Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Sa mộc dầu (Cunninghamia konishii Hayata), còn có tên gọi khác là Sa mu dầu hay Ngọc am, là loài thực vật thân gỗ quý hiếm thuộc họ Hoàng đàn (Cupressaceae), bộ Thông (Coniferales). Về mặt pháp lý và bảo tồn, loài này được xếp hạng ở cấp VU A1adC1 trong Sách Đỏ Việt Nam (2007) và thuộc nhóm IIA (thực vật rừng hạn chế khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại) theo Nghị định số 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ. Do gỗ Sa mộc dầu có đặc tính cơ lý tốt, ít mối mọt, vân thớ và màu sắc đẹp, mùi thơm đặc trưng, nên bị khai thác ráo riết để làm nhà gỗ, đồ thủ công mỹ nghệ, đồ gia dụng và chiết xuất tinh dầu, dẫn đến nguy cơ tuyệt chủng ngoài tự nhiên.

Tại Vườn Quốc gia (VQG) Pù Mát, tỉnh Nghệ An, các nghiên cứu trước đây đã xác nhận sự hiện diện của loài, nhưng các dẫn liệu khoa học chi tiết về đặc điểm phân bố, tổ thành lâm phần, cấu trúc quần xã, đặc tính vật hậu và khả năng tái sinh tự nhiên còn thiếu hụt. Khóa luận tốt nghiệp "Nghiên cứu phân bố và đặc điểm lâm học của loài cây Sa mộc dầu (Cunninghamia konishii Hayata) tại Vườn Quốc gia Pù Mát - Tỉnh Nghệ An" do sinh viên Nguyễn Hữu Tiến thực hiện (năm 2014) dưới sự hướng dẫn của TS. Hồ Ngọc Sơn tại Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên nhằm giải quyết các khoảng trống dữ liệu này.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài gồm:

  1. Xác định phân bố của Sa mộc dầu tại VQG Pù Mát theo đai cao và địa lý.
  2. Nghiên cứu đặc điểm lâm học của Sa mộc dầu: đặc điểm hình thái và vật hậu (thân, lá, hoa/nón, quả); đặc điểm sinh thái (hoàn cảnh rừng, cấu trúc quần xã thực vật: mật độ, tổ thành, tầng thứ, mức độ thường gặp); đặc điểm tái sinh tự nhiên (mật độ, cấu trúc tổ thành, chất lượng và phân cấp chiều cao cây tái sinh).
  3. Đánh giá giá trị nguồn gen của loài cây Sa mộc dầu.
  4. Đề xuất hệ thống giải pháp bảo tồn và phát triển loài (giải pháp kỹ thuật, chính sách pháp luật, kinh tế - xã hội).

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng: Loài Sa mộc dầu (Cunninghamia konishii Hayata) thuộc họ Hoàng đàn (Cupressaceae).
  • Phạm vi không gian: Các khu vực rừng tự nhiên có Sa mộc dầu phân bố tại VQG Pù Mát, tỉnh Nghệ An (tập trung tại các tiểu khu thuộc tuyến Khe Thơi, Khe Bu, Tam Đình - Tam Hợp).
  • Phạm vi thời gian: Đề tài thực hiện từ ngày 31/12/2013 đến ngày 20/04/2014.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận áp dụng khung lý thuyết phân loại thảm thực vật rừng nhiệt đới Việt Nam của Thái Văn Trừng (1998, 1999) để xác định trạng thái rừng, kết hợp với các văn bản pháp lý quản lý nguồn gen nguy cấp gồm Sách Đỏ Việt Nam (2007) và Nghị định 32/2006/NĐ-CP.

Phương pháp nghiên cứu thực địa và xử lý số liệu bao gồm:

