CHƯƠNG 1 TÔNG QUAN Sự gia tăng đột ngột nguồn cung cấp nông sản không rõ nguồn gốc đã day lên một hồi chuông cảnh báo về sự ảnh hưởng của rau b n, nông sản b n tác động một cách rõ rệt đến sức kh e người tiêu dùng. Việc tiêu thụ loạt thực ph m b n, rau b n dẫn đến những tác hại có thể được minh chứng qua thống kê của những vụ ngộ độc gần đây. Một số phân tích nghiên cứu, phan lớn chi rõ nguồn tác nhân chủ yếu do lượng rau không rõ xuất xứ, việc xử lý sau thu hoạch không đạt chỉ tiêu về tiêu chu n an toàn thuốc bảo vệ thực vật cũng như vi sinh vật gây hai. Tiêu thụ rau b n, thực ph m b n trở thành van nạn chung đáng lưu tâm trong xã hội ở cả nước ngoài lẫn Việt Nam, vẫn đề n m ở cả khâu quản lý lẫn khâu sản xuất và hậu xử ly.
Một cuộc cách mạng trong nền nông nghiệp Việt Nam, đó chính là sự ra đời của tiêu chu n VietGAP, khi mà tiêu chí đưa ra đặt vào trọng tâm của van dé về mặt quan ly toàn bộ quá trình từ hình thành đến thành ph m của thực ph m nói chung hay rau củ nói riêng, tạo nên một mô hình thực ph m sạch. Tuy nhiên, van dé không đơn giản như vậy, khi mà nguồn thực ph m sạch chỉ mới nhen nhóm, ma phan lớn lượng thực ph m nhiễm b n vẫn chưa được kiểm soát, n m ngoải vòng quản lý. Điều hết sức lo ngại chính là, nguén cung cấp đáng tin cậy như siêu thị, cửa hang thức ăn sạch, vẫn còn chứa nhiều nguồn thức ăn b n không kém gì bên ngoài. Minh chứng thông qua một số thống kê của bài báo.
Trước vẫn nạn đó, nhiều nhà khoa học, nghiên cứu bắt tay vào việc sàng lọc chọn lựa các quy trình trồng trọt, phương pháp xử lý rau trước và sau thu hoạch chăng hạn làm sạch rau b ng công thức thông thường, làm sạch rau b ng dung dịch, hay phát minh ra các thiết bị rửa rau thông minh, một số hướng đến cải tiến toàn bộ quy trình sản xuất rau, củ thông minh. Nhiều phương án được đưa ra nghiên cứu va th m định, tuy nhiên, hiệu quả được đo lường không đáng kể. Tóm lại, mục đích của việc đưa ra nhiều phương pháp, quy chế kiểm soát lượng thực ph mb n vẫn đánh giá là ưu tiên hơn so với tạo ra nguồn thực ph m sạch trong Đặng Quang Kỳ 1 Luận văn thạc sĩ GVHD: Trần Anh Sơn bôi cảnh mà mặt quản lý vân còn trì truệ , ý thức người sản xuât vân còn kém, người tiêu dùng vân còn phân vân về xuât xứ thực ph m. Điêu đó đáng được khuyên khích và khích lệ.1 Tim hiểu bối cảnh 1.1 Tình hình nông sản ở Việt Nam.
Việt Nam được thiên nhiên ưu đãi nên có nguồn rau quả déi dào quanh năm. Diện tích trồng rau ở nước ta là 850.000 ha, với sản lượng khoảng 15 triệu tan[1]. Năm 2014, xuất kh u rau qua của Việt Nam dat xấp xi 1,5 ty USD va dự báo s vượt mốc 2 ty USD trong 2-3 năm tới. Việt Nam đã trở thành thành viên của WTO (World Trade Organization — Tổ chức thương mại thé giới).
