Đặt vấn đề Nước ta nằm trong khu vực có khí hậu nhiệt đới gió mùa, vì vậy nguồn tài nguyên động vật và thực vật rất đa dạng và phong phú. Có rất nhiều loài cây, các loài lâm sản ngoài gỗ quý hiếm, nhiều loài được bảo tồn trong sách đỏ, chúng có giá trị rất cao và nhiều tác dụng: làm nhà, làm dược liệu, cây cảnh, đồ trang sức… Rừng ở nước ta có diện tích lớn và đa dạng, nó không những có tác dụng chống xói mòn, lũ lụt, bảo vệ đất, bảo vệ môi trường sinh thái và bảo tồn đa dạng sinh học…mà còn góp phần lớn vào việc xây dựng các vùng miền văn hóa riêng. Ở Việt Nam, hơn 80% dân số sống ở các vùng nông thôn, cuộc sống người dân còn gặp nhiều khó khăn, sản xuất nông nghiệp là chủ yếu. Đặc biệt là ở miền núi, do tỷ lệ nghèo đói còn chiếm tỷ lệ cao, trình độ văn hóa còn thấp cuộc sống người dân sống chủ yếu phụ thuộc vào rừng và các sản phẩm từ rừng.
Vì vậy, họ không ngừng tác động vào nguồn tài nguyên rừng để đáp ứng nhu cầu cuộc sống của họ: chặt phá rừng bừa bãi, đốt nương làm rẫy, khai thác trái phép gỗ và lâm sản ngoài gỗ… làm cho diện tích rừng ngày càng suy giảm gây ảnh hưởng không nhỏ tới đa dạng sinh học và suy thái môi trường sinh thái. Mặt khác, do nhu cầu cầu thị trường về các sản phẩm từ rừng ngày càng cao, trong khi đó công tác quản lý, bảo vệ còn yếu kém nên một số loài bị khai thác rất nhiều đang đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng, thậm chí một số loài đã bị tuyệt chủng hoàn toàn không còn khả năng tái tạo. Do đó việc bảo về và phát triển rừng đang được Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm và chú trọng và đầu tư ngày càng nhiều vào công tác bảo tồn và phát triển nguồn tài nguyên rừng. Rừng đặc dụng Cham Chu của tỉnh Tuyên Quang có tổng diện tích là 58.187 ha thuộc 2 huyện Hàm Yên và Chiêm Hóa bao gồm 10 xã: Yên Thuận; Minh Khương; Bạch Xa; Minh Dân; Phù Lưu; Minh Hương (huyện 2 Hàm Yên), xã Trung Hà; Hạ Lang; Tân An; Hoà Phú (Chiêm Hoá).
Rừng đặc dụng Cham Chu không những đa dạng về các kiểu hệ sinh thái rừng mà hệ thực vật ở đây còn phong phú và đa dạng về thành phần loài; Về thành phần loài thực vật có mặt ở đây lên đến 1500 - 2000 loài, trong đó nhiều loài đặc hữu, quý hiếm có tên trong Sách đỏ Việt Nam, nhiều loài thực vật có giá trị kinh tế cao như Hoàng Đàn, Pơ mu, Thông tre, Nghiến và Trai Lý, Chò chỉ, Gù hương.Henry et Thomas) thuộc họ Hoàng đàn (Cupressaceae), là loại gỗ quý thuộc nhóm loài cây sẽ nguy cấp (VU) loài cây này không chỉ có ý nghĩa về mặt khoa học mà còn có giá trị kinh tế rất cao. Pơ mu là một trong những loài suy giảm mạnh về số lượng nếu chúng ta không có những biện pháp tác động hiệu quả loài cây này có thể bị tuyệt chủng trong tương lai. Làm thế nào để duy trì sử dụng lâu bền tài nguyên rừng nói chung, Pơ mu nói riêng. Vấn đề đặt ra là chúng ta cần nghiên cứu để sử dụng và bảo tồn loài cây này một cách tốt nhất.
Từ những vấn đề cấp thiết trên tôi thực hiện đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm lâm học của loài Pơ mu (Fokienia hodginsii (Dunn) A. Henry et Thomas) tại rừng đặc dụng Cham chu tỉnh Tuyên Quang” 1. Mục tiêu của đề tài - Xác định được một số đặc điểm sinh vật học của loài cây Pơ mu. - Xác định được một số đặc điểm lâm học của loài Pơ mu.
- Đề xuất được một số giải pháp nhằm bảo tồn và phát triển loài Pơ mu tại địa phương. Ý nghĩa của đề tài 1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu - Giúp cho sinh viên thực hành củng cố lại những kiến thức đã học trên lớp để áp dụng vào thực tế. Thông qua quá trình học hỏi kinh nghiệm và kiến 3 thức của cán bộ, người dân địa phương sẽ giúp bổ sung kiến thức cho sinh viên, nâng cao năng lực, kỹ năng để hoàn thành tốt công việc của mình.
- Kết quả của đề tài nghiên cứu sẽ giúp cho chúng ta hiểu thêm về đặc điểm sinh trưởng và phát triển của cây Pơ mu và là cơ sở cho việc bảo tồn và nhân rộng loài cây này. Ý nghĩa trong thực tiến - Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là cơ sở cho việc xây dựng các biện pháp bảo tồn và phát triển loài cây Pơ mu trong khu vực bảo tồn một cách thích hợp. - Giúp cho người dân và cán bộ kiểm lâm nhận thức được tầm quan trọng của việc bảo tồn loài cây Pơ mu trong đời sống và nghiên cứu. - Đưa ra được những cơ sở sinh thái học của loài cây Pơ mu tại khu vực nghiên cứu, tạo tiền đề cho việc gây trồng loài cây này trong khu bảo tồn.
4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở khoa học của nghiên cứu Hiện nay, do nhiều nguyên nhân khác nhau làm cho nguồn tài nguồn tài nguyên ĐDSH trên thế giới cũng như của Việt Nam đã và đang bị suy giảm. Nhiều hệ sinh thái và môi trường sống bị thu hẹp diện tích và nhiều Taxon loài và dưới loài đang đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng trong một tương lai gần. Yêu cầu đặt ra là phải tìm hiểu, nghiên cứu các đặc điểm sinh học của các loài động thực vật để từ đó có thể đề xuất các giải pháp nhằm bảo tồn chúng một cách có hiệu quả.
Nghiên cứu đặc điểm sinh học của loài hết sức cần thiết và quan trọng, đây là cơ sở khoa học cho việc bảo vệ và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên, ngăn ngừa suy thoái các loài nhất là những loài động, thực vật quý hiếm, ngăn ngừa ô nhiễm môi trường… là cơ sở khoa học xây dựng mối quan hệ giữa con người và thế giới tự nhiên. Để khắc phục tình trạng trên Chính phủ Việt Nam đã đề ra nhiều biện pháp, cùng với các chính sách kèm theo nhằm bảo vệ tốt hơn tài nguyên ĐDSH của đất nước. Tuy nhiên, thực tế đang đặt ra nhiều vấn đề liên quan đến bảo tồn ĐDSH cần phải giải quyết như quan hệ giữa bảo tồn và phát triển bền vững hoặc tác động của biến đổi khí hậu đối với bảo tồn ĐDSH … Dựa trên các tiêu chuẩn đánh giá tình trạng các loài của sách đỏ thế giới, chính phủ Việt Nam cũng công bố Sách đỏ Việt Nam, để hướng dẫn, thúc đẩy công tác bảo vệ tài nguyên sinh vật thiên nhiên. Đây cũng là tài liệu khoa học được sử dụng vào việc soạn thảo và ban hành các quy định, luật pháp của nhà nước về bảo vệ tài nguyên sinh vật thiên nhiên, tính đa dạng sinh học và môi trường sinh thái.
Các loài được xếp vào 9 bậc theo các tiêu 5 chí về mức độ đe dọa tuyệt chủng như tốc độ suy thoái (rate of decline), kích thước quần thể (population size), phạm vi phân bố (area of geographic distribution), và mức độ phân tách quần thể và khu phân bố (degree of population and distribution fragmentation). + Tuyệt chủng (EX): Là một trạng thái bảo tồn của sinh vật được quy định trong Sách đỏ IUCN. Một loài hoặc dưới loài bị coi là tuyệt chủng khi có những bằng chứng chắc chắn rằng cá thể cuối cùng đã chết. + Tuyệt chủng ngoài thiên nhiên (EW): là một trạng thái bảo tồn của sinh vật.
Một loài hoặc dưới loài bị coi là tuyệt chủng trong tự nhiên khi các cuộc khảo sát kỹ lưỡng ở sinh cảnh đã biết và hoặc sinh cảnh dự đoán, vào những thời gian thích hợp (theo ngày, mùa, năm) xuyên suốt vùng phân bố lịch sử của loài đều không ghi nhận được cá thể nào. Các khảo sát nên vượt khung thời gian thích hợp cho vòng sống và dạng sống của đơn vị phân loại đó. Các cá thể của loài này chỉ còn được tìm thấy với số lượng rất ít trong sinh cảnh nhân tạo và phụ thuộc hoàn toàn vào chăm sóc của con người. + Rất nguy cấp (CR): là một trạng thái bảo tồn của sinh vật.
Một loài hoặc nòi được coi là cực kỳ nguy cấp khi nó phải đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng trong tự nhiên rất cao trong một tương lai rất gần. + Nguy cấp (EN): Là một trạng thái bảo tồn của sinh vật. Một loài bị coi là Nguy cấp khi nó phải đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng trong tự nhiên rất cao trong một tương lai rất gần nhưng kém hơn mức cực kỳ nguy cấp. + Sẽ nguy cấp (VU): Là một trạng thái bảo tồn của sinh vật.
Một loài hoặc nòi bị đánh giá là sắp nguy cấp khi nó không nằm trong 2 bậc CR và nguy cấp (EN) nhưng phải đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng trong tự nhiên cao trong một tương lai không xa. + Sắp bị đe dọa: là một trạng thái bảo tồn của sinh vật. Một loài hoặc nòi bị đánh giá là sắp bị đe dọa khi nó sắp phải đối mặt với nguy cơ tuyệt 6 chủng trong tự nhiên cao trong một tương lai không xa. + Ít lo ngại (Least Concern) - Ic: Bao gồm các taxon không được coi là phụ thuộc bảo tồn hoặc sắp bị đe dọa.
+ Thiếu dẫn liệu (Data Deficient) - DD: Một taxon được coi là thiếu dẫn liệu khi chưa đủ thông tin để có thể đánh giá trực tiếp hoặc gián tiếp về nguy cơ tuyệt chủng, căn cứ trên sự phân bố và tình trạng quần thể. + Không đánh giá (Not Evaluated) - NE: Một taxon được coi là không đánh giá khi chưa được đối chiếu với các tiêu chuẩn phân hạng. Dựa vào tiêu chuẩn đánh giá tình trạng các loài của IUCN và các tài liệu kế thừa của Khu bảo tồn thiên nhiên Phia Oắc – Phia Đén cho thấy: tại Khu bảo tồn thiên nhiên Phia Oắc – Phia Đén tồn tại rất nhiều loài động, thực vật được xếp vào các cấp bảo tồn CR, EN, VU,… cần được bảo tồn nhằm gìn giữ nguồn gen quý giá cho đa dạng sinh học ở Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung. Cho nên việc nghiên cứu một số loài thực vật quý hiếm đặc biệt là loài cây Pơ mu và đề xuất các phương thức bảo tồn và phát triển các loài thực vật quý hiếm nói chung và loài Pơ mu nói riêng, nhằm tránh khỏi sự mai một của các loài thực vật quý hiếm và nguồn gen của chúng là điều hết sức cần thiết.