cứu sâu về đặc điểm hình thái, sinh thái học và vật hậu. Vì vậy việc nghiên cứu sâu về hiện trạng phân bố, đặc điểm lâm học và khả năng tái sinh tự nhiên là điều cần thiết, góp phần giải quyết các các vấn đề đang đặt ra cho công tác bảo tồn một loài quý hiếm, đặc hữu, có giá trị về nhiều mặt nhưng đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng. Xuất phát từ những nguy cơ trên cần thiết phải tìm hiểu nhằm tìm ra các biện pháp có hiệu quả để bảo vệ.

1.2. Mục Tiêu Nghiên Cứu Đặc Điểm Lâm Học Thiết Sam Giả Lá Ngắn

Dựa trên cơ sở nghiên cứu đặc điểm lâm học loài Thiết Sam Giả Lá Ngắn tại Khu bảo tồn Kim Hỷ, tỉnh Bắc Kạn nhằm phát triển và bảo tồn loài này. Về lý luận: Xác định được một số đặc điểm lâm học như: Sinh thái, phân bố, hình thái, cấu trúc, tái sinh của Thiết Sam Giả Lá Ngắn (Pseudotsuga brevifolia W.Fu, 1975) tại Khu bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ, tỉnh Bắc Kạn. Về thực tiễn: Làm cơ sở đưa ra giải pháp bảo tồn và phát triển loài cây: Thiết Sam Giả Lá Ngắn (Pseudotsuga brevifolia W.Fu, 1975) nâng cao tính đa dạng sinh học. Là tài liệu tham khảo cho một số công tác nghiên cứu về cây Thiết Sam Giả Lá Ngắn (Pseudotsuga brevifolia W.

II. Tổng Quan Nghiên Cứu Thiết Sam Giả Lá Ngắn Trên Thế Giới

Nghiên cứu về đặc điểm sinh học, lâm học loài cây ở Nga, từ 1928 đến 1932 được xem là thời kỳ mở đầu cho thời kỳ nghiên cứu hệ thực vật cụ thể. Tolmachop đã đưa ra một nhận định là số loài của một hệ thực vật cụ thể ở vùng nhiệt đới ẩm thường là 1500 - 2000 loài. cho rằng “Chỉ cần điều tra trên một diện tích đủ lớn để có thể bao chùm được sự phong phú của nơi sống nhưng không có sự phân hoá mặt địa lý” (Richards P. Việc nghiên cứu sinh học loài cây trong đó có các đặc điểm hình thái và vật hậu đã được thực hiện từ lâu trên thế giới. Đây là bước đầu tiên, làm tiền đề cho các môn khoa học khác liên quan. Sự ra đời của các bộ thực vật chí đã góp phần làm tiền đề cho công tác nghiên cứu về hình thái, phân loại cũng như đánh giá tính đa dạng của các vùng miền khác nhau. Về vật hậu học: Hoạt động sinh học có tính chất chu kỳ của các cơ quan sinh dưỡng và cơ quan sinh sản. Chu kỳ vật hậu của cùng 1 loài phân bố ở các vùng sinh thái khác nhau sẽ có sự sai khác rõ rệt. Điều này có ý nghĩa cần thiết trong nghiên cứu sinh thái cá thể loài và công tác chọn tạo giống.

2.1. Nghiên Cứu Đặc Điểm Sinh Thái Học Thiết Sam Giả Lá Ngắn

Từ việc vận dụng các lý luận về sinh thái, tái sinh, cấu trúc rừng trên, nhiều nhà khoa học trên thế giới đã vận dụng vào nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái cho từng loài cây. Một vài công trình nghiên cứu có thể kể tới như: Baur G.N cho rằng, trong rừng nhiệt đới sự thiếu hụt ánh sáng đã làm ảnh hưởng đến phát triển của cây con, còn đối với sự nảy mầm thì ảnh hưởng đó thường không rõ ràng. Đối với rừng nhiệt đới, số lượng loài cây trên một đơn vị diện tích và mật độ tái sinh thường khá lớn. Vì vậy, khi nghiên cứu tái sinh tự nhiên cần phải đánh giá chính xác tình hình tái sinh rừng và có những biện pháp tác động phù hợp (Baur G.N, 1962 - Vương Tấn Dũng dịch) [1]. Sampion Gripfit (1948) khi nghiên cứu rừng tự nhiên ở Ấn Độ và rừng ẩm nhiệt đới ở Tây Phi, đã kiến nghị phân cấp cây rừng thành 5 cấp.