WTO là một thị trường lớn với 5 tỉ nguời tiêu ding, chiếm 95% giá trị thương mai thé giới, kim ngạch nhập kh u nông sản trị giá 635 tỉ USD/năm. Trong những mặt hàng nông sản xuất kh u chủ lực của Việt Nam, rau hoa quả là mặt hàng lớn nhất của sân chơi WTO với thị trường tiêu thụ thế giới khoảng 103 ti USD/năm nhưng Việt Nam mới chỉ chiếm 0,2% thị phan, một tỉ lệ quánh bé (TS. Nguyễn Quốc Vong),[2]. "Dac biệt, hiện nay chúng ta đã trở thành một trong 15 quốc gia xuất khẩu nông sản lớn trên thé giới, kim ngạch xuất khẩu đạt khoảng 30 tỷ USD/năm trong vòng suốt 5 năm qua.
Ở nông thôn, thu nhập đời sống của nông dân được cải thiện một bước rõ dệt, nông thôn mới đã và dang trở thành hiện thực với kết cau hạ tang ngày càng tiên tiễn, xã hội ngày càng hiện đại. "I3] Hiện nay, với khoảng gần 11.000 hợp tác xã, 18 liên minh hợp tác xã, 100.000 tô hợp tác hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp trên cả nước cùng 4.000 doanh nghiệp, đây là những tổ chức đại diện cho các hộ nông dân liên kết giữa các chuỗi giá trị từ cung ứng vật tư đầu vào đến quy trình sản xuất, đặc biệt ở hoạt tiêu thụ nông sản, [| 3 |. Két luận, với sự ưu đãi ve thiên nhiên như vậy s là thê mạnh cua Việt Nam trong quá trình hội nhập, đồng thời đó cũng chính là điểm bat lợi khi mà mặt khai Đặng Quang Kỳ 2 Luận văn thạc sĩ GVHD: Trần Anh Sơn thác lan quản lý của nước ta van chưa hiệu quả, cũng là điều kiện tot cho nguôn thực ph m, nông sản b n xuất hiện nếu như không kiểm soát, xử lý đúng cách.2 VietGap và tiêu chuẩn Việt Nam về rau sạch: 1.1 Khái niệm VietGap Những thách thức lớn nhất đối với hàng nông sản Việt Nam khi hội nhập tổ chức Thương mại thế giới WTO là số lượng, chất lượng, giá thành và van dé an toàn thực ph m. Bốn thách thức trên đã trở thành bốn luật chơi trên thị trường thế giới trong đó luật chơi “an toàn thực ph m” là bài toán khó nhất.
Nông sản phải có chứng chỉ “Thực hành nông nghiệp tốt - GAP” dé chứng minh với các nhà nhập kh u và người tiêu dùng trên toàn thế giới về sự an toàn và vệ sinh của sản ph m nông san của Việt Nam. Đó chính là lý do tiêu chu n an toàn vệ sinh cho nông sản đã được ban hành, gọi là tiêu chu n VietGAP[4]. Tiêu chu n VietGAP (VietGAP được viết tat từ cụm từ Vietnamese Good Agricultural Practices, tam dich là thực hành san xuat nong nghiệp tốt ở Việt Nam) nh m mục dich hướng dẫn người sản xuất nông nghiệp áp dụng những tiêu chu n nhất định nh m bảo đảm chất lượng, an toàn thực ph m, truy xuất nguôn gốc sản ph m, bảo vệ môi trường và sức kh e, an sinh xã hội cho người lao động. Khó khăn với sản ph m nông nghiệp của chúng ta hiện nay van là thị trường tiêu thụ sản ph m và khả năng cạnh tranh trong điều kiện kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế.
Một trong những yếu tố quan trọng có tính quyết định là chất lượng sản ph m. Bên cạnh việc thực hiện sản xuất theo tiêu chu n VietGAP s giúp người sản xuất từng bước nâng cao chất lượng sản ph m, vì nó kiểm tra an toản thực ph m xuyên suốt quá trình sản xuất, từ chu n bị đồng ruộng, canh tác đến thu hoạch, sau thu hoạch, bảo quản, thuốc bảo vệ thực vật, môi trường, bao bi. thì van dé sơ chế sau thu hoạch cũng đang được nhiều người quan tâm. Việc sử dụng thực ph m rau củ quả sạch va an toàn dang là một nhu cau hệt sức cân thiệt của đời sông mọi người ở Việt Nam và trên thê giới.