  • Phương pháp kế thừa tài liệu: Thu thập dữ liệu thứ cấp về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội, địa chất, thổ nhưỡng, hệ thực vật từ Phòng Nghiên cứu Khoa học VQG Pù Mát và 4 trạm khí tượng thủy văn (Tương Dương, Con Cuông, Anh Sơn, Vinh).
  • Phương pháp điều tra lâm học thông thường: Thiết lập 3 tuyến điều tra thực địa (tuyến Khe Thơi, Khe Bu, Tam Đình - Tam Hợp) đại diện cho các trạng thái rừng và sườn địa hình. Lập 10 ô tiêu chuẩn (ÔTC) tạm thời có diện tích $1.500\text{ m}^2$ tại các vị trí chân, sườn, đỉnh ở các đai cao từ $900\text{ m}$ đến $1.500\text{ m}$.
  • Phương pháp đo đếm và chỉ tiêu lâm học: Xác định đường kính ngang ngực tại vị trí $1,3\text{ m}$ ($D_{1.3}$), chiều cao vút ngọn ($H_{vn}$), mật độ loài, mô tả cấu trúc tầng thứ.
  • Phương pháp tính toán tổ thành loài: Sử dụng công thức xác định loài ưu thế $N_{TB} = \frac{N}{m}$ (với $N$ là tổng số cây, $m$ là tổng số loài) và tính hệ số tổ thành $N_a = \frac{n}{N} \times 10$ ($n$ là số cây của loài $a$).
  • Phương pháp đánh giá tái sinh: Tính mật độ cây tái sinh theo công thức $N/\text{ha} = \frac{10.000 \times n}{S}$ (với $S$ là tổng diện tích ô điều tra, $n$ là số cây tái sinh) và tỷ lệ chất lượng cây tái sinh $N% = \left(\frac{n}{N}\right) \times 100$.
  • Phương pháp phỏng vấn: Thực hiện phỏng vấn bán cấu trúc cán bộ kiểm lâm VQG Pù Mát, chiến sĩ đồn biên phòng 551 và người dân địa phương tại các thôn bản lân cận nhằm thu thập dữ liệu lịch sử khai thác, phân bố và giá trị sử dụng.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Phần này trình bày tính cấp thiết của việc bảo tồn nguồn gen cây lá kim quý hiếm, xác lập các mục tiêu, nhiệm vụ và ý nghĩa khoa học, thực tiễn của việc nghiên cứu phân bố, lâm học loài Sa mộc dầu tại VQG Pù Mát.

Phần 2: Tổng quan nghiên cứu

Tổng quan các công trình nghiên cứu về Sa mộc dầu và công tác bảo tồn nguồn gen thực vật trong nước và quốc tế. Tác giả tổng hợp dữ liệu phân bố của loài tại Hà Giang, Sơn La, Thanh Hóa, Nghệ An, Đài Loan và Lào; các dẫn liệu nhân giống cây lá kim của Lê Đình Khả, Nguyễn Hoàng Nghĩa; hiện trạng tái sinh kém ghi nhận bởi Nguyễn Văn Sinh (2009). Đồng thời, chương này mô tả chi tiết điều kiện tự nhiên, địa hình, mạng lưới sông suối (Khe Thơi, Khe Choăng, Khe Khăng), thổ nhưỡng (các nhóm đất Feralit), khí hậu nhiệt đới gió mùa chịu ảnh hưởng gió Tây khô nóng, hiện trạng kinh tế - xã hội của 16 xã thuộc 3 huyện Anh Sơn, Con Cuông, Tương Dương và thống kê hệ thực vật VQG Pù Mát gồm 2.494 loài thuộc 931 chi, 202 họ của 6 ngành thực vật bậc cao.

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Trình bày cụ thể đối tượng nghiên cứu là loài Sa mộc dầu (Cunninghamia konishii Hayata), phạm vi thực hiện tại VQG Pù Mát từ tháng 12/2013 đến tháng 04/2014. Mô tả chi tiết phương pháp lập 3 tuyến điều tra, 10 ÔTC diện tích $1.500\text{ m}^2$, các công thức toán học đo đếm lâm học, phương pháp quan sát vật hậu, phân tích mẫu đất và phiếu phỏng vấn người dân.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Chương này phản ánh toàn bộ kết quả định lượng thu thập từ 10 ÔTC và các tuyến điều tra thực địa:

1. Phân bố và diện tích: Kết quả điều tra xác định được tổng cộng 78 cá thể Sa mộc dầu phân bố trên tổng diện tích 7,682 ha, nằm ở các đai cao từ 900 m đến 1.500 m, độ dốc dao động từ $40^\circ$ đến $45^\circ$. Số lượng cá thể tập trung cao nhất ở tuyến Khe Thơi (38 cây, diện tích 5,048 ha), tiếp đến là tuyến Tam Đình - Tam Hợp (24 cây, diện tích 1,845 ha) và ít nhất tại tuyến Khe Bu (16 cây, diện tích 0,789 ha).

Khu vực Tiểu khu Đai cao trung bình (m) Độ dốc ($^\circ$) Số lượng (cây) $D_{1.3}$ trung bình (cm) $H_{vn}$ trung bình (m) Diện tích (ha)
Khe Thơi 787 1.189 40 - 43 38 104,20 26,00 5,048
Khe Bu 798 1.092 43 - 45 16 102,50 28,20 0,789
Tam Đình - Tam Hợp 705 1.239 41 - 45 24 92,40 15,50 0,723
Tam Đình - Tam Hợp 707 1.239 41 - 45 — — — 1,122
Tổng cộng 78 7,682

2. Tổ thành loài và cấu trúc tầng thứ: Công thức tổ thành tầng cây cao được xác lập cho 10 ÔTC như sau:

  • ÔTC 01 (Khe Thơi, đai 900–1.100 m): $2,4\text{Sm} + 1,4\text{Dg} + 1,2\text{Smd} + 1,1\text{Vr} + 1,0\text{Pm} + 0,6\text{T} + 2,3\text{Lk}$ (Tổng: 49 cây; Smd: 6 cây).
  • ÔTC 02 (Khe Thơi, đai 1.300 m): $2,2\text{Smd} + 2,0\text{Cm} + 1,6\text{Vr} + 1,1\text{V} + 0,9\text{T} + 0,8\text{B} + 1,6\text{Lk}$ (Tổng: 64 cây; Smd: 14 cây).
  • ÔTC 03 (Khe Thơi, đai 1.500 m): $1,9\text{Cpr} + 1,6\text{Sm} + 1,3\text{T} + 1,1\text{Smd} + 0,8\text{G} + 0,6\text{Dg} + 2,6\text{Lk}$ (Tổng: 62 cây; Smd: 7 cây).
  • ÔTC 04 (Khe Thơi, đai 1.300 m): $1,9\text{Vr} + 1,6\text{Smd} + 1,5\text{G} + 1,3\text{Ms} + 1,3\text{Sm} + 0,9\text{Tt} + 1,3\text{Lk}$ (Tổng: 67 cây; Smd: 11 cây).
  • ÔTC 05 (Khe Bu, đai 900–1.100 m): $2,0\text{Vr} + 1,5\text{Mc} + 1,5\text{Smd} + 1,1\text{S} + 1,0\text{Tr} + 0,8\text{T} + 2,1\text{Lk}$ (Tổng: 61 cây; Smd: 9 cây).
  • ÔTC 06 (Khe Bu, đai 1.300 m): $2,4\text{G} + 1,8\text{Cs} + 1,7\text{Mc} + 1,2\text{T} + 1,1\text{Smd} + 0,8\text{Dg} + 1,0\text{Lk}$ (Tổng: 66 cây; Smd: 7 cây).
  • ÔTC 07 (Tam Đình - Tam Hợp, đai 900–1.100 m): $1,8\text{Tt} + 1,6\text{Smd} + 1,5\text{Cpr} + 1,1\text{D} + 1,1\text{T} + 0,9\text{Sm} + 2,0\text{Lk}$ (Tổng: 55 cây; Smd: 9 cây).
  • ÔTC 08 (Tam Đình - Tam Hợp, đai 1.300 m): $1,8\text{Vr} + 1,5\text{T} + 1,3\text{D} + 1,2\text{G} + 1,2\text{Sm} + 1,0\text{Smd} + 2,0\text{Lk}$ (Tổng: 53 cây; Smd: 5 cây).
  • ÔTC 09 (Tam Đình - Tam Hợp, đai 1.300–1.500 m): $2,0\text{Dg} + 1,6\text{Ct} + 1,4\text{Smd} + 1,0\text{B} + 1,0\text{Tt} + 0,8\text{Cpr} + 2,2\text{Lk}$ (Tổng: 50 cây; Smd: 7 cây).
  • ÔTC 10 (Tam Đình - Tam Hợp, đai 1.500 m): $2,6\text{Dg} + 1,8\text{Clt} + 1,6\text{Vr} + 1,3\text{Tm} + 0,8\text{Smd} + 0,6\text{Pm} + 1,3\text{Lk}$ (Tổng: 62 cây; Smd: 5 cây).

(Ký hiệu loài: Smd: Sa mộc dầu, Sm: Săng mây, Pm: Pơ mu, Dg: Dẻ gai, T: Trâm, Vr: Vải rừng, B: Bứa, V: Vừ, Cm: Chòi mòi, Cpr: Cà phê rừng, G: Gội, Ms: Mã sưa, Tt: Thông tre, Mc: Máu chó, S: Sến, Tr: Thị rừng, Cs: Cuồng sữa, D: Dẻ, Ct: Cán thỏn, Tm: Táu muối, Clt: Côm lá to, Lk: Loài khác).

Cấu trúc tầng thứ gồm 4 tầng rõ rệt: Tầng vượt tán ($>20\text{ m}$, gồm Sa mộc dầu, Pơ mu, Dổi; cá biệt Sa mộc dầu đạt $50\text{--}70\text{ m}$); Tầng tán chính ($15\text{--}20\text{ m}$, gồm Săng mây, Chân chim, Dẻ); Tầng tán dưới ($5\text{--}15\text{ m}$, gồm Cà phê rừng, Vải rừng, Chòi mòi); Tầng cây bụi, thảm tươi dưới tán ($<5\text{ m}$, rất thưa thớt, gồm dây leo và cây chịu bóng).

3. Đặc điểm hình thái, vật hậu và sinh thái:

  • Hình thái: Cây gỗ lớn thường xanh, thân thẳng, phân cành cao, gốc có bạnh vè. Cây lớn nhất ghi nhận có đường kính $D_{1.3} > 5,5\text{ m}$, chiều cao $H_{vn} > 70\text{ m}$. Vỏ nứt dọc màu nâu xám, dày $1\text{--}1,2\text{ cm}$, thịt vỏ màu hồng nhạt, tiết nhựa mủ trắng chuyển sang vàng nhạt. Lá mọc xoắn ốc xếp 2 dãy, dài $2\text{--}4\text{ cm}$, rộng $0,25\text{ cm}$, mặt dưới có 2 dải khí khổng phấn trắng. Nón đơn tính cùng gốc; nón cái hình trứng tròn dài $2,5\text{--}5\text{ cm}$, đường kính $3\text{--}5\text{ cm}$; hạt hình trái xoan dẹp dài $5\text{--}7\text{ mm}$, rộng $2\text{--}5\text{ mm}$, có cánh nhỏ.
  • Vật hậu: Sinh trưởng 2 nhịp/năm (tháng 5-6 và tháng 9-10). Ra nón vào tháng 9-10, quả chín từ tháng 3 đến tháng 5 năm sau. Hạt không tự tách khỏi nón khi chín mà lưu lại trên nón, khi nón rụng xuống đất ẩm mới nảy mầm trực tiếp thành cụm cây mạ.
  • Sinh thái và đất đai: Phân bố ở rừng mưa ẩm á nhiệt đới đai cao $900\text{--}1.500\text{ m}$, độ ẩm không khí trung bình $85\text{--}86%$, đất Feralit vàng nhạt đến vàng xám phát triển trên đá trầm tích và biến chất hạt thô, tầng đất dày $30\text{--}60\text{ cm}$, nhiều đá vụn, đất ít chua ($\text{pH}_{\text{KCl}} = 5,8$), giàu mùn ($5,4%$), hàm lượng lân dễ tiêu $\text{P}_2\text{O}_5 = 2,6\text{ mg}/100\text{g}$, kali dễ tiêu $\text{K}_2\text{O} = 30,4\text{ mg}/100\text{g}$, đạm $\text{NH}_4^+ = 5,0\text{ mg}/100\text{g}$.
  • Đặc điểm tái sinh tự nhiên: Tại toàn bộ 10 ÔTC trên cả 3 tuyến điều tra, hoàn toàn không phát hiện cây tái sinh của Sa mộc dầu dưới tán rừng. Nguyên nhân do cây ưa sáng mạnh, trong khi tán rừng có độ tàn che cao; quần thể cây mẹ hiện tại đều đã già cỗi, thành thục tự nhiên, xuất hiện hiện tượng rỗng ruột, mục gốc và chết đổ.
  • Giá trị sử dụng và nguồn gen: Gỗ được khai thác làm cột nhà, ván lợp, lát sàn, đóng đồ gia dụng bàn ghế, làm quan tài (nhờ đặc tính chống mối mọt) và tiện bình hoa trang trí, gốc cây chạm khắc mỹ nghệ.
  • Hệ thống giải pháp đề xuất:
    • Kỹ thuật: Mở tán rừng, phát dọn thực bì tạo khoảng trống ánh sáng để xúc tiến tái sinh tự nhiên; thu hái quả chín để gieo ươm; nghiên cứu nhân giống sinh dưỡng (giâm hom chồi vượt) và gieo ươm hạt phục vụ bảo tồn ngoại vi (ex-situ); bảo tồn nguyên vị (in-situ) bằng phân định ranh giới tiểu khu giao cho các trạm kiểm lâm.
    • Chính sách pháp luật: Tăng cường tuần tra, áp dụng mô hình đồng quản lý rừng, nâng mức xử phạt vi phạm hành chính, trang bị thêm phương tiện cho lực lượng kiểm lâm.
    • Kinh tế - xã hội: Hỗ trợ sinh kế vùng đệm qua giống cây trồng vật nuôi mới, mở lớp xóa mù chữ, xây dựng quy ước thôn bản và thực hiện kế hoạch di dân khỏi vùng lõi VQG.

Kết quả và đóng góp

Kết quả chính kèm số liệu thực tế

  • Xác định tổng số cá thể Sa mộc dầu trưởng thành tại 3 khu vực điều tra là 78 cây trên tổng diện tích $7,682\text{ ha}$, phân bố tại các tiểu khu 787 (Khe Thơi: 38 cây, diện tích 5,048 ha), tiểu khu 798 (Khe Bu: 16 cây, diện tích 0,789 ha), tiểu khu 705 và 707 (Tam Đình - Tam Hợp: 24 cây, diện tích 1,845 ha).
  • Đo đếm thông số kích thước bình quân: Khe Thơi có $D_{1.3} = 104,20\text{ cm}$, $H_{vn} = 26,00\text{ m}$; Khe Bu có $D_{1.3} = 102,50\text{ cm}$, $H_{vn} = 28,20\text{ m}$; Tam Đình - Tam Hợp có $D_{1.3} = 92,40\text{ cm}$, $H_{vn} = 15,50\text{ m}$. Cây lớn nhất ghi nhận tại VQG Pù Mát đạt đường kính $D_{1.3} > 5,5\text{ m}$ và chiều cao $H_{vn} > 70\text{ m}$.
  • Xác định cấu trúc tầng tán và 10 công thức tổ thành loài tầng cây cao tại các đai cao từ 900 m đến 1.500 m. Hệ số tổ thành của Sa mộc dầu dao động từ 0,8 (ÔTC 10) đến 2,2 (ÔTC 02).
  • Cung cấp chỉ số hóa lý đất nơi Sa mộc dầu sinh sống: $\text{pH}_{\text{KCl}} = 5,8$, mùn $5,4%$, $\text{P}_2\text{O}_5 = 2,6\text{ mg}/100\text{g}$, $\text{K}_2\text{O} = 30,4\text{ mg}/100\text{g}$, $\text{NH}_4^+ = 5,0\text{ mg}/100\text{g}$.
  • Khẳng định thực trạng tái sinh tự nhiên dưới tán rừng kín bằng 0 cây/ha tại tất cả các điểm khảo sát.

Đóng góp của đề tài

  • Cung cấp dẫn liệu khoa học định lượng đầu tiên về tọa độ, tiểu khu và diện tích phân bố cụ thể của loài Sa mộc dầu tại VQG Pù Mát, phục vụ trực tiếp cho việc phân định ranh giới quản lý của các trạm bảo vệ rừng Khe Thơi, Khe Bu và Tam Hợp.
  • Làm rõ đặc tính sinh thái đặc thù: Sa mộc dầu là cây ưa sáng ở giai đoạn cây con, hạt không phát tán xa mà nảy mầm trực tiếp trên nón rụng, giải thích nguyên nhân vắng bóng cây tái sinh dưới tán rừng rậm.
  • Đề xuất hệ thống giải pháp bảo tồn có tính phân loại rõ ràng giữa bảo tồn nguyên vị (in-situ), bảo tồn ngoại vi (ex-situ) và cơ chế đồng quản lý rừng với cộng đồng địa phương.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Thời gian thực địa diễn ra trong giai đoạn ngắn (từ cuối tháng 12/2013 đến tháng 04/2014) nên tác giả chưa theo dõi trực tiếp được đặc điểm hình thái và sinh lý hoa của Sa mộc dầu do không trùng vào mùa hoa nở. Nghiên cứu mới dừng lại ở mức độ điều tra mô tả thực địa, chưa tiến hành thực nghiệm gieo ươm hạt hay giâm hom nhân giống tại vườn ươm.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Cần tiếp tục theo dõi chu kỳ vật hậu học hoàn chỉnh trong năm (đặc biệt là giai đoạn ra hoa); triển khai các nghiên cứu thử nghiệm nhân giống vô tính (giâm hom mô hình) và hữu tính (xử lý tách hạt gieo ươm); thực hiện các thí nghiệm tỉa thưa, mở tán tán rừng cục bộ tại hiện trường để đánh giá phản ứng tái sinh tự nhiên của loài.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu tham khảo chuyên khảo hữu ích cho:

  • Đối tượng: Sinh viên, học viên cao học, cán bộ nghiên cứu chuyên ngành Lâm nghiệp, Nông lâm kết hợp, Quản lý tài nguyên rừng, Sinh thái học thực vật và cán bộ kỹ thuật tại các ban quản lý rừng đặc dụng, vườn quốc gia.
  • Nội dung đáng tham khảo:
    • Phương pháp thiết lập tuyến điều tra và ô tiêu chuẩn định lượng tại khu vực rừng núi cao có địa hình phức tạp, độ dốc lớn ($>40^\circ$).
    • Bộ số liệu chi tiết về 10 công thức tổ thành loài tầng cây cao đi kèm với Sa mộc dầu tại khu vực Bắc Trường Sơn.
    • Các luận cứ sinh thái học giải thích nguyên nhân suy giảm tái sinh của loài cây hạt trần quý hiếm dưới tán rừng thứ sinh và nguyên sinh.

Câu hỏi thường gặp

1. Sa mộc dầu tại VQG Pù Mát phân bố tại những tiểu khu và đai cao nào?
Sa mộc dầu phân bố tại 4 tiểu khu: tiểu khu 787 (tuyến Khe Thơi), tiểu khu 798 (tuyến Khe Bu), tiểu khu 705 và tiểu khu 707 (tuyến Tam Đình - Tam Hợp), tập trung ở các đai cao từ $900\text{ m}$ đến $1.500\text{ m}$ trên sườn dốc từ $40^\circ$ đến $45^\circ$.

2. Tổng số cây Sa mộc dầu trưởng thành và diện tích phân bố ghi nhận được trong nghiên cứu là bao nhiêu?
Nghiên cứu ghi nhận tổng cộng 78 cá thể Sa mộc dầu trưởng thành phân bố trên tổng diện tích $7,682\text{ ha}$ (Khe Thơi: 38 cây / 5,048 ha; Khe Bu: 16 cây / 0,789 ha; Tam Đình - Tam Hợp: 24 cây / 1,845 ha).

3. Đặc điểm vật hậu học về hạt và nón của Sa mộc dầu có điểm gì khác biệt so với các loài hạt trần thông thường?
Khác với các loài hạt trần tự tách hạt khi chín để phát tán nhờ gió, quả nón Sa mộc dầu sau khi chín (tháng 3–5) giữ nguyên hạt bên trong. Khi nón rụng xuống đất gặp điều kiện ẩm ướt thuận lợi, hạt nảy mầm và phát triển thành cụm cây mạ ngay trên nón rụng.

4. Vì sao điều tra thực địa tại 10 ÔTC đều không phát hiện cây tái sinh dưới tán rừng?
Do cây tái sinh Sa mộc dầu có nhu cầu ánh sáng rất cao (ưa sáng mạnh), trong khi rừng tự nhiên nơi phân bố có cấu trúc nhiều tầng tán và độ tàn che dày đặc, gây thiếu hụt ánh sáng nghiêm trọng khiến hạt sau khi nảy mầm không thể phát triển lên giai đoạn cây con.

5. Kích thước cá thể Sa mộc dầu lớn nhất được ghi nhận tại VQG Pù Mát là bao nhiêu?
Cá thể Sa mộc dầu lớn nhất ghi nhận tại VQG Pù Mát có đường kính ngang ngực ($D_{1.3}$) đạt trên $5,5\text{ m}$ và chiều cao vút ngọn ($H_{vn}$) đạt trên $70\text{ m}$, thuộc tầng vượt tán của rừng.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của Nguyễn Hữu Tiến (2014) đã xác lập hệ thống dữ liệu thực địa chuẩn xác về 78 cá thể Sa mộc dầu phân bố trên diện tích 7,682 ha tại VQG Pù Mát. Nghiên cứu đã làm rõ đặc điểm hình thái, cấu trúc tổ thành tầng cây cao qua 10 ô tiêu chuẩn, tính chất thổ nhưỡng và chỉ ra sự thiếu hụt hoàn toàn cây tái sinh dưới tán rừng kín. Đây là cơ sở khoa học quan trọng phục vụ công tác khoanh vùng bảo tồn nguyên vị và định hướng kỹ thuật nhân giống phục hồi loài cây lá kim nguy cấp này.