2.2. Nghiên Cứu Khả Năng Tái Sinh Của Thiết Sam Giả Lá Ngắn

Tái sinh rừng là một quá trính sinh học mang tính đặc thù và diễn ra liên tục của hệ sinh thái rừng. Sự xuất hiện của cây con của các loài cây đang phát triển dưới tán rừng, lỗ trống trong rừng sau khai thác chọn, sau phát nương làm rẫy. Vai trò quan trọng của lớp tái sinh này là nguồn thay thế lớp cây đã già cỗi, là quá trình phục hồi thành phần cơ bản của rừng. Theo Ashton (1983), cây Dầu Rái (Dipterocarpus alatus) mọc cụm ở ven sông, chỉ tái sinh sau những trận lụt lớn. Nhiều nhà nghiên cứu còn cho rằng, kiểu cách tái sinh phổ biến của cây gỗ rừng mưa là tái sinh theo vệt hay theo lỗ trống (Nguyễn Thanh Bình, 2003) [2].

III. Thực Trạng Nghiên Cứu Thiết Sam Giả Lá Ngắn Tại Việt Nam

Ngoài những tác phẩm cổ điển về thực vật như “Flora Cochinchinensis“ của Loureiro (1790) và “Flore Forestière de la Cochinchine” của Pierre (1879- 1907), thì từ đầu những năm đầu thế kỷ 20 đã xuất hiện một công trình nổi tiếng, là nền tảng cho việc nghiên cứu về hình thái phân loại thực vật, đó là Bộ thực vật chí Đông Dương do H. Lecomte chủ biên (1907-1952). Trong công trình này, các tác giả người pháp đã thu mẫu, định tên và lập khóa mô tả các loài thực vật bậc cao có mạch trên toàn bộ lãnh thổ Đông Dương, trong đó hệ thực vật Việt Nam có 7004 loài, 1850 chi và 289 họ (Tên cây rừng Việt nam, 2000) [5].

3.1. Phân Bố Thiết Sam Giả Lá Ngắn Tại Khu Bảo Tồn Kim Hỷ

Hiện nay, Thiết Sam Giả Lá Ngắn phân bố chủ yếu ở Khu bảo tồn Kim Hỷ, Bắc Kạn. Các nghiên cứu tập trung vào mô tả đặc điểm hình thái, sinh thái, nhưng thông tin về khả năng tái sinh tự nhiên còn hạn chế. Cần có nghiên cứu sâu hơn về hiện trạng phân bố, đặc điểm lâm học và khả năng tái sinh tự nhiên để bảo tồn loài cây này.

3.2. Giá Trị Bảo Tồn Đa Dạng Sinh Học Của Thiết Sam Giả Lá Ngắn

Thiết Sam Giả Lá Ngắn có giá trị cao trong bảo tồn đa dạng sinh học, là loài đặc hữu của Việt Nam. Việc bảo tồn loài cây này góp phần bảo vệ hệ sinh thái rừng và các loài động thực vật khác trong khu vực.

IV. Phương Pháp Nghiên Cứu Đặc Điểm Lâm Học Thiết Sam Giả

Nghiên cứu sử dụng phương pháp điều tra, thu thập số liệu ngoài thực địa và phân tích trong phòng thí nghiệm. Các phương pháp bao gồm: điều tra tuyến, ô tiêu chuẩn, phỏng vấn người dân địa phương và phân tích mẫu đất, mẫu lá. Số liệu được xử lý bằng phần mềm thống kê để đánh giá đặc điểm lâm học của Thiết Sam Giả Lá Ngắn.

4.1. Phương Pháp Nghiên Cứu Ngoại Nghiệp Về Thiết Sam Giả

Phương pháp nghiên cứu ngoại nghiệp bao gồm: xác định vị trí phân bố của Thiết Sam Giả Lá Ngắn, đo đạc các chỉ tiêu sinh trưởng (chiều cao, đường kính), thu thập mẫu lá, mẫu đất và ghi chép các đặc điểm sinh thái của loài cây này.

4.2. Phương Pháp Nghiên Cứu Nội Nghiệp Về Thiết Sam Giả

Phương pháp nghiên cứu nội nghiệp bao gồm: phân tích mẫu lá, mẫu đất để xác định thành phần dinh dưỡng, độ pH và các yếu tố khác ảnh hưởng đến sinh trưởng của Thiết Sam Giả Lá Ngắn. Số liệu được xử lý bằng phần mềm thống kê để đánh giá các đặc điểm lâm học của loài cây này.

V. Kết Quả Nghiên Cứu Đặc Điểm Hình Thái Thiết Sam Giả Lá Ngắn

Nghiên cứu đã xác định được các đặc điểm hình thái của Thiết Sam Giả Lá Ngắn như: chiều cao trung bình, đường kính trung bình, hình dạng lá, màu sắc vỏ cây. Các đặc điểm này giúp phân biệt Thiết Sam Giả Lá Ngắn với các loài cây khác trong khu vực.

5.1. Đặc Điểm Phân Loại Của Thiết Sam Giả Lá Ngắn

Thiết Sam Giả Lá Ngắn (Pseudotsuga brevifolia W.Fu, 1975) thuộc họ Thông (Pinaceae), chi Thiết sam giả (Pseudotsuga). Loài cây này có đặc điểm hình thái riêng biệt so với các loài khác trong chi.

5.2. Đặc Điểm Địa Hình Nơi Thiết Sam Giả Lá Ngắn Phân Bố

Thiết Sam Giả Lá Ngắn thường phân bố ở các vùng núi đá vôi có độ cao từ 500-1500m so với mực nước biển. Địa hình dốc, nhiều đá và đất nghèo dinh dưỡng là môi trường sống đặc trưng của loài cây này.

VI. Giải Pháp Bảo Tồn và Phát Triển Thiết Sam Giả Lá Ngắn

Để bảo tồn và phát triển Thiết Sam Giả Lá Ngắn, cần có các giải pháp đồng bộ như: tăng cường quản lý bảo vệ rừng, phục hồi rừng, nhân giống và trồng mới, nâng cao nhận thức cộng đồng về giá trị của loài cây này.

6.1. Đề Xuất Biện Pháp Bảo Tồn Thiết Sam Giả Lá Ngắn

Các biện pháp bảo tồn bao gồm: ngăn chặn khai thác trái phép, bảo vệ cây mẹ, tạo điều kiện tái sinh tự nhiên và trồng bổ sung cây con.

6.2. Giải Pháp Phát Triển Bền Vững Thiết Sam Giả Lá Ngắn

Phát triển bền vững Thiết Sam Giả Lá Ngắn cần kết hợp bảo tồn với phát triển kinh tế xã hội của cộng đồng địa phương. Có thể khai thác giá trị du lịch sinh thái, phát triển các sản phẩm từ lâm sản phụ để tạo thu nhập cho người dân.

05/06/2025
Luận văn nghiên cứu một số đặc điểm lâm học loài thiết sam giả lá ngắn pseudotsuga brevifolia w c cheng l k fu 1975 tại khu bảo tồn kim hỷ tỉnh bắc kạn

Trích đoạn nội dung tài liệu

mở đầu cho thời kỳ nghiên cứu hệ thực vật cụ thể. Tolmachop đã đưa ra một nhận định là số loài của một hệ thực vật cụ thể ở vùng nhiệt đới ẩm thường là 1500 - 2000 loài. cho rằng “Chỉ cần điều tra trên một diện tích đủ lớn để có thể bao chùm được sự phong phú của nơi sống nhưng không có sự phân hoá mặt địa lý” (Richards P. Việc nghiên cứu sinh học loài cây trong đó có các đặc điểm hình thái và vật hậu đã được thực hiện từ lâu trên thế giới.

Đây là bước đầu tiên, làm tiền đề cho các môn khoa học khác liên quan. Sự ra đời của các bộ thực vật chí đã góp phần làm tiền đề cho công tác nghiên cứu về hình thái, phân loại cũng như đánh giá tính đa dạng của các vùng miền khác nhau. Về vật hậu học: Hoạt động sinh học có tính chất chu kỳ của các cơ quan sinh dưỡng và cơ quan sinh sản. Chu kỳ vật hậu của cùng 1 loài phân bố ở các vùng sinh thái khác nhau sẽ có sự sai khác rõ rệt.

Điều này có ý nghĩa cần thiết trong nghiên cứu sinh thái cá thể loài và công tác chọn tạo giống. Có rất nhiều công trình liên quan đến hình thái và phân loại các loài cây. Những nghiên cứu này đầu tiên tập trung vào mô tả và phân loại các loài, nhóm loài, .Có thể kể đến một vài công trình rất quen thuộc liên quan đến các nước lân cận như: Thực vật chí Hong Kong (1861), Thực vật chí Australia (1866), Thực vật chí rừng Tây Bắc và trung tâm Ấn độ (1874), Thực vật chí Ấn độ 7 tập (1872 – 1897), Thực vật chí Miến Điện (1877), Thực vật chí Malaysia (1892 – 1925), Thực vật chí Hải Nam (1972 – 1977), Thực vật chí Vân Nam (1977), Thực vật chí Quảng Đông, Trung Quốc (9 tập). 5 Nghiên cứu về đặc điểm sinh thái học Từ việc vận dụng các lý luận về sinh thái, tái sinh, cấu trúc rừng trên, nhiều nhà khoa học trên thế giới đã vận dụng vào nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái cho từng loài cây.

Một vài công trình nghiên cứu có thể kể tới như: Baur G.N cho rằng, trong rừng nhiệt đới sự thiếu hụt ánh sáng đã làm ảnh hưởng đến phát triển của cây con, còn đối với sự nảy mầm thì ảnh hưởng đó thường không rõ ràng. Đối với rừng nhiệt đới, số lượng loài cây trên một đơn vị diện tích và mật độ tái sinh thường khá lớn. Vì vậy, khi nghiên cứu tái sinh tự nhiên cần phải đánh giá chính xác tình hình tái sinh rừng và có những biện pháp tác động phù hợp (Baur G.N, 1962 - Vương Tấn Dũng dịch) [1]. Sampion Gripfit (1948) khi nghiên cứu rừng tự nhiên ở Ấn Độ và rừng ẩm nhiệt đới ở Tây Phi, đã kiến nghị phân cấp cây rừng thành 5 cấp.W (1952) phân rừng ở Nigeria thành 6 tầng, tương ứng với chiều cao là 6- 12 m, 12-18 m, 18-24 m, 24-30 m, 30-36 m, 3-42 m, nhưng thực chất đây chỉ là các lớp chiều cao.

P (1971) nghi ngờ sự phân tầng rừng rậm nơi có độ cao dưới 600m ở Puecto Rico và cho rằng không có sự tập trung khối tán ở một tầng riêng biệt nào cả (Richards P.W, 1968) - Vương Tấn Nhị dịch) [20].W đã đi sâu nghiên cứu cấu trúc rừng mưa nhiệt đới về mặt hình thái. Theo tác giả, đặc điểm nổi bật của rừng mưa nhiệt đới là tuyệt đại bộ phận thực vật đều thuộc thân gỗ và thường có nhiều tầng. Ông nhận định: "Rừng mưa thực sự là một quần lạc hoàn chỉnh và cầu kỳ nhất về mặt cấu tạo và cũng phong phú nhất về mặt loài cây" (Richards P.W, 1968) - Vương Tấn Nhị dịch) [20]. Ông đã phân chia ra sinh thái học cá thể và sinh thái học quần thể.

Sinh thái học cá thể nghiên 6 cứu từng cá thể sinh vật hoặc từng loài, trong đó chu kỳ sống, tập tính cũng như khả năng thích nghi với môi trường được đặc biệt chú ý (Odum E. Theo Khamleck (2004), Họ Dẻ có phân bố khá rộng, với khoảng 900 loài chúng được tìm thấy ở vùng ôn đới Bắc bán cầu, cận nhiệt đới và nhiệt đới, song chưa có tài liệu nào công bố chúng có ở vùng nhiệt đới Châu Phi. Hầu hết các loài phân bố tập trung ở Châu Á, đặc biệt ở Việt Nam có tới 216 loài và ít nhất là Châu Phi và vùng Địa Trung Hải chỉ có 2 loài (Nguyễn Hải Tuất, 2006) [28]. Trung tâm Nông lâm kết hợp thế giới (World Agroforestry Centre, 2006), Anon (1996), Keble và Sidiyasa (1994) đã nghiên cứu đặc điểm hình thái của loài Vối Thuốc (Schima wallichii) và đã mô tả tương đối chi tiết về đặc điểm hình thái thân, lá, hoa, quả, hạt của loài cây này, góp phần cung cấp cơ sở cho việc gây trồng và nhân rộng loài Vối thuốc trong các dự án trồng rừng (Hoàng Văn Chúc, 2009) [9].

Tian - XiaoRui trong công trình nghiên cứu về khả năng chịu lửa của một số loài cây trồng rừng đã rút ra kết luận, Vối Thuốc (S. wallichii) có sức chống lửa tốt nhất trong tổng số 12 loài cây nghiên cứu (Hoàng Văn Chúc, 2009) [9]. Vối thuốc là loài cây tiên phong ưa sáng, biên độ sinh thái rộng, phân bố rải rác ở các khu vực phía Đông Nam Châu Á. Vối thuốc xuất hiện ở nhiều vùng rừng thấp (phía Nam Thái Lan) và cả ở các vùng cao hơn (Nepal) cũng như tại các vùng có khí hậu lạnh.

Là cây bản địa của Brunei, Trung Quốc, Ấn Độ, Lào, Myanmar, Nepal, Papua New Guinea, Phillipines, Thailand và Việt 7 Nam. Vối Thuốc thường mọc thành quần thụ từ nơi đất thấp đến núi cao, phân bố ở rừng thứ sinh, nơi đồng cỏ, cây bụi và ngay cả nơi ngập nước có độ mặn nhẹ. Vối thuốc có thể mọc trên nhiều loại đất với thành phần cơ giới và độ phì khác nhau, từ đất cằn cỗi khô cằn đến đất phì nhiêu, tươi tốt, có thể thấy Vối thuốc xuất hiện nơi đầm lầy. Vối Thuốc là loài cây tiên phong sau nương rẫy (Hoàng Văn Chúc, 2009) [9].

Nghiên cứu về khả năng tái sinh Tái sinh rừng là một quá trính sinh học mang tính đặc thù và diễn ra liên tục của hệ sinh thái rừng. Sự xuất hiện của cây con của các loài cây đang phát triển dưới tán rừng, lỗ trống trong rừng sau khai thác chọn, sau phát nương làm rẫy. Vai trò quan trọng của lớp tái sinh này là nguồn thay thế lớp cây đã già cỗi, là quá trình phục hồi thành phần cơ bản của rừng. Theo Ashton (1983), cây Dầu Rái (Dipterocarpus alatus) mọc cụm ở ven sông, chỉ tái sinh sau những trận lụt lớn.

Nhiều nhà nghiên cứu còn cho rằng, kiểu cách tái sinh phổ biến của cây gỗ rừng mưa là tái sinh theo vệt hay theo lỗ trống (Nguyễn Thanh Bình, 2003) [2]. Theo quan điểm của các nhà lâm học thì hiệu quả tái sinh rừng là xác định được mật độ tái sinh, chất lượng cây tái sinh (cây triển vọng), tổ thành loài và phân bố của cây tái sinh…Sự tương đồng hay khác biệt trong tổ thành của loài cây tái sinh với tổ thành loài cây gỗ đã được các nhà khoa học quan tâm Richards (1933, 1939); Baur (1964). Do tính phức tạp của tổ thành loài cây, nên khi khảo sát người ta chỉ đo đếm, nghiên cứu các loài có giá trị thực tiễn và có ý nghĩa nhất định. Tái sinh là một quá trình sinh học mang đặc thù của hệ sinh thái rừng, đó là sự xuất hiện một thế hệ cây con của những loài cây gỗ ở những nơi còn hoàn cảnh rừng.

Hiệu quả của tái sinh rừng được xác định bởi mật độ, tổ thành loài, cấu trúc tuổi, chất lượng cây con, đặc điểm phân bố. Nghiên cứu Thiết Sam Giả lá ngắn Trên thế giới, Thiết Sam Giả lá ngắn gặp ở các vùng núi đá vôi của hai tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây (Trung Quốc). Lịch sử của tên cây: Tên gọi chung “Linh Sam Douglas” (David Douglas) nhà thực vật học người Scotland là người đầu tiên giới thiệu Pseudotsuga menziesii đến Scotland vào năm 1827. Trong quá khứ các loài cây đã được Botanically phân loại trong các nhóm chi cây khác xuất hiện tương tự như trong chi: Abies, Thông , Picea, Sequoia và Tsuga.

Chi này được mô tả đầu tiên bởi Carriere với các đại linh sam Douglas của Bắc Mỹ, Pseudotsuga menziesii như một loài điển hình (nó trước đây được đặt trong chi Thông và Abies). Có 22 loài và 3 giống đã được mô tả, nhưng nhiều loài trong số này được phân biệt bởi Flous (1937) trên cơ sở của sự phân biệt tinh tế trong giải phẫu lá nhưng phần lớn đã không được chấp nhận (Carriere, 1867) [32]. Theo Farjon công nhận chỉ có 4 loài Pseudotsuga là: Pseudotsuga Macrocarpa từ miền nam California, Pseudotsuga Menziesii từ Canada đến nam trung Mexico, Pseudotsuga Japonica từ miền nam Nhật Bản và Pseudotsuga Sinensis từ Trung Quốc. Bao gồm trong sự phát sinh loài Tol cũng là Pseudotsuga wilsoniana từ Đài Loan.

Ngoài Pseudotsuga Wilsoniana, một số loài khác cũng được tách biệt khỏi Pseudotsuga Sinensis (Pseudotsuga forrestii, Pseudotsuga salvadorii, Pseudotsuga gaussenii, Pseudotsuga brevifolia, 9 Pseudotsuga xichangensis) nhưng đã không được chấp nhận rộng rãi (Farjon, A. Nhà thực vật học người Mexico có xu hướng nhận ra 4 loài cô lập của Pseudotsuga menziesii var.glauca ở Mexico: Pseudotsuga macrolepis, Pseudotsuga rehderi, Pseudotsuga guinieri và Pseudotsuga flahaultii (Martínez 1963). Mối quan hệ giữa các loài này được chấp nhận rộng rãi sau nghiên cứu của Strauss et al.1990, sử dụng các mảnh vỡ hạn chế DNA và Gernandt và Liston, sử dụng DNA ribosome hạt nhân (David S.Gernandt and Aaron Liston, 1999) [33]. Thiết Sam Giả Lá Ngắn (Pseudotsuga brevifolia W.

Fu, 1975) được IUCN xếp vào tình trạng sắp nguy cấp (VU), nghiêm cấm khai thác và sử dụng với mục đích thương mại. Ở Việt Nam Nghiên cứu về đặc điểm sinh học, lâm học loài cây Ngoài những tác phẩm cổ điển về thực vật như “Flora Cochinchinensis“ của Loureiro (1790) và “Flore Forestière de la Cochinchine” của Pierre (1879- 1907), thì từ đầu những năm đầu thế kỷ 20 đã xuất hiện một công trình nổi tiếng, là nền tảng cho việc nghiên cứu về hình thái phân loại thực vật, đó là Bộ thực vật chí Đông Dương do H. Lecomte chủ biên (1907-1952). Trong công trình này, các tác giả người pháp đã thu mẫu, định tên và lập khóa mô tả các loài thực vật bậc cao có mạch trên toàn bộ lãnh thổ Đông Dương, trong đó hệ thực vật Việt Nam có 7004 loài, 1850 chi và 289 họ (Tên cây rừng Việt nam, 2000) [5].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên Cứu Đặc Điểm Lâm Học Loài Thiết Sam Giả Lá Ngắn Tại Khu Bảo Tồn Kim Hỷ, Bắc Kạn" cung cấp cái nhìn sâu sắc về đặc điểm sinh học và lâm học của loài thiết sam giả lá ngắn, một loài cây quý hiếm tại khu bảo tồn Kim Hỷ. Nghiên cứu này không chỉ giúp nâng cao hiểu biết về sự đa dạng sinh học mà còn đóng góp vào công tác bảo tồn và phát triển bền vững tài nguyên rừng. Độc giả sẽ tìm thấy những thông tin hữu ích về môi trường sống, đặc điểm sinh trưởng và các biện pháp bảo tồn loài cây này.

Để mở rộng thêm kiến thức về các nghiên cứu liên quan đến bảo tồn và quản lý tài nguyên rừng, bạn có thể tham khảo các tài liệu như Luận án nghiên cứu một số cơ sở khoa học nhằm bảo tồn loài đỗ quyên lá nhọn rhododendron moulmainense hook f tại lâm đồng, nơi cung cấp thông tin về bảo tồn loài đỗ quyên quý hiếm. Bên cạnh đó, Luận văn nghiên cứu đánh giá và xây dựng quy trình nhân giống cho loài sâm núi dành callerya speciosa champ ex benth schot phân bố trên địa bàn tỉnh bắc giang sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về quy trình nhân giống các loài cây quý. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ quản lý tài nguyên rừng nghiên cứu bảo tồn loài xá xị cinnamomum parthenoxylonjack meisn tại khu bảo tồn thiên nhiên xuân liên tỉnh thanh hóa cũng là một tài liệu thú vị về bảo tồn các loài cây quý hiếm khác. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về công tác bảo tồn và phát triển tài nguyên thiên nhiên.