O Việt Nam, mặc dù Đặng Quang Kỳ 3 Luận văn thạc sĩ GVHD: Trần Anh Sơn các tiêu chu n và các quy định về sản xuất, kinh doanh rau, quả được qui định rat chặt ch , tuy nhiên, ý thức chấp hành các quy định vé sử dụng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV) và thời gian cách ly trước khi thu hoạch rau chưa tốt nên tôn dư hoá chất trong rau vẫn ở mức cao. Trước tình hình kém an toàn của thực ph m rau hiện nay, việc nghiên cứu thiết kế và chế tạo dây chuyên bán tự động sơ chế rau sạch 1a vô cùng cấp thiết.2 Tiêu chuẩn Việt Nam về rau quả tươi: Ngày 19/01/2007 Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) đã ban hành quyết định số 04/2007/QĐ-BNN về "Quy định về quan ly san xuất va chung nhận RAT" dé thực hiện chung cho cả nước. Theo đó, RAT là những sản ph m rau tươi (bao gồm tat cả các loại rau ăn: lá, thân, củ, hoa, quả, hạt, các loại nam thực ph m.) được sản xuất, thu hoạch, sơ chế, bao gói, bảo quản theo quy định kỹ thuật bảo đảm tôn dư về vi sinh vật, hóa chất độc hại dưới mức giới hạn tối đa cho ph p, [4]. Đồng thời đã có nhiều tiêu chu n về rau quả tươi được ban hành, cho thấy đây là lĩnh vực rất được quan tâm.
Một số tiêu chu n Việt Nam về rau quả tươi * QCVN 01-09:2009/BNNPTNT: Quy chu n kỹ thuật quốc gia về cơ sở chế biến rau quả - Điều kiện đảm bảo vệ sinh an toàn thực ph m. * QCVN 01-21:2010/BNNPTNT: Quy chu n kỹ thuật quốc gia về phương pháp kiểm tra củ, quả xuất nhập kh u vả quá cảnh. « QCVN 01-132:2013/BNNPTNT: Quy chu n kỹ thuật quốc gia đối với rau, quả, chè búp tươi đủ điều kiện bảo đảm an toàn thực ph m trong quá trình sản xuất, sơ chế. « TCVN 4782:1989: Rau quả tươi.
Danh mục chỉ tiêu chất lượng. ¢ TCVN 4885:2007: Rau quả. Điều kiện vật lý trong kho lạnh. Định nghĩa và ph p đo.
Hướng dẫn bảo quản và vận chuyền lạnh. Đặng Quang Kỳ 4 Luận văn thạc sĩ GVHD: Trần Anh Sơn ¢ TCVN 5001:2007: Hành tây. Hướng dẫn bảo quản.* TCVN 5005:2007: Cải bap. Hướng dẫn bảo quản và vận chuyền lạnh.
¢ TCVN 5369:1991: Rau quả. Hướng dẫn bao gói sẵn.3 Thực trang rau nhiễm ban ở Việt Nam Hiện nay, do chạy theo lợi nhuận, nhiều nơi sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật (BVTV) và khá nhiều phân hóa học để tăng năng suất, sản lượng rau xanh. Đây là nguyên nhân gây ra hai loại ô nhiễm chính trên rau, củ, quả, đó là nhiễm hóa chất và ô nhiễm sinh học, một trong những tác nhân gây ra các vụ ngộ độc do sử dụng rau quả trong những năm gân đây ở nhiêu địa phương trên cả nước. Theo thông tin từ Cục An toàn thực ph m, tình trạng sử dụng thuốc BVTV hiện nay rất đáng lo ngại.
Trong các tháng 8 và 9/2015, kết quả kiểm nghiệm do Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Nội thực hiện cho thấy, có 14/63 (22.2%) mẫu rau quả có dư lượng thuốc BVTV vượt mức giới hạn cho phép. HCM, năm 2015, trong 574 mẫu rau, quả do Chi cục Bảo vệ thực vật TP. HCM gửi phân tích định lượng về tôn dư thuốc BVTV, có 8 mau vi phạm. Chợ đầu mối Hóc Môn có 2 mẫu cải thìa nhiễm Chlorpyrifos, chợ đầu mối Bình Điền phát hiện mẫu xà lách búp nhiễm Permethrine.
Hiện nhu cầu rau của Hà Nội là 